MỤC LỤC...................................................................... 1
CHỮ VIẾT TẮT &
ghi chú............................................. 9
LỜI NGỎ..................................................................... 11
I. ƠN CỨU ĐỘ
CHO NGƯỜI NGOẠI.......................... 17
A.
ƠN CỨU ĐỘ 19
1.
Khả năng hành thiện 19
a.
Hoàn toàn do con người (Pélage) 19
i.
Con người hoàn toàn tự do 20
ii.
Không cần sự trợ giúp của Thiên Chúa 20
b.
Ơn nhưng không (Augustin) 21
i.
Nguyên tội 21
ii.
Tiền định 22
iii.
Ơn cứu độ của dân ngoại 25
c.
Công Đồng Carthage (418) 26
2.
Tự do và ân sủng 28
a.
Tiền định và tự do 29
b.
Con người khởi đầu, Thiên Chúa trợ giúp
(Semi-Pélagianisme) 32
c.
Công Đồng Orange (529) 33
3.
“Ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ” 34
B.
ƠN CỨU ĐỘ CHO NGƯỜI NGOÀI KITÔ GIÁO 36
1.
Lịch sử thần học 37
a.
Con người tự ḿnh có thể làm điều tốt
(Abélard, +1142) 37
b.
Con người không thể làm ǵ tốt sau nguyên tội
(Luther, +1546) 38
c.
Mọi công việc của dân ngoại đều là tội
(Baius, +1589) 41
d.
Lạc giáo Jansen (+1638) 42
e.
Tiền định 44
i.
Tiền định, ân sủng và tự do 45
ii.
Nguyên do tiền định 46
iii.
Ân sủng đủ và ân sủng hữu hiệu 47
2.
Người ngoài Kitô giáo được cứu độ
(Vatican II) 48
3.
Tương quan giữa ân sủng và tự nhiên 52
II. ÂN SỦNG CỨU ĐỘ
QUA BIỂU TƯỢNG TRONG CÁC TÔN GIÁO 63
A.
CƠ CẤU CON NGƯỜI Đ̉I DẤU CHỈ 64
1.
Luận chứng siêu h́nh 68
Dấu
chỉ 68
Biểu
tượng 69
Đa
phức diễn tả hữu thể 73
Hữu
thể có tính biểu tượng 75
2.
Luận chứng lịch sử cứu độ 78
Tương
giao qua cơ cấu khả giác 78
Mặc
khải tự nhiên 80
Mặc
khải đặc biệt trước Abraham 81
Mặc
khải cho Abraham và dân Do Thái 82
B.
ĐỨC YÊU: BÍ TÍCH CỨU ĐỘ NGUỒN 86
1.
Đức Giêsu- Đấng trung gian 86
Trung
gian mặc khải 87
Trung
gian tư tế 88
Trung
gian duy nhất 90
2.
Đức Giêsu- bí tích nguyên thủy nguồn 91
H́nh
ảnh của Thiên Chúa 92
Dấu
chỉ t́nh yêu 93
C.
GIÁO HỘI- BÍ TÍCH PHỔ QUÁT 96
1.
Giáo Hội- dấu chỉ Đức Giêsu hiện diện 96
2.
Giáo Hội- dấu chỉ t́nh yêu Thiên Chúa 98
3.
Bí tích Kitô giáo 99
a.
Từ ngữ 99
b.
Bí tích công giáo 101
i.
Do sự 103
ii.
Do sự nhờ Đức Giêsu Kitô và trong Giáo Hội 104
iii.
Phương tiện cần thiết 105
III. ÂN SỦNG QUA BIỂU
TƯỢNG TÔN GIÁO NGOÀI KITÔ GIÁO 107
A.
Tôn giáo 109
1.
Thần hiển 110
2.
Biểu tượng diễn tả kinh nghiệm tôn giáo 110
3.
Biểu tượng được hiểu trong nền
văn hóa 111
B.
Nhăn quan tiêu CỰC VỀ TÔN GIÁO NGOÀI KITÔ 112
1.
Một số giáo phụ 115
2.
Một số thần học gia 119
C.
NHĂN QUAN TÍCH CỰC: Phương tiện cứu độ 127
1.
Chứng từ Kinh Thánh 127
2.
Lịch sử thần học 129
a.
Irénée 129
b.
Clément thành Alexandria 130
c.
Bernard (1090-1153) 133
d.
Nicolas de Cusa (1401-1464) 134
e.
Romano Guardini (1885-1968) 137
f.
Đức giáo hoàng Piô XII (+1958) 138
g.
Karl Rahner (1904-1984) 139
3.
Lập trường tích cực dựa vào lịch sử cứu
độ 140
D.
Lập trường tích cực từ nhăn quan mặc khải 144
1.
Những bước lập luận 145
2.
Con người có thể tiếp nhận mặc khải 146
3.
Mặc khải có nhiều cấp độ 148
a.
Mặc khải tự nhiên 148
b.
Mặc khải cá biệt hoặc thần bí 149
c.
Mặc khải đặc biệt nơi Kitô giáo 150
4.
Có mặc khải trong các tôn giáo ngoài Kitô 150
a.
Cho Hênok 150
b.
Cho Noê 151
c.
Cho Balaam tiên tri dân ngoại 151
d.
Cho Kyrô vua dân ngoại 152
e.
Do Thái giáo 153
5.
Kết luận 155
E.
Biểu tượng- ngôn ngữ tôn giáo 157
1.
Phân loại biểu tượng 157
2.
Ngôn ngữ tôn giáo 159
a.
Diễn tả Thực tại Siêu việt 160
b.
Diễn tả kinh nghiệm với Đấng Siêu việt 161
c.
Biểu tượng và văn hóa 162
3.
Ân sủng cứu độ qua biểu tượng tôn giáo 164
IV. TƯƠNG QUAN GIỮA
CÔNG GIÁO VÀ TÔN GIÁO KHÔNG KITÔ 169
A.
ĐỨC TIN 171
1.
Tin có nhiều cấp độ 171
a.
Tin vào ngôi vị 172
b.
Tin phó thác 173
c.
Đức tin cần thiết để được cứu
độ 173
i.
Trường hợp không tin không có tội 174
ii.
Đáp trả mặc khải tự nhiên 175
2.
Biểu lộ qua việc làm 178
a.
Sống theo lương tâm 180
b.
Chọn lựa căn bản 181
i.
Được thể hiện trong cuộc sống 183
ii.
Hành vi bác aí 184
3.
Qua việc thờ phượng trong tôn giáo 186
a.
Nơi biểu tượng tôn giáo 187
b.
Đạo Phật như một ví dụ 190
c.
Vươn tới Tuyệt Đối 192
B.
BÍ TÍCH CÔNG GIÁO VÀ BIỂU TƯỢNG TÔN GIÁO NGOÀI KITÔ 195
1.
Đặc tính của bí tích Công Giáo 196
a.
Sinh ân sủng do sự (ex opere operato) 197
b.
Đức Giêsu thiết lập 198
i.
Giáo Hội đại diện Chúa Giêsu 199
ii.
Ư hướng thừa tác viên 199
2.
Ân sủng được ban qua biểu tượng tôn giáo
không Kitô 200
a.
Ơn công chính ngoài bí tích cho Kitô hữu 201
i.
Do nhân (ex opere operantis) 203
ii.
Bởi ḷng nhân hậu của Thiên Chúa (ex divina decreta eterna) 206
iii.
Dự ṭng 206
iv.
Trẻ em 207
b.
Người Do Thái giáo thời Cựu Ước và hiện
tại 208
i.
Nhờ nghi lễ biểu tượng 209
ii.
Qua biến cố biểu tượng 209
c.
Người sống trong tôn giáo ngoài Kitô 210
i.
Qua biểu tượng 210
ii.
Do chủ thể (ex opere operantis) 211
iii.
Do ư định Thiên Chúa (ex divina decreta eterna) 211
C.
LOAN BÁO TIN MỪNG 213
1.
Biểu lộ công giáo tính 213
a.
Tin Mừng đ̣i chia sẻ 214
b.
Mệnh lệnh của Chúa Giêsu phục sinh 215
c.
V́ là con đường tuyệt nhất 216
2.
Hội Nhập Văn Hóa 217
3.
Đối thoại tôn giáo 219
THAY LỜI KẾT: BIỂU
TƯỢNG, ÂN SỦNG VÀ THÁNH THẦN 223
THƯ MỤC.................................................................. 229
AG Ad
Gentes. Sắc lệnh Truyền giáo của Công Đồng
Vatican II.
Art Articulus Bài
Art. Cit. Articulo
citato Bài đă dẫn
AUG Augustinô
DS DENZINGER-SCHONMETZER,
Enchiridion Symbolorum Definitionum et Declarationum de rebus fidei et morum,
HERDER MCMLXIII
Ep Epistula Thư
ET K.
Rahner, Ecrits Théologiques
FV Coll.
FOI VIVANTE
Ibid. Ibidem Cùng vậy
LG Lumen
Gentium Hiến Chế Giáo Hội
NAe Nostra
Aetate. Tuyên ngôn của Công Đồng Vatican II về liên lạc của
Giáo Hội với các tôn giáo ngoài Kitô
op. cit. Opere
citato Sách
đă dẫn
p (pp) Trang
(các trang)
PG J.
P. MIGNE, Patrologiae cursus completus, Series graeca, PARISIIS 1857 seq.
PL J.
P. MIGNE, Patrologiae cursus completus, Series prima Latina, PARISIIS 1844 sqq.
R ROUET
DE JOURNEL, Enchiridion patristicum, HERDER MCMLXV
ST St.
Thomas, Summa Theologiae
Kư hiệu Kinh Thánh dùng theo bản
dịch của Các Giờ Kinh Phụng Vụ.
Một số trích đoạn
Kinh Thánh theo bản dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn
(D̉NG CHÚA CỨU THẾ, 1976) và một số trích đoạn
theo bản dịch của Các Giờ Kinh Phụng Vụ.
Kư hiệu của Công Đồng
Vatican II dùng theo bản tiếng Latin.
Ai trong chúng ta cũng biết
đại đa số dân tộc châu Á sống trong các tôn
giáo ngoài Kitô, như trong Ấn-độ giáo, Phật giáo,
Khổng giáo, Lăo giáo, Cao đài, Hồi giáo. Trước sự
kiện này, những Kitô hữu bản xứ có tâm huyết
và đặc biệt những nhà truyền giáo trong vùng,
thường bận tâm đặt vấn đề về:
· phần rỗi của người sống trong tôn
giáo ngoài Kitô,
· giá trị cứu độ của các tôn giáo ngoài Kitô
này.
Công Đồng Vatican II trong tuyên
ngôn về các tôn giáo ngoài Kitô, đă khuyến khích Kitô hữu
đối thoại[1]
với tín đồ các tôn giáo ngoài Kitô (NAe 2). Công Đồng
cũng minh nhiên nh́n nhận nơi tôn giáo ngoài Kitô có những
điều chân thật và thánh thiện (NAe 2).
Những người sống
trong các tôn giáo ngoài Kitô có được cứu độ
không?
Nếu được th́ những
người này được cứu độ qua
phương tiện ǵ? Các tôn giáo ngoài Kitô có là phương
tiện Thiên Chúa dùng cứu độ con người không?
Phải chăng các tôn giáo ngoài Kitô
có những “biểu tượng” Thiên Chúa dùng để ban
ân sủng cứu độ?
Trong tinh thần vâng phục Giáo
Hội, nhiều ḍng tu khuyến khích các thành viên ḍng hội
nhập văn hóa, nhằm loan báo tin mừng Đức
Giêsu một cách có kết quả hơn;[2]
sở dĩ vậy v́ con người dễ đón nhận
chân lư được diễn tả qua nền văn hóa dân
tộc ḿnh hơn.
Tác phẩm này là một cố gắng
đáp trả lời mời gọi của Giáo Hội, nhằm
đóng góp một viên đá trong công cuộc đối thoại
tôn giáo, giúp cho việc loan báo tin mừng Đức Giêsu
được dễ chấp nhận hơn nhờ loan báo
Tin Mừng qua những biểu tượng và ngôn ngữ
thích hợp với dân tộc được truyền giáo.
Đây cũng là một nỗ lực nhằm đưa ra
cách giải thích về ơn cứu độ cho người
sống trong các tôn giáo ngoài Kitô. Vấn đề này c̣n
đang được các nhà thần học tranh căi.[3]
Trong tâm t́nh kính mến cùng vâng phục Chúa Giêsu Kitô và Huấn
Quyền Giáo Hội, tác giả hoàn toàn vâng phục tất cả
những ǵ Giáo Hội phán dạy về vấn đề
này.
Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ
Thiên Chúa có ban ân sủng cứu
độ cho những người ngoài Kitô giáo không?[4]
Nếu Thiên Chúa ban ân sủng cứu độ cho những
người ngoài Kitô giáo, đặc biệt với những
người sống trong tôn giáo ngoài Kitô, th́ Ngài ban ân sủng
cứu độ cho họ qua phương tiện ǵ?
Đó là những vấn đề
gây bận tâm nhiều đối với các nhà truyền
giáo và những Kitô hữu của những nước có nền
văn hóa cổ kính mà phần đông dân tộc họ sống
trong các tôn giáo ngoài Kitô!
Để trả lời hai vấn
đề nêu trên,
· đầu tiên sẽ xét vấn đề ân
sủng cứu độ cho Kitô hữu và cả cho
người ngoài Kitô giáo;
· kế đó cho thấy Thiên Chúa ban ân sủng
cứu độ qua biểu tượng Kitô giáo:
Đức Giêsu là bí tích nguồn và Giáo Hội là bí tích
phổ quát;
· sau đó cho thấy Thiên Chúa ban ân sủng cứu
độ qua biểu tượng tôn giáo ngoài Kitô;
· và cuối cùng sẽ bàn đến tương quan
giữa biểu tượng nơi Công giáo và nơi tôn giáo
ngoài Kitô, cụ thể tương quan giữa bí tích công
giáo và biểu tượng qua đó ơn sủng
được ban trong các tôn giáo ngoài Kitô.
Được giải thoát khỏi
mọi đau khổ buồn phiền, được hạnh
phúc vĩnh cửu, là điều mọi người đều
ao ước.[5]
Kitô hữu tin rằng: con người
được Thiên Chúa tạo dựng để thông chia hạnh
phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa; nhưng con người
đă phản loạn từ chối t́nh yêu Thiên Chúa và sự
sống thần linh, do đó con người đă sống
đau khổ cả thể xác lẫn tinh thần; để
lại được sống hạnh phúc với Thiên Chúa,
con người cần được Thiên Chúa thứ tha tội
lỗi.
Như vậy, hạnh phúc
đích thực không hoàn toàn tùy thuộc tầm tay của
con người!
Sau khi phạm tội phản nghịch
chống lại Thiên Chúa, con người c̣n có thể làm những
điều tốt lành không?
Pélage (350-420) người gốc
Bretagne đă sống ở Rôma cuối thế kỷ IV và sống
ở Palestin vào đầu thế kỷ V, là đan sĩ.
Pélage và những người chia sẻ lập trường
của ông cho rằng: Adam được tạo dựng
như chúng ta hiện tại, nghĩa là khả tử ngay cả
trường hợp Adam không phạm tội. Tội của
Adam chỉ làm hại, ảnh hưởng trên Adam thôi chứ
không trên con cháu, nghĩa là chúng ta chết là chuyện “tự
nhiên” chứ không phải tại tội nguyên tổ Adam.[6]
Con người- ngay cả sau khi
Adam phạm tội- có khả năng làm lành lánh dữ mà
không cần sự trợ giúp của Thiên Chúa. Nếu phải
nói tới ân sủng th́ đó là chính hồng ân tự nhiên,
sự tự do chọn lựa, luật luân lư, gương
mẫu của Đức Kitô, giáo lư của Ngài qua sự
tha thứ tội lỗi.[7]
Ân sủng là chung cho hết mọi lương dân cũng
như cho Kitô hữu, cho người đạo đức
cũng như cho người bất chính.[8]
Nếu phải nói ân sủng đặc biệt cho Kitô hữu,
th́ đó là lời giảng dạy của Đức Kitô mà
thôi.[9]
Pélage chủ trương con
người có khả năng tránh tội và giữ các giới
răn của Thiên Chúa mà không cần sự trợ giúp đặc
biệt ǵ của Thiên Chúa ngoài những hồng ân tự
nhiên là tạo dựng, ư chí tự do, lương tâm. Như
vậy, được cứu độ hay không là do con
người hoàn toàn, do con người có muốn hay không,
không cần sự trợ giúp hay ân sủng của Thiên Chúa.
Nói theo E. Portalié, hệ thống của Pélage đặt nền
trên sự độc lập tuyệt đối của tự
do cũng như quyền năng vô hạn của tự do
để làm lành lánh dữ.[10]
Như vậy có thể nói, cứu độ không là một
ơn, nhưng là do tôi có muốn hay không mà thôi!
Thánh Augustin (354-430) giải quyết
vấn đề ơn cứu độ của con người
bằng phạm trù chỉ thực tại “nguyên tội” và
“ân sủng tiền định.”
Thiên Chúa không tạo dựng con
người trong t́nh trạng khả tử như chúng ta thấy
hiện nay; chết là hậu quả của tội; Adam và
con cháu ông chết bởi v́ Adam đă phạm tội![11]
Sau khi Adam sa ngă, tất cả con người làm thành một
tập thể bị kết án,[12]
nghĩa là tất cả đều ở trong t́nh trạng
khả tử,[13]
ư chí tự do bị suy yếu,[14]
và tất cả đều ở trong t́nh trạng tội lỗi.[15]
Nói tóm lại, sau khi Adam phạm
tội, cả ông lẫn con cháu ông đều đáng và phải
bị kết án, nghĩa là không được tham dự sự
sống với Thiên Chúa nữa! Con người cần
được Thiên Chúa cứu độ th́ mới
được hạnh phúc vĩnh cửu!
Nếu tất cả đều
đă phạm tội nơi Adam, th́ ai được cứu
độ?
Theo thánh Augustin, nếu cứ
theo lẽ công bằng th́ tất cả đều phải
sa hỏa ngục,[16]
nhưng Thiên Chúa là Đấng hay thương xót, nên từ
đời đời Ngài đă quyết định cứu
một số người được chọn khỏi
hố thẳm bằng ân sủng;[17]
c̣n những ngựi khác tự kết án ḿnh khi bỏ Thiên
Chúa.[18]
Số người được
tuyển chọn đă được xác định,[19]
không phải cứ là Kitô hữu th́ được cứu
độ[20]
dù rằng đức tin là hồng ân của Thiên Chúa.[21]
Đối với những người đă được
tiền định, họ có thể lầm lạc trong một
thời gian nào đó, nhưng không bao giờ lầm lạc
lúc cuối đời.[22]
Việc bền đỗ đến cùng này là một hồng
ân mà con người không đáng được, nhưng con
người có thể nhận được nhờ lời
cầu nguyện.[23]
Không ai trong chúng ta biết ai được cứu ai không
được cứu, v́ điều này không thuộc thẩm
quyền của chúng ta; điều chắc là việc này rất
công b́nh và chân thực chứ không do một quyền năng
mù quáng và tùy tiện.[24]
Augustin cũng cho rằng ân sủng
không được ban cho hết tất cả mọi
người, v́ nếu vậy ân sủng không c̣n tính
nhưng không nữa.[25]
Việc tiền định của Thiên Chúa cho người
này được cứu độ không hàm chứa việc
tiền định kết án người khác, nhưng
đơn thuần là họ không được chọn.[26]
Với nhăn quan về ơn cứu
độ như được tŕnh bày ở trên, thánh
Augustin kết luận: tất cả công tŕnh của dân ngoại
là tội;[27]
v́ ư chí tự do bị nô lệ tội không thể làm ǵ khác
hơn sự dữ.[28]
Ngay những trẻ em (chưa chịu phép rửa) phải
chịu đau khổ mà chết cũng không được
cứu độ, tuy nhiên các em đó cũng không bị kết
án, mà có chỗ riêng.[29]
Sở dĩ thánh nhân lập luận như vậy v́ Ngài cho
rằng, trên nguyên tắc dân ngoại thiếu ân sủng v́
không nhận biết Đức Kitô!
Tuy vậy cũng thấy thánh
Augustin khẳng định: có những hành động tốt
nơi dân ngoại;[30]
Ngài khẳng định điều này ngay cả trong cuộc
bút chiến với Pélage. Augustin cũng không cho rằng tất
cả điều tội nhân Kitô giáo làm đều xấu.[31]
Khách quan mà nói, nhăn quan của
Augustin về ơn cứu độ dành cho dân ngoại là
bi quan!
Trước hai lập trường
trái ngược nhau của Pélage và Augustin, Giáo hội có thái
độ rơ ràng qua công đồng địa phương ở
Carthage năm 418, và công đồng này đă được
Giáo Hoàng Zosimus phê chuẩn.
Công Đồng khẳng định:
· sự hiện hữu của tội nguyên tổ
nơi con người hiện tại, nên trẻ em mới
sinh cũng cần chịu phép rửa tội (DS 223);
· Adam chết là v́ tội (DS 222);
· ân sủng không những tha thứ tội lỗi
để con người được công chính mà c̣n giúp
con người tránh tội nữa (DS 225).
Công Đồng cũng kết
án:
· những người cho rằng ân sủng giúp con
người tránh tội chỉ theo nghĩa giúp con
người hiểu các giới răn mà ḿnh phải tránh
chứ không giúp chúng ta yêu và thực hành (DS 226);
· những người cho rằng ân sủng chỉ
giúp chúng ta tránh tội được dễ dàng, c̣n nếu
ân sủng không được ban th́ chúng ta cũng có
thể giữ các giới răn được tuy rằng
không dễ dàng (DS 227).[32]
Với những điều này,
chúng ta thấy Giáo Hội đă chấp nhận phần lớn
lập trường của Augustin: dùng phạm trù “tội
nguyên tổ” và “ân sủng” để hiểu vấn đề
ơn cứu độ. Cứu độ là một ơn
Thiên Chúa ban cho con người với sự ưng thuận
của con người, chứ không phải chỉ nằm
trong ư chí tự do của con người.
Công Đồng không giải quyết
vấn đề dân ngoại có được cứu
độ hay không!
Khi người ta đọc
thư của Augustin gởi cho phó tế Sixte (sẽ làm giáo
hoàng năm 432) tại tu viện Hadrumète, các tu sĩ cho rằng
nếu vậy th́ không thể bảo vệ ân sủng mà
không phủ nhận tự do.[33]
Nếu ân sủng của Thiên
Chúa có thể thay đổi ḷng người, tại sao
Thiên Chúa không ban ân sủng cho tất cả mọi người
để họ yêu Chúa và tránh khỏi bị kết án? Nếu
ân sủng của Thiên Chúa có khả năng biến đổi
con người, và nếu từ đời đời Thiên
Chúa đă tuyển chọn ai đó, th́ làm sao họ c̣n tự
do?[34]
Thánh Augustin nhấn mạnh rất
nhiều về sự siêu việt của Thiên Chúa. Thiên Chúa ở
trong chúng ta là nguồn của tất cả hữu thể,
tất cả chân lư và mọi sự tốt lành.[35]
Tất cả những sự tốt lành đều từ
Thiên Chúa, c̣n từ con người chỉ có dối trá và tội
lỗi.[36]
Thánh nhân nhấn mạnh đến sự siêu việt của
Thiên Chúa đến độ, có chỗ người ta
tưởng ngài cho rằng con người không c̣n tự do
nữa sau khi Adam phạm tội.[37]
Thực ra Augustin cho rằng ân sủng Thiên Chúa ban, không hủy
diệt nhưng trái lại đă làm kiên vững ư chí tự
do.[38]
Hơn nữa Thiên Chúa không đ̣i con người làm điều
ǵ quá sức con người, Ngài muốn con người làm
điều ḿnh có thể làm và xin điều ḿnh không có thể.[39]
Với Augustin, Thiên Chúa toàn
năng có thể ban ân sủng cho những người
được tiền định, để họ
được cứu độ; nhưng đồng thời,
cũng theo thánh Augustin, con người vẫn hoàn toàn tự
do. Sau khi Adam phạm tội, con người bị nô lệ
tội nhưng vẫn c̣n ư chí tự do lựa chọn. Tự
do đối với Augustin là yêu mến sự thiện, hài
ḷng và thỏa măn trong sự công chính, là t́nh trạng yêu Thiên
Chúa trên hết mọi sự.[40]
Nơi Thiên Chúa chỉ là hiện
tại, không có cái gọi là quá khứ hay tương lai,
chính v́ thế việc tiền định người này
được cứu độ hay người kia phải
kết án không làm mất tự do của con người.[41]
Phản ứng lại quan niệm
nhấn mạnh tính siêu việt của ân sủng Thiên Chúa
trên con người nơi thánh Augustin, cũng như để
bảo vệ sự tự do của con người mà họ
lầm tưởng rằng thánh Augustin cho rằng đă bị
mất bởi nguyên tội, những tu sĩ tại
Marseille chủ trương:
· đức tin và những việc làm tốt,
được con người khởi đầu với ư
chí tự do của ḿnh,
· rồi Thiên Chúa mới trợ giúp bằng ân
sủng của Ngài sau.
Quan niệm này được
các nhà tranh luận ở thế kỷ XVI gọi là Semi-pélagianisme.
Những người tiêu biểu cho quan niệm
Semi-pélagianisme này là Vicent de Lérins, Fauste giám mục tại
Riez; c̣n những người bảo vệ lập trường
của Augustin là Prosper d'Aquitaine, Hilaire, Fulgence giám mục tại
Ruspe và Césaire tổng giám mục tại Arles.[42]
Césaire, tổng giám mục tại
Arles đă họp với 13 giám mục khác trong một công
đồng địa phương tại Orange (529) và
đă đưa ra 25 qui phạm đức tin. Công Đồng
này đă được Đức Giáo Hoàng Bonifacius II phê
chuẩn năm 531.
Công Đồng vẫn lấy lại
quan điểm của Augustin cho rằng:
· con người chẳng có thể làm ǵ tốt
độc lập với Thiên Chúa;
· nếu con người có làm điều ǵ tốt,
th́ chính Thiên Chúa đă làm điều tốt đó nơi con
người;[43]
· khả năng nghe và đáp trả lời Chúa,
sự chuyển biến từ vô tín đến đức
tin, cũng đều là ân sủng của Thiên Chúa,
đều nhờ Thiên Chúa qua Thánh Thần của Ngài.[44]
Như vậy chúng ta thấy công
đồng không đồng quan niệm với những tu
sĩ tại Marseille cho rằng ư chí tự do con người
đi trước ân sủng của Thiên Chúa. Công Đồng
không thấy nơi lập trường của Augustin có sự
đối nghịch giữa tự do và ân sủng, giữa
tự do và tiền định được cứu độ!
Con người được cứu
độ nhờ Đức Giêsu qua Giáo Hội.
“Ngoài Giáo Hội không có ơn cứu
độ.[45]”
Mệnh đề này đă được thánh Cyprianus khẳng
định, và trong ḍng lịch sử đă trở thành khẳng
định truyền thống của Giáo Hội Công Giáo. Vấn
đề được đặt ra là: những người
không là Kitô hữu, và ngay cả những Kitô hữu không thuộc
Giáo Hội Công Giáo có được cứu độ không?
Khi khẳng định “ngoài Giáo
Hội không có ơn cứu độ,” thánh Cyprianus cũng
như giáo quyền không phải là không biết:
· Adam đă được cứu độ v́
được tha thứ tội lỗi (St 3; Kn 10:1);
· Abel dâng lễ tế làm đẹp ḷng Thiên Chúa (St 4:4);
· Henok được Thiên Chúa cất đi v́ đă
bước đi với Thiên Chúa (St 5:24);
· Noe đă được ân nghĩa trước
mặt Thiên Chúa, ông là người công chính (St 6:8-10), và
đă được Thiên Chúa cứu khỏi bị tiêu
diệt, cùng kư giao ước với ông và ḍng dơi loài
người (St 6-9);
· Menchisedek được coi là tư tế của
Thiên Chúa tối cao (St 14:18tt);
· Balaam là tiên tri của dân ngoại nhưng đă
được Thiên Chúa dùng để chúc phúc cho dân Ngài (Ds
22-24).
Những người được
nêu trên không là Kitô hữu, không thuộc về dân tộc Do
Thái, nhưng họ đă sống trong ân nghĩa của Thiên
Chúa, nghĩa là, họ được cứu độ.
Thánh Cyprianus cũng như giáo quyền
biết rơ khẳng định trong Tân ước: “Thiên Chúa
muốn cho mọi người được cứu và
được nhận biết chân lư” (1Tm 2:4). “Hăy đi khắp
thiên hạ rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo.
Ai tin cùng chịu thanh tẩy th́ sẽ được cứu
thoát, c̣n ai không tin sẽ bị án phạt” (Mc 16:15tt).
Chúng ta phải hiểu mệnh
đề “Ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ”
như thế nào?
“Ngoài Giáo Hội,” phải
chăng là những người không được rửa
tội trong Giáo Hội Công Giáo? Khoảng năm 525, Fulgence
de Ruspe cũng đă nói: “không nên nghi ngờ rằng không chỉ
những lương dân, nhưng cả các người Do
Thái, các người lạc giáo và ly giáo chết ngoài Giáo Hội
Công Giáo, đều đi vào lửa vĩnh cửu đă chuẩn
bị sẵn cho quỷ dữ và các thần của nó.”[46]
Trong qúa khứ phần lớn người ta đă hiểu
mệnh đề “Salus extra Ecclesiam non est” theo nghĩa hẹp!
Vậy phải chăng Giáo Hội Công Giáo cho rằng mọi
hành vi của dân ngoại đều là tội như Augustin
chủ trương? Và như vậy phải chăng dân ngoại
không được cứu độ?
Không có ân sủng của Thiên Chúa
con người không thể làm ǵ tốt, liệu có thể
khẳng định “dân ngoại sống không có ân sủng
của Thiên Chúa” không?[47]
Vấn đề ơn cứu
độ của Kitô hữu lẫn của dân ngoại,
được thần học sau thời thánh Augustin bàn
đến. Vấn đề này liên hệ đến những
đề tài: nguyên tội, tự do và ân sủng, tiền
định, v.v. Chúng ta tiếp tục lược sơ qua
những vấn đề này trong ḍng lịch sử để
biết rơ quan điểm của Giáo Hội về vấn
đề ơn cứu độ cho dân ngoại.
Vào thế kỷ XII, Phêrô Abélard
chủ trương “con người với ư chí tự do
đủ để làm điều tốt lành.” Ư kiến
này đă bị công đồng ở Sens và Đức Giáo
Hoàng Innocent II kết án năm 1140.[48]
Quá duy lư Abélard đă rơi vào lầm
lỗi của Pélage dù ông biết rơ lập trường của
Pélage đă bị Giáo Hội kết án. Nguyên tội đối
với chúng ta, theo Abélard, chỉ là h́nh phạt chứ không
là tội.[49]
Chúng ta nhận thấy các lập
trường đề cao ư chí tự do bị Giáo Hội kết
án đều hàm chứa ư con người muốn độc
lập với Thiên Chúa trong việc thực hành điều
tốt; nhưng không có ǵ tốt lành ngoài Thiên Chúa; độc
lập với Thiên Chúa chỉ có tội ác!
Đầu thế kỷ XVI,
Luther và sau đó những người Tin lành chủ
trương:
· ư chí tự do con người đă bị hủy
hoại bởi nguyên tội,
· con người không thể làm ǵ tốt.[50]
Công Đồng Trentô đă
đưa ra giáo lư về nguyên tội, về công chính hóa. Công
Đồng giữ lập trường truyền thống
của Giáo Hội, và kết án những người chủ
trương rằng với công việc bằng sức lực
tự nhiên của con người, hoặc bằng việc
biết luật không cần ân sủng, con người vẫn
có thể được công chính hóa trước mặt
Thiên Chúa.[51]
Đây là lập trường của Giáo Hội Công Giáo chống
lại giáo lư của Pélage và của các tu sĩ tại
Marseille ở thế kỷ V-VI đề cao tự do của
con người cách tuyệt đối. Khi kết án những
người đề cao tự do như một quyền
năng tuyệt đối, Giáo Hội không có ư khẳng
định tự do con người bị hủy hoại
hoàn toàn hoặc không c̣n tự do nữa!
Công Đồng cũng kết án
những người cho rằng con người không c̣n tự
do trước ân sủng của Thiên Chúa,[52]
nghĩa là con người không thể cưỡng lại lời
mời của Thiên Chúa ngay cả khi con người không muốn.
Qua lời kết án này chúng ta thấy Giáo Hội chủ
trương con người có tự do chống lại
Thiên Chúa và từ chối ân sủng của Ngài, nếu con
người muốn.
Công Đồng cũng kết án
những người cho rằng con người không c̣n tự
do nữa kể từ khi Adam phạm tội,[53]
hoặc những người chủ trương rằng
Thiên Chúa không chỉ làm điều tốt nơi con người
nhưng c̣n làm cả điều xấu nữa (không chỉ
cho phép nó xảy ra).[54]
Qua lời kết án này, chúng ta thấy công đồng muốn
bảo vệ giáo lư truyền thống về tiền định:
Thiên Chúa không tiền định ai xuống hỏa ngục,
hiểu như Thiên Chúa muốn họ xuống hỏa ngục!
Công Đồng cũng kết án
những người chủ trương rằng trước
khi được công chính hóa, mọi công việc dù
được làm bởi bất kỳ lư do nào (của những
người chưa được công chính hóa này) đều
là tội và bị Thiên Chúa tởm gớm.[55]
Lập trường này mới thoạt nh́n tưởng
như trái với lập trường của thánh Augustin
cho rằng mọi hành vi của dân ngoại đều là tội!
Nhưng chúng ta phải hiểu lập trường của
thánh Augustin trong giả sử “dân ngoại không có ân sủng
của Thiên Chúa.” Nếu thật sự dân ngoại không có
ân sủng của Thiên Chúa th́ lời khẳng định của
thánh nhân đúng, nhưng thực tế không như vậy
v́ Thiên Chúa vẫn có thể ban và vẫn ban ân sủng cho những
người chưa được công chính hóa và những
người chưa tin Đức Giêsu.
Ba năm sau khi kết thúc công
đồng Trentô, tức là năm 1567, Đức Giáo Hoàng
Piô V đă kết án một số mệnh đề của
Baius (1513-1589) chủ trương sai lầm về tự do
của con người và những hành vi của dân ngoại.
Baius chủ trương:
· “Tất cả mọi công việc của dân
ngoại đều là tội và các nhân đức của
hiền nhân là lỗi lầm;”[56]
· “Tự do của con người, nếu không có
sự trợ giúp của ân sủng Thiên Chúa, không thể làm
ǵ ngoài tội.”[57]
Những mệnh đề của
Baius này giống những mệnh đề của Augustin,
nhưng bầu khí của thời đại làm người
ta hiểu khác!
Mỗi người được
cứu độ hay không là tùy thuộc Thiên Chúa tiền
định, nhưng phải chăng Thiên Chúa không muốn mọi
người được cứu độ?
Dù Corneille Jansen (1585-1638) giám mục
giáo phận Ypres đă chết năm 1638 nhưng Đức
Giáo Hoàng Innocent X vẫn kết án giáo lư của Jansen[58]
trong hiến chế Cum Occasione ngày 31.05.1653.[59]
Những người chủ
trương theo giáo lư của Jansen đă gây xáo trộn trong
Giáo Hội, và Đức Giáo Hoàng Alexander VIII đă kết
án những sai lầm của phái này ngày 07.12.1690. Phái
Jansenisme chủ trương:
· Trong mọi công việc, lương dân đều
phạm tội (DS 2308);
· Tất cả những cái không bởi đức
tin Kitô siêu nhiên đều là tội (DS 2311).[60]
Năm 1713 Giáo Hoàng Clemens XI kết
án các mệnh đề của Paschasius Quesnel trong hiến
chế Unigenitus Dei Filius (DS 2400-2502). Về vấn đề
ơn cứu độ, Quesnel chủ trương:
· Ân sủng không được ban ngoài Giáo hội
(DS 2429);
· Ư muốn mà ân sủng không ưu thắng, không có
ánh sáng ǵ ngoài lầm lạc, không có sự hăng hái nào
ngoài sa ngă, không có sức mạnh nào ngoài làm tổn
thương chính ḿnh. Ư muốn có khả năng làm mọi
sự dữ nhưng không có khả năng làm sự lành nào
(DS 2439).[61]
Nh́n chung, giáo lư về ơn cứu
độ của trường phái Jansénisme rất bi quan. Họ
chủ trương Thiên Chúa chỉ cứu độ một
số ít người, và Đức Kitô cũng chỉ chết
cho một số người được chọn. Ân sủng
không được ban ngoài Giáo Hội, nghĩa là
lương dân không có ân sủng, và nếu không có ân sủng
th́ ư chí tự do chỉ là nghiêng chiều về sự tội,
và như vậy không có ơn cứu độ cho
lương dân!
Về ân sủng cứu độ
cho những người ngoài Kitô giáo, Đức Giáo Hoàng Piô
IX trong Singulari quadam ngày 09.12.1854 nói: chúng ta phải giữ
đức tin cho rằng ngoài Giáo Hội tông truyền Roma
không có ai được cứu v́ chỉ có một con tàu cứu
độ mà bất cứ ai nếu không vào th́ phải
hư mất trong nước; nhưng cũng chắc chắn
rằng những người làm việc dưới sự
vô tri bất khả ngoài tôn giáo chân thực, không có lỗi về
vấn đề này dưới con mắt của Chúa.[62]
Cuối thế kỷ XVI và sang
đầu thế kỷ XVII, vấn đề ơn cứu
độ được hàm chứa trong vấn đề
tiền định.
Chỉ những ai được
tuyển chọn và được tiền định mới
được cứu độ.
Nhưng phải chăng việc
Thiên Chúa tiền định cho người này được
cứu độ người khác không được cứu
độ là hoàn toàn theo “sở thích” của Thiên Chúa? Nếu
đúng như vậy th́ c̣n đâu:
· “Thiên Chúa là Đấng nhân từ và muốn cho
mọi người được cứu độ” (x.
1Tm 2:4);
· Tự do của con người để chống
lại ư Chúa hoặc thuận theo ư Chúa.
Nếu Thiên Chúa nhân từ và quyền
năng vô cùng, th́:
· không có hỏa ngục trong trường hợp Ngài
tiền định tất cả được cứu
độ; nhưng như vậy dường như con
người chẳng c̣n tự do!
· chẳng có hỏa ngục nếu Thiên Chúa thực
sự nhân từ!
Nếu con người có tự
do để chống lại Thiên Chúa và từ chối ân sủng
của Ngài, th́ e rằng Thiên Chúa không toàn năng và ân sủng
của Ngài không kiến hiệu!
Giả sử như Thiên Chúa toàn
năng có thể biến đổi ḷng người bằng
ân sủng của Ngài, và giả sử con người có tự
do chống lại ân sủng của Thiên Chúa hoặc thánh ư
Chúa, th́ Thiên Chúa dựa vào đâu để tiền định
cho người này được cứu độ, người
khác không? Phải chăng Thiên Chúa dựa vào công nghiệp của
mỗi người, hoặc dựa vào thái độ của
mỗi người đối với ân sủng của
Thiên Chúa mà tiền định?
· Có một lập trường cho rằng Thiên Chúa
tiền định dựa vào công nghiệp hoặc thái
độ của mỗi người đối với ân
sủng của Thiên Chúa được Ngài thấy
trước từ thuở đời đời.[63] Lập
trường này bảo vệ được sự tự
do của mọi người và sự hợp lư của
việc Thiên Chúa tiền định, nhưng không cho
thấy Thiên Chúa toàn năng qua ân sủng của Ngài!
· Một lập trường khác cho rằng Thiên Chúa
tiền định người này được cứu
độ người kia không, là hoàn toàn do ư muốn Thiên Chúa
chứ không do công trạng hoặc việc thấy
trước công trạng mỗi người.[64] Lập
trường này đề cao sự siêu việt và toàn
năng của Thiên Chúa, nhưng không cho thấy con
người c̣n tự do.
Để giải thích con người
có tự do cũng như quyền năng của ân sủng
Thiên Chúa, các thần học gia đă tạo ra những “từ”
mới, như: ân sủng đủ (grâce suffisante), ân sủng
hữu hiệu (grâce efficace)! Hai từ ngữ biểu lộ
hai lập trường quan điểm khác nhau, một khởi
từ con người và một khởi từ Thiên Chúa! Cả
hai lập trường đều không sai nhưng bổ
túc cho nhau:[65]
mỗi người được cứu độ hay
không tùy thuộc thánh ư Thiên Chúa tiền định nhưng
cũng tùy ở tự do con người có chấp nhận
ân sủng của Thiên Chúa hay không.
Ngoài Giáo Hội không có ơn cứu
độ. Đây là giáo lư truyền thống của Giáo Hội
Công Giáo, nhưng chúng ta không được hiểu mệnh
đề trên một cách tự ư, mà phải theo giáo huấn
của Giáo Hội.
Trong thư gởi Tổng Giám mục
Boston, Thánh Bộ với sự đồng ư của Giáo
Hoàng Piô XII, đă phủ nhận lập trường cho rằng,
những người không Công giáo- trừ những người
dự ṭng có ư rơ ràng gia nhập Giáo Hội Công Giáo- không
được ơn cứu độ.[66]
Công Đồng Vatican II trong hiến
chế Giáo Hội (Lumen Gentium) số 16 đă giải quyết
dứt khoát và rơ ràng vấn đề ơn cứu độ
cho những người ngoài Kitô giáo:
“Sau cùng, những ai chưa lănh nhận
Phúc âm cũng được an bài bằng nhiều cách
để thuộc về dân Thiên Chúa. Trước tiên phải
kể dân tộc đă lănh lời hứa và giao ước,
mà bởi dân ấy, Chúa Kitô đă sinh ra theo thể xác (x. Rm 9:5).
Họ là dân rất được yêu quư, bởi đă
được tuyển chọn v́ cha ông họ: Thiên Chúa
đă không ân hận ǵ v́ đă ban ơn và kêu gọi họ
(x. Rm 11:28-29). Nhưng kế hoạch cứu độ
cũng c̣n bao hàm những ai nhận biết Đấng Tạo
Hóa: trước tiên phải kể người Hồi giáo,
họ xưng rằng họ giữ đức tin của
Abraham; cùng với chúng ta họ thờ phượng Thiên
Chúa duy nhất, nhân từ, Đấng sẽ phán xét loài
người trong ngày sau hết. Và những kẻ đang
t́m kiếm Chúa trong bóng tối và qua ngẫu tượng,
Thiên Chúa mà họ không biết, cả những kẻ ấy,
Ngài cũng không xa họ, bởi v́ chính Ngài ban cho mọi
người sự sống, hơi thở và tất cả
mọi sự (x. Cv 17:25-28). Và v́ là Đấng Cứu Thế
Ngài muốn mọi người đều được
cứu rỗi (x. 1Tm 2:4). Thực vậy những kẻ vô
t́nh không nhận biết Phúc âm của Chúa Kitô và Giáo Hội
Người, nhưng nếu thành tâm t́m kiếm Thiên Chúa
trong công việc ḿnh theo sự hướng dẫn của
lương tâm th́ họ có thể được cứu rỗi.
Cả những kẻ vô t́nh chưa nhận biết Thiên
Chúa cách rơ ràng, nhưng nhờ ơn Chúa cố gắng sống
đời chính trực, th́ Chúa Quan Pḥng không từ chối
ban ơn trợ giúp cần thiết để họ
được cứu rỗi. Thực vậy Giáo Hội
xem những ǵ là chân thiện nơi ho, như để chuẩn
bị họ lănh nhận Phúc âm, và như một ân huệ
mà Đấng soi sáng mọi người ban cho hầu cuối
cùng họ được sống. Nhưng thường con
người bị ma quỷ gạt gẫm, làm sai lạc
phán đoán của ḿnh khiến họ đánh đổi
chân lư Thiên Chúa lấy sự giả dối, khiến họ
phụng sự tạo vật hơn là phụng sự
Đấng Tạo Hóa (x. Rm 1:21.25); hoặc v́ họ sống
chết như không có Thiên Chúa trên đời này, nên liều
ḿnh rơi vào sự thất vọng tột độ. V́ hằng
quan tâm làm vinh danh Thiên Chúa, và cứu rỗi tất cả những
người ấy và hằng nhớ lời Chúa truyền:
“Hăy rao giảng Phúc âm cho mọi tạo vật” (Mc 16:15), nên
Giáo Hội tận tâm lo lắng và cổ vơ việc truyền
giáo.”
Trong số được trích dẫn
trên của hiến chế về Giáo Hội, Công Đồng
có cái nh́n rất thoáng về từ ngữ “thuộc về
Giáo Hội:” không những anh em ly khai mà cả những
người sống trong tôn giáo ngoài Kitô, những người
vô thần[67]
cũng có thể được kể như “thuộc về
Giáo Hội.” Với quan niệm này của Công Đồng,
thành ngữ “ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ”
đă được giải thích dứt khoát và mở ra
cái nh́n lạc quan về ơn cứu độ.
Có thể nói vấn đề
“ơn cứu độ cho những người ngoài Kitô
giáo” là vấn đề “ngoài Giáo Hội không có ơn cứu
độ,” cho nên lịch sử thần học về vấn
đề ơn cứu độ cho dân ngoại là lịch
sử giải thích thành ngữ “ngoài Giáo Hội không có
ơn cứu độ.” Vấn đề này liên hệ
đến những vấn đề ân sủng, tội
nguyên tổ, và bí tích- xét như những phương thế
giao ḥa con người với Thiên Chúa và xóa tội nguyên tổ
cũng như tội riêng.
Tín điều tội nguyên tổ
là một yếu tố giải thích thành ngữ “ngoài Giáo Hội
không có ơn cứu độ.” Nhưng phải chăng tất
cả mọi người chấp nhận nguyên tội
đều có cái nh́n bi quan về ơn cứu độ cho
lương dân như Fulgence de Ruspe, như Luther và phần lớn
anh em Tin lành, như C. Jansen và những người thuộc
quan điểm Jansénisme, và như Léonard Feeney ở thế kỷ
XX này? Lịch sử thần học cho thấy không như
vậy.
Theo thiển ư, có nhiều sai lầm
trong vấn đề này v́ người ta đă đặt
vấn đề không khéo. Người ta thường
đặt vấn đề: “Không có ân sủng con người
có thể làm ǵ?” “Không có ân sủng, con người có thể
làm những hành vi tốt để được cứu
độ không?” Dù rằng đặt vấn đề
như vậy người ta vẫn có thể trả lời
được và vẫn có thể trả lời đúng,
nhưng thực tế có khi nào con người sống mà
không có ân sủng của Thiên Chúa đâu! Ngày nay các thần học
gia thường đặt vấn đề “tương
quan giữa ân sủng và tự nhiên” để giải quyết
vấn đề nguyên tội, nguyên sủng, ân sủng, và
vấn đề ơn cứu độ cho những
người ngoài Kitô giáo.
Thánh Augustin đă từng chủ
trương ân sủng không được ban cho tất cả
mọi người.[68]
Nhưng nếu ân sủng không được ban cho tất
cả mọi người, th́ số phận của những
người không có ân sủng sẽ ra sao, đặc biệt
những người sống ngoài Kitô giáo?[69]
Từ quan điểm này phát sinh vấn đề: không có
ân sủng người ta có thể làm ǵ và không thể làm
ǵ? Cách đặt vấn đề như vậy tồn tại
trong suốt ḍng lịch sử thần học cho tới
ngày nay.[70]
Cách đặt vấn đề
“không ân sủng con người có thể làm ǵ và không thể
làm ǵ” phản ánh quan niệm về con người:
· Đầu tiên Thiên Chúa tạo dựng con
người trong t́nh trạng thuần túy tự nhiên (pura
natura);
· và rồi Ngài ban ân sủng cho con người: ân
sủng thánh hóa và các ơn ngoại nhiên;
· Adam và Eva phạm tội, con người mất ân
sủng thánh hóa và ơn sủng ngoại nhiên;
· con người ở trong t́nh trạng tội do
tội nguyên tổ.
Sau khi Adam phạm tội, con
người sống trong t́nh trạng không ân sủng, nói
cách khác, trong t́nh trạng “tự nhiên,” hay đúng hơn t́nh
trạng “tự nhiên sa đọa.” Để có thể
được cứu độ và có thể làm những
hành vi cứu rỗi, con người phải sống trong
t́nh trạng ân sủng được ban lại nhờ tin
vào Đức Giêsu Kitô và chịu phép rửa trong Giáo Hội
Người. Đối với những người không sống
trong t́nh trạng ân sủng, họ có được cứu
độ không? Họ có thể làm những hành vi cứu
độ không? Với nhăn quan này, ơn cứu độ của
dân ngoại thật mong manh và bi quan! Cái nh́n này đă tồn
tại lâu dài và ưu thắng trong lịch sử thần học.
Thời Trung cổ, thánh
Bonaventura (1221-1274) đă đưa ra lư thuyết hai con
đường cứu độ: một qua bí tích và một
không qua bí tích, nhưng phần lớn được áp dụng
cho Kitô hữu.
Hồng y Nicola de Cusa (1401-1464)
cũng chủ trương những người ngoại
được cứu độ và những tôn giáo ngoài Kitô
cũng là những phương tiện Thiên Chúa dùng để
cứu độ dân ngoại.[71]
Nhưng quan điểm này không ảnh hưởng ngay trên
nền thần học thời bấy giờ.
Nói chung, quan điểm “tự
nhiên thuần túy- ân sủng thêm vào cho tự nhiên- trở lại
t́nh trạng tự nhiên không ân sủng” đă ảnh hưởng
quá sâu vào thần học kể từ thánh Augustin, và đă
chi phối quan niệm ơn cứu độ cho
lương dân. Quan điểm về con người
như trên khó cho ta cái nh́n đúng đắn và chính xác về
ơn cứu độ của những người ngoài Kitô
giáo.
Vào đầu thế kỷ này
Ripalda cho rằng, con người được tạo dựng
hướng về trật tự siêu nhiên, thế nên mọi
hành vi của con người đều có thể mang ơn
cứu độ hay đúng hơn đều có tính cứu
độ.[72]
Đặc biệt với K. Rahner
(1904-1984), cái nh́n nhân học của ngài giúp hiểu rơ và hiểu
chính xác hơn quan điểm của Giáo Hội về
ơn cứu độ cho những người ngoài Kitô
giáo. Karl Rahner lấy lại tư tưởng của J.
Maréchal cho rằng con người có ước muốn tự
nhiên hưởng kiến hạnh phúc. Ước muốn
này tuy bị điều kiện hóa nhưng vẫn là một
khao khát tuyệt đối. Ước muốn hưởng
kiến hạnh phúc này, được gọi là tự
nhiên v́ nếu con người cố ư gạt bỏ nó, con
người sẽ không đạt được sự
triển nở toàn vẹn và hạnh phúc.[73]
Con người là thể xác và
tinh thần, là tinh thần nhập thể, là hữu thể
cho Thiên Chúa, nghĩa là con người có khả năng
đáp trả lời mời của Thiên Chúa; và tùy mức
độ con người đáp trả lời mời gọi
của Thiên Chúa con người trở nên hoàn toàn hơn, hạnh
phúc hơn, triển nở trọn vẹn hơn. Hiểu
như vậy, chương tŕnh tạo dựng con người
và tạo dựng con người để con người
được hưởng hạnh phúc với Thiên Chúa, là
một chương tŕnh liên tục nơi Thiên Chúa; không phải
đầu tiên con người được tạo dựng
trong t́nh trạng thuần túy tự nhiên (pura natura), sau
đó mới được nâng lên t́nh trạng siêu nhiên
(surnatura). Thiên Chúa tạo dựng con người, là để
con người được hưởng sự sống
của Thiên Chúa. Thiên Chúa tạo dựng con người giống
h́nh ảnh Thiên Chúa ngay từ lúc tạo dựng con người,
chứ không phải Ngài tạo dựng con người giống
cái ǵ khác, trước khi giống h́nh ảnh Thiên Chúa.
Khái niệm “thuần túy tự
nhiên” chỉ xuất hiện vào thế kỷ XVI sau cuộc
tranh luận với Baius. Nơi thánh Thomas người ta
cũng thấy tư tưởng cho rằng Thiên Chúa có thể
không ban tính bất tử, t́nh trạng an b́nh và ơn hưởng
kiến cho con người; nhưng chỉ ở thế kỷ
XVI người ta mới nói một cách rơ ràng: trên nguyên tắc
Thiên Chúa có thể tạo dựng con người mà không cho
con người được hưởng kiến Thiên
Chúa.[74]
Con người thuần túy tự
nhiên là một giả sử không có thực. Nói theo P.
Schoonenberg, cách nói “con người trong t́nh trạng thuần
túy tự nhiên,” chỉ cho thấy rơ tính nhưng không của
ân sủng, cũng tương tự như cách nói “không ân sủng
của Thiên Chúa con người có thể làm ǵ?”[75]
Con người hiện tại luôn luôn sống trong lời
mời gọi thông chia sự sống với Thiên Chúa, không
bao giờ con người hiện tại sống trong t́nh
trạng con người thuần túy tự nhiên. Nhưng
t́nh trạng con người hiện tại cũng không “tự
nhiên,” mà đă là ân sủng, nghĩa là được ban
“nhưng không” cho con người. Khi nói con người ở
trong t́nh trạng thuần túy tự nhiên, hay trên nguyên tắc
có thể ở trong t́nh trạng thuần túy tự nhiên, cho
thấy “con người được gọi chia sẻ sự
sống của Thiên Chúa” là một hồng ân, chứ không có
nghĩa “Thiên Chúa phải ban sự sống vĩnh cửu
cho con người.”
Ân sủng là t́nh yêu của Thiên
Chúa đối với con người được biểu
lộ qua việc:
· tạo dựng và mời gọi con người
thông chia sự sống của Thiên Chúa;
· ban những đặc ân cho con người trong
những hoàn cảnh cụ thể;
· tha thứ và giao ḥa khi con người phản
bội;
· ban Con Một Ngài là Đức Giêsu cùng với Thánh
Thần, làm con người trở nên dễ thương,
dễ yêu và “đầy ơn phước.”
Nếu con người được
tạo dựng do t́nh yêu và cho t́nh yêu, th́ làm ǵ có trường
hợp một ai đó sống ngoài ân sủng của Thiên
Chúa? Như vậy, chúng ta không nên đặt vấn đề
“không có ân sủng, con người có thể làm ǵ và không thể
làm ǵ?” cũng không nên nói “con người trong t́nh trạng
thuần túy tự nhiên” v́ thực tế không có như vậy;
và nếu chúng ta đề cập vấn đề như
vậy, chúng ta phải hiểu đây chỉ là giả thiết;
và khi đặt vấn đề như vậy, chúng ta có ư
làm nổi bật tính “nhưng không” của t́nh yêu và ân sủng
Thiên Chúa đối với con người.
Nếu con người được
tạo dựng v́ t́nh yêu và cho t́nh yêu, nghĩa là để
thông chia sự sống vĩnh cửu với Thiên Chúa, để
hưởng kiến Thiên Chúa- th́ ơn cứu độ là
chuyện trong tầm tay của mỗi người, v́
đó là điều Thiên Chúa muốn: “Thiên Chúa muốn mọi
người được cứu và nhận biết chân
lư” (1Tm 2:4). Thiên Chúa muốn; và Ngài toàn năng cùng rất mực
khôn ngoan để thực hiện ư định và
chương tŕnh cứu độ của Ngài; nên nếu ai
không từ chối lời mời gọi của Ngài đều
được cứu độ. Hiểu như vậy,
ơn cứu độ được ban cho tất cả
mọi người kể cả những người
đang sống ngoài Kitô giáo, v́ thực sự họ vẫn
thuộc về Hội Thánh của Đức Giêsu Kitô một
cách nào đó, nếu họ tin vào chân lư và thể hiện niềm
tin này bằng chính cuộc sống của họ, khi họ
sống cho chân lư, cho t́nh yêu.
Trong thần học người
ta phân biệt ân sủng bất tạo và ân sủng thụ
tạo; ân sủng thụ tạo lại được
phân ra thường sủng[76]
và hiện sủng; hiện sủng c̣n được phân
ra ân sủng đủ, ân sủng kiến hiệu, ân sủng
trợ giúp, ân sủng chữa trị v.v. Nhưng tất cả
mọi ân sủng dù là ân sủng này hay đặc sủng
kia, ân sủng trợ giúp hay chữa trị, ân sủng kiến
hiệu hay đủ, v.v., tất cả đều hướng
tới ơn cứu độ; nghĩa là làm cho chúng ta
được làm con Thiên Chúa, được sống trong
t́nh yêu của Thiên Chúa, được hạnh phúc vĩnh cửu
với Thiên Chúa.
Có thể nói lịch sử đời
người là lịch sử t́nh yêu và ân sủng của
Thiên Chúa đối với con người; nói cách khác lịch
sử mỗi người là lịch sử Thiên Chúa cứu
độ người đó. Mọi biến cố xảy
ra trong cuộc đời đều là biến cố t́nh
yêu, ân sủng, cứu độ. Chỉ khi nào con người,
dù là Kitô hữu hay lương dân, cố t́nh từ khước
t́nh yêu và ân sủng của Thiên Chúa, con người mới
bị kết án mà thôi!
Thiên Chúa vui ḷng ban ân sủng cứu
độ cho tất cả mọi người, kể cả
những người không mang danh Kitô hữu. Đây là chân
lư đă được lịch sử thần học soi
sáng, các suy tư thần học và huấn quyền Giáo Hội
trong mọi thời đại và đặc biệt trong thế
kỷ XX khẳng định. Vấn đề c̣n lại
là: đâu là phương tiện Thiên Chúa dùng để ban
ân sủng cứu độ cho những người sống
không mang danh Kitô hữu. Chúng ta sẽ bàn vấn đề
này trong những trang tiếp theo.
Kitô hữu tin rằng các bí tích Kitô
giáo là phương tiện Thiên Chúa dùng ban ân sủng công
chính hóa, ân sủng cứu độ. Vậy những
người không sống trong Kitô giáo, qua phương tiện
nào họ nhận lănh ân sủng cứu độ?
Trong phần này chúng ta sẽ lần
lượt đề cập đến:
· cơ cấu con người đ̣i dấu chỉ;
· Đức Giêsu dấu chỉ cứu độ
nguồn;
· Thiên Chúa dùng những dấu chỉ hay biểu
tượng trong các tôn giáo ngoại để ban ân sủng
cho những người sống trong các tôn giáo đó.
Con người chỉ triển
nở khi sống với tha nhân.
Trong tương giao với
người khác, con người diễn tả tâm tư
t́nh cảm, nguyện vọng, ao ước khao khát của
ḿnh cũng như của người khác qua trung gian dấu
chỉ. Mọi hành vi: nói, viết, vẽ, điêu khắc,
chơi âm nhạc, khiêu vũ, kịch câm, nheo mắt,
giơ tay, siết tay, cười, nh́n cách này hay cách khác, và
ngay cả thinh lặng, hoặc nghiêm nét mặt, v.v.,
cũng đều diễn tả tâm tư t́nh cảm, thái
độ của con người.[77]
Qua hành vi và cách thức diễn tả của họ, chúng ta
có thể hiểu về người đó, về vũ trụ
quan và cả về Thiên Chúa quan của họ nữa.
Con người là tinh thần nhập
thể, là hồn và xác. Trong điều kiện tại thế,
không có thân xác, không thể là người trọn vẹn.
Để diễn tả con người của ḿnh, con
người phải diễn tả bằng thân xác và qua
“thân xác.” Trong ư nghĩa này, chúng ta có thể nói: cơ cấu
con người đ̣i dấu chỉ. Tính “dấu chỉ”
thuộc bản chất con người tại thế, thuộc
yếu tính, chứ không chỉ là tùy phụ.
Con người là hồn và xác.
Con người tiếp xúc gặp gỡ tha nhân qua những
biểu lộ của thân xác: cử chỉ, hành động.
Ngay chính Thiên Chúa, Đấng tạo nên con người, khi
gặp gỡ con người, cũng thường gặp
gỡ họ qua thân xác hoặc qua những dấu chỉ
khả giác mà con người có thể tiếp nhận
được.[78]
L. Monden nói rất mạnh: “cái thiêng liêng chỉ có thể
đến với con người qua cái khả giác.”[79]
Mọi tiếp xúc giữa Thiên Chúa và con người
được thực hiện nhờ các biểu tượng.
Biểu tượng giúp con người vượt qua khoảng
cách vô tận phân cách cái hoàn toàn tinh thần và cái không bao giờ
hoàn toàn rời lănh vực khả giác.
Con người muốn biết
Thiên Chúa, muốn đạt đến Ngài bằng lời
cầu nguyện hay lễ vật, muốn loan báo Ngài cho những
người khác, v.v., con người luôn luôn phải trở
về với những h́nh ảnh tương tự. C̣n
chính Thiên Chúa th́ Ngài diễn tả Ngài và làm cho con người
nhận biết Ngài qua việc tạo dựng và bằng
chính tạo thành khả thụ đối với giác quan.[80]
Với K. Rahner, con người
ngay trong cái thâm sâu nhất của những hành vi thiêng liêng
cũng luôn luôn hành xử như một hữu thể là
thân xác và linh hồn, đến độ những hành vi
thiêng liêng nhất cũng luôn luôn bén rễ trong thân xác tính.
Nói một cách thô thiển hơn, vẫn theo ngôn từ của
K. Rahner, ngay cả chuyển động cao thượng nhất
của t́nh yêu siêu nhiên nhất đối với Thiên Chúa
trong tận thâm sâu của ngôi vị thiêng liêng cũng liên hệ
với tiến tŕnh điện vật lư của bộ năo.
Tiến tŕnh này thuộc lănh vực vật chất, mỗi
yếu tố đều phụ thuộc vào những yếu
tố khác và góp phần vào việc xác định những
yếu tố và biến chuyển ấy.[81]
Như vậy, ân sủng của Thiên Chúa cũng luôn luôn mang
tính nhập thể.
Ân sủng là hành vi t́nh yêu của
Thiên Chúa đối với con người. Cũng như
thân xác là hiện thể và cách thế biểu lộ của
linh hồn trong không gian và thời gian và như vậy trong
lịch sử, th́ ân sủng cũng t́m thấy cách diễn
tả thân xác tính trong mỗi hành vi ân sủng. Hiểu
như vậy tất cả ân sủng siêu nhiên trong hiện
thể đều có khía cạnh nhập thể và lịch
sử: chính trong khía cạnh nhập thể và lịch sử
này mà ân sủng làm cho ḿnh hiện diện và tỏ lộ.
Tóm lại ân sủng có cơ cấu gần như bí tích
trong trật tự hiện tại.[82]
Đi thêm một bước nữa,
K. Rahner cho rằng, ân sủng và đặc biệt ân sủng
của Đức Kitô- xét như cuộc gặp gỡ giữa
Thiên Chúa và con người- mang cơ cấu xă hội, bởi
v́ ân sủng của Đức Kitô được mang xuống
cho toàn thể nhân loại xét như một cộng đoàn,
và nó đạt đến từng cá nhân xét như cá nhân là
phần tử của cộng đoàn, và nguời được
thánh hóa cùng người thánh hóa đều từ một chủng
tộc.[83]
Với cái nh́n tổng quát chúng ta
thấy rằng: ư kiến chung của các thần học
gia mọi thời đều cho rằng con người cần
dấu chỉ để diễn đạt, lănh hội và
tương giao với con người và với cả thế
giới vô h́nh nữa. Các ư kiến này bắt nguồn từ
kinh nghiệm sống và những suy tư trên chính con người:
con người là hồn và xác. Chính Thiên Chúa- Đấng tạo
dựng nên con người là hồn và xác- khi Ngài tiếp
xúc và thông hiệp với con nguời, Ngài vẫn tôn trọng
cơ cấu con người: Ngài tiếp xúc với con
người với cả thể xác lẫn linh hồn qua
các dấu chỉ khả giác.
Nhằm thấy rơ hơn cơ cấu
con người đ̣i dấu chỉ, chúng ta sẽ đi
t́m luận chứng dựa trên hữu thể học và trên
lịch sử cứu độ.
Trước tiên chúng ta xác định
rơ hơn về ư niệm dấu chỉ, biểu tượng.
Dấu chỉ- tiếng Latin là
signum, và tiếng Hylạp là shmeion:
· P. Foulquié định nghĩa: (dấu chỉ là) cái
cho phép phán đoán hay thấy trước hoặc biết
trước cái ǵ đó, hoặc, cái tiêu biểu hay hành
động khả giác cho biết ư tưởng hoặc
tỏ lộ điều ao ước.[84]
· L. Leahy định nghĩa cách đơn sơ
hơn: “gọi là dấu chỉ mọi thực tại
khả giác mang ư nghĩa.”[85]
Một số người cho rằng
dấu chỉ thuộc về sự vật, và sự vật
nội tại nơi dấu chỉ, tuy nhiên sự vật
và dấu chỉ không cùng hiện hữu và trùng khít nhau cách
hoàn toàn và chính xác.[86]
L. Leahy cho rằng dấu chỉ
được cấu thành trong cơ cấu nội tại
bởi một yếu tố khả giác và một ư
nghĩa, bởi một yếu tố khả giác và một
yếu tố siêu khả giác là ư nghĩa; ư nghĩa này làm một
với cái khả giác nhưng xác định và vượt
trên cái khả giác.[87]
Biểu tượng, đôi khi
được gọi là biểu hiệu, dấu hiệu.
· A. Drexel định nghĩa: biểu tượng là
dấu chỉ của một vật ǵ đó, chẳng
hạn trái tim là biểu tượng của t́nh yêu.[88]
· L. Leahy cho rằng: biểu tượng là một
dấu chỉ loại suy mà ư nghĩa đầu tiên th́ rơ
ràng, nhưng ư nghĩa thứ hai cần được
giải thích th́ mới rơ.[89]
Chẳng hạn chữ phép rửa (baptême): nghĩa
đầu tiên là d́m xuống nước, và nghĩa thứ
hai biểu hiệu cái chết và phục sinh của Kitô
hữu được tham dự cái chết và sự
phục sinh của Đức Kitô.
· Với A-M. Roguet, biểu tượng là một
hữu thể cụ thể có thực, là một bản
chất tự nó có giá trị, nhưng được tháp
nhập vào nó một tương quan chỉ một khách
thể hoàn toàn khác; nói cách khác biểu tượng là
một dấu chỉ khả giác một dấu chỉ suy
lư.[90] Cũng
theo A-M. Rouguet, sự phân biệt giữa dấu chỉ và
biểu tượng không hoàn toàn rơ ràng.[91]
· Theo lời đầu của quyển Symbole trong
Recherches et débats, biểu tượng đầu tiên không là
một sự vật nhưng là dấu chỉ của
sự vật được diễn dịch cách trừu
tượng hoặc giả tưởng trong một
trật tự khác trật tự của nó. Chẳng
hạn cái vô h́nh, cái ở xa, cái thiêng liêng được
chỉ thị nghĩa là được loan báo và tỏ
lộ trong những biểu tượng khả giác, gần
gũi, được tưởng tượng và có
thể tưởng tượng h́nh dung được,
như vậy tư tưởng được biểu
thị bởi ngôn ngữ, linh hồn được
biểu thị bởi thân xác nhưng tư tưởng
không là ngôn ngữ và hồn cũng không là xác.[92]
· Ernst Cassirer cho rằng không thể giản
lược biểu tượng vào dấu chỉ v́
dấu chỉ và biểu tượng thuộc hai thế
giới khác nhau: dấu chỉ thuộc thế giới
vật lư, c̣n biểu tượng thuộc thế giới
nhân linh.[93]
Biểu tượng là thế giới của con
người, chứ loài vật không biết đến
biểu tượng.[94]
V́ những bất đồng của
các tác giả về việc xác định đâu là dấu
chỉ và đâu là biểu tượng, các tác giả hay
đúng hơn những người chịu trách nhiệm ra
số Symbole trong Recherches et Débats (1959) đă đề nghị
dành riêng chữ biểu tượng cho những dấu chỉ
mà bản chất bí ẩn của những cái được
chỉ chống lại những phân tích rời rạc, chẳng
hạn như thần thoại, ẩn dụ thi ca, cử
chỉ và lời thánh. Và như vậy không dùng từ biểu
tượng để chỉ những dấu chỉ nhân tạo,
và những cái mà dấu chỉ và cái được chỉ
chỉ có tương quan ngoại diện hoặc do thói
quen hoặc do quy ước.[95]
Như vậy biểu tượng là dấu chỉ mà cái
được chỉ thuộc về một trật tự
khác, chẳng hạn cái vô h́nh, thiêng liêng. Nếu chấp nhận
đề nghị này, tất cả bí tích Kitô giáo đều
là biểu tượng, nhưng c̣n hơn biểu tượng
nữa; nói theo ngôn từ của K. Rahner th́ các bí tích là những
biểu tượng thực! Nhưng một điều
chúng ta phải biết; không phải mọi người
đều chấp nhận điều này, và như vậy,
có những tác giả dùng từ “dấu chỉ” mà những
tác giả khác lại dùng từ “biểu tượng”
nhưng cả hai đều là một thực tại!
K. Rahner cho rằng hữu thể
tự ḿnh thiết yếu có tính biểu tượng v́ hữu
thể thiết yếu phải tự diễn tả để
t́m được yếu tính của ḿnh.[96]
Thực vậy, hữu thể có tính đơn nhất và
đa phức, trong tính đơn nhất này, đa phức
diễn tả hữu thể.
Thường trong khoa hữu thể
học, người ta cho rằng tính đa phức là đặc
tính của hữu thể hữu hạn; nhưng với
tính đơn nhất của Thiên Chúa, chúng ta vẫn thấy
sự phân biệt thực các ngôi vị- dù rằng chỉ
là sự phân biệt tương quan- và như vậy dưới
khía cạnh nào đó vẫn có tính đa phức nơi Thiên
Chúa, nghĩa là nơi hữu thể trọn vẹn tṛn
đầy[97]
vẫn có tính đa phức.
Như vậy chúng ta thấy tính
đa phức của hữu thể không là một giới
hạn của hữu thể nhưng ngược lại-
với gương mẫu của Ba ngôi Thiên Chúa- tính
đơn nhất của hữu thể được thể
hiện tṛn đầy trong yếu tố đa phức. Những
yếu tố đa phức của hữu thể có sự
tương hợp sâu xa với nhau trong tính đơn nhất
của hữu thể, bởi v́ chúng liên kết với nhau
nhờ tính đơn nhất này.[98]
Hữu thể được
nói là đơn nhất không phải do nhiều yếu tố
đa phức nơi hữu thể được đặt
cạnh bên nhau, nhưng do chính cái một nguyên thủy liên kết
tất cả những yếu tố đa phức
“tương hợp” với nhau, diễn tả nhau, bởi
v́ tất cả chúng cùng được liên kết trong cái
một, tính đơn nhất của hữu thể.
Hiểu sự tương hợp
của những yếu tố đa phức trong hữu thể
như là biểu tượng của nhau và của chính hữu
thể, chúng ta có thể đi đến kết luận: hữu
thể có tính biểu tượng do chính nó, bởi v́ nó thiết
yếu diễn tả chính ḿnh.[99]
Ta có thể tóm những lư luận
trên như sau: đa phức đến từ đơn nhất
như sự thống nhất uyên nguyên- xét như hữu thể
tự biểu lộ trong đơn nhất tính- hoàn thành hữu
thể; đa phức xét như đến từ
đơn nhất uyên nguyên, tương hợp với nhau
cách nào đó và biểu lộ hữu thể. Như vậy
hữu thể- với tính đơn nhất và đa phức-
có tính biểu tượng, v́ hữu thể- với tư
cách là hữu thể- phải diễn tả và hoàn thành chính
ḿnh!
Hữu thể là một phạm
trù dị nghĩa. Nó không hoàn toàn giống nhau. Hữu thể
có những mức độ hiện hữu khác nhau tùy mức
độ phản tỉnh trên chính nó. Nói cách khác, hữu thể
nhận biết và được nhận biết tùy mức
độ hữu thể thể hiện (in tantum est ens
cognoscens et cognitum in quantum est ens actu). Trong mức độ
hữu thể có và thể hiện hữu thể của
ḿnh, hữu thể có tính “biểu tượng” đối
với chính ḿnh. Nghĩa là hữu thể diễn tả và
phản tỉnh trở về trên chính nó.
Như vậy tính “biểu tượng”
không chỉ được quan niệm như sự
tương hợp giữa hai hữu thể khác nhau do một
quan sát viên thứ ba khẳng định có sự
tương hợp giữa hai hữu thể, nhưng
đúng hơn tính biểu tượng nơi hữu thể
chủ yếu hệ tại hữu thể trở thành khác
ḿnh nhưng vẫn là ḿnh trong sự nhận thức và t́nh
yêu. Sự diễn tả ḿnh- và là cái tính biểu tượng
của hữu thể diễn tả ḿnh- là một cách nhận
biết về chính ḿnh, khám phá ra ḿnh.[100]
Bây giờ xét đến một
hữu thể được nhận biết bởi một
chủ thể khác. Việc một chủ thể nhận
biết một hữu thể khác, không chỉ hệ tại
nơi chủ thể nhận biết, nhưng c̣n hệ tại
nơi hữu thể được nhận biết nữa:
ens est cognitum et cognoscibile in quantum ipsum est actu. Nghĩa là hữu
thể được nhận biết bởi v́ nó có tính biểu
hiệu không chỉ đối với nó nhưng c̣n đối
với hữu thể khác nữa.[101]
Đến đây chúng ta có thể
nói: biểu hiệu thực, là sự hoàn thành chính ḿnh của
một hữu thể nơi một hữu thể khác, sự
hoàn thành này là chính cấu tố của hữu thể.[102]
Với quan niệm về biểu
tượng như là cách diễn tả và sự thể hiện
của hữu thể, của hiện sinh như trên, chúng
ta có thể đi đến kết luận:
· Agere sequitur esse. Nếu hữu thể vừa thiêng
liêng vừa thể xác, th́ hoạt động cũng
vừa thuộc trí tuệ vừa thuộc khả giác.
Chủ thể không thể hoạt động trong một
lănh vực mà nó không thuộc trật tự này cách hữu
thể.[103]
· Hành vi cứu độ của Thiên Chúa đối
với con người, từ lúc khởi đầu cho
đến lúc kết thúc, luôn được thực
hiện như thế này: Thiên Chúa là thực tại cứu
độ được ban cho con người và
được con người lănh nhận trong biểu
tượng. Và hơn nữa biểu tượng không tiêu
biểu cho thực tại như vắng mặt, nhưng
thực tại hiện diện và được biểu
lộ bởi biểu tượng (mà chính thực tại
đă tạo thành biểu tượng).[104]
Tắt một tiếng, với
suy luận về hữu thể chúng ta khẳng định
được rằng con người cần biểu
tượng để diễn tả và lănh hội chủ
thể và tha thể, thực tại khả giác cũng
như thiêng liêng, và ngay cả ơn cứu độ.
Luận chứng lịch sử
cứu độ về cơ cấu con người
đ̣i dấu chỉ, nghĩa là, Thiên Chúa ban ơn cứu
độ cho con người qua các dấu chỉ, không có ư
muốn nói chúng ta chứng minh điều này, nhưng
đúng hơn giúp chúng ta thấy trong lịch sử cứu
độ, Thiên Chúa đă nói với con người
qua các dấu chỉ, và con người đă đáp lại
tiếng nói của Thiên Chúa qua dấu chỉ hoặc biểu
tượng bằng đức tin, nghĩa là Thiên Chúa cứu
độ con người qua dấu chỉ.
Vào thế kỷ thứ IV-V,
thánh Augustin cho rằng cơ cấu bí tích cần thiết
và là phương thế Thiên Chúa dùng để cứu độ
con người, ngay cả trong thời Cựu ước.
Ngài viết:”Đừng tưởng trước khi lập
phép cắt b́, Thiên Chúa đă không dùng một bí tích nào để
trợ giúp, v́ ngay trong thời kỳ này, con người
cũng đă tin vào một Đấng trung gian phải
đến; tuy nhiên bí tích này là ǵ Kinh Thánh không muốn
nói tới.”[105]
Thánh Thomas vào thể kỷ XIII
cho rằng “con người cần cơ cấu bí tích
v́ ba lư do, lư do thứ nhất là theo bản tính con người:
cái riêng của bản tính con người là nhờ vào
thể xác và cái khả giác mà đi vào cái thiêng liêng.”[106]
Tuy nhiên thánh Thomas cho rằng con người chỉ cần
cơ cấu bí tích sau khi con người phạm tội dù
trước lẫn sau Đức Giêsu,[107]
c̣n trước khi con người phạm tội th́ không cần cơ
cấu bí tích; Sở dĩ như vậy v́ Ngài coi bí tích
như phương dược tẩy rửa tội,
nên không có tội th́ không cần bí tích.[108]
Để hiểu rơ hơn về
khái niệm biểu tượng- bí tích, chúng ta xét tới
sự kiện mặc khải. Mặc khải là hành vi
Thiên Chúa tỏ lộ chính Ngài và chương tŕnh cứu độ
con người của Ngài cho con người. Có thể nói,
ngay công tŕnh tạo dựng cũng là dấu chỉ
Thiên Chúa hiện hữu, dấu chỉ của t́nh yêu
Thiên Chúa đối với vũ hoàn và đặc biệt
là con người.
Kinh Thánh cũng nói về việc
Thiên Chúa mặc khải qua tự nhiên: “Trời xanh tường
thuật vinh quang Thiên Chúa, thanh không kể ra sự nghiệp
tay Người; Ngày này nhắc nhở cho ngày khác, đêm này truyền
tụng cho đêm kia” (Tv 18:2-5).
Dân ngoại cũng có thể biết
về Thiên Chúa qua thiên nhiên. Thánh Phao lô viết: “V́
chưng những ǵ có thể biết về Thiên Chúa th́
đă nên hiển nhiên nơi họ rồi, bởi chính Thiên
Chúa đă tỏ cho họ thấy. Từ khi vũ trụ
được tạo thành, những điều ẩn khuất
nơi Người, họ có thể lấy trí khôn mà
chiêm ngắm được nơi các công việc của
Người quyền phép vô thủy vô chung và thần tính của Người...”
(Rm 1:19-20).
Thiên Chúa mặc khải cho con
người, Ngài cũng luôn mặc khải qua các dấu
chỉ khả giác. Nói cách khác, chính qua những dấu chỉ
khả giác này mà con người nhận biết Thiên
Chúa và chương tŕnh của Thiên Chúa đối với
con người. Những dấu chỉ khả giác chỉ
thực tại siêu việt, có thể được một
số đông người coi như biểu tượng.
Thiên nhiên, tạo thành, trở thành dấu chỉ của Thiên
Chúa, cho thấy Thiên Chúa hiện hữu, Thiên Chúa yêu
con người.
Con người không chỉ nhận
biết Thiên Chúa và t́nh yêu của Ngài đối với
con người qua dấu chỉ khả giác, nhưng ngay
thái độ tâm t́nh của con người đối
với Thiên Chúa cũng được diễn tả
qua những hành vi khả giác, chẳng hạn như qua việc
thờ lạy, thái độ cung kính, việc dâng lễ
vật tế lễ.
Abel và Cain dâng lễ vật cho
Thiên Chúa là hoa quả mùa màng và chiên cừu, Noe cũng
dâng lễ vật để tỏ tâm t́nh tạ ơn và thờ
lạy Thiên Chúa (St 1-11).[109] Như vậy, Kinh Thánh đă
nói về việc Thiên Chúa tỏ lộ chính Ngài
và chương tŕnh của Ngài cho con người trước
khi Thiên Chúa tuyển chọn và gọi Abraham, và cũng
cho thấy con người diễn tả tâm t́nh thái độ
của ḿnh đối với Thiên Chúa.
Trong tương quan hai chiều
này, cả Thiên Chúa lẫn con người đều dùng những
dấu chỉ khả giác; sở dĩ vậy để con
người có thể lănh hội được điều
Thiên Chúa muốn diễn tả, và v́ con người phải
diễn tả tâm t́nh thái độ của ḿnh bằng những
cử chỉ và những ǵ khả giác.
Bây giờ chúng ta xét đến
thời điểm Thiên Chúa tuyển chọn Abraham để
h́nh thành một dân tộc, chuẩn bị cho Lời
Thiên Chúa nhập thể cứu độ con người.
Dân Israel tin rằng Thiên Chúa
đă tuyển chọn và gọi tổ phụ Abraham,
đă giải phóng họ khỏi ách nô lệ Aicập,
và vẫn hằng hiện diện và nói với họ qua các
biến cố và tiên tri trong ḍng lịch sử.
Với những người
đặc biệt như Abraham, Isaac, Giacóp, Môsê và các
tiên tri, các vị này vẫn tiếp xúc với Thiên Chúa
qua trung gian khả giác:
· Giavê Thiên Chúa đă hiện ra cho Abraham
dưới dạng ba người và đă được
ông thiết tiệc (St 18);[110]
· Môsê gặp gỡ Thiên Chúa qua bụi gai bốc
lửa nhưng không tàn (Xh 3:1tt.).
Cắt b́ (St 17:9tt; Lv 12:3; Gs 5:2.)
được những người thời sau này coi
như một bí tích đối với dân Israel.[111]
Cắt b́ là dấu giao ước giữa Thiên Chúa
và Abraham cùng miêu duệ ông (St 17:11), là dấu chỉ việc
Abraham cùng con cháu ông thuộc về Thiên Chúa, dân tộc
tư tế và thánh thiện của Thiên Chúa. Trong Cựu
Ước không phải chỉ có cắt b́ nhưng c̣n có những
nghi thức khác cũng có thể được coi
như dấu chỉ của ơn thánh vô h́nh như những
nghi lễ tế tự, nghi lễ xá tội, v.v.
Biến cố xuất hành là biến
cố làm nên dân tộc Israel. Biến cố ra khỏi Aicập,
đi qua biển đỏ khô chân, giao ước trên
núi Sinai, là dấu chỉ lớn cho dân thấy Thiên Chúa
vẫn tiếp tục trung thành với lời hứa Ngài
đă ban cho các tổ phụ Abraham, Isaac, và Giacóp: Thiên
Chúa yêu thương họ nên đă nghe lời họ kêu
van (Xh 3:7), Ngài sai Môsê giải phóng họ ra khỏi đất
nô lệ Aicập bằng những điềm thiêng dấu
lạ. Nơi cuộc hành tŕnh của dân Do Thái trong sa mạc,
Thiên Chúa vẫn hiện diện với dân qua cột mây và cột
lửa (Xh 13:21), và sau đó nơi ḥm bia giao ước,
nhà tạm (Xh 40:34t).
Biến cố vào đất hứa
là biến cố cho dân Israel tin rằng Thiên Chúa đứng
về phía dân và chính Ngài đă ban đất Canaan cho
dân.
Với các tiên tri trong ḍng lịch
sử cũng như với biến cố lưu
đày, dân Israel tin rằng Thiên Chúa Giavê vẫn hiện
diện với họ, Ngài trừng phạt khi họ
ĺa bỏ Ngài và tha thứ khi họ ăn năn thống hối. Cây
“thức sớm” (Gr 1:11), cái nồi (Gr 1:13), tiên tri mang
ách (Gr 27), chính cuộc sống của tiên tri (Hôsê),
đă thành biểu tượng cho dân và cho cả tiên tri
nữa.
Qua ḍng lịch sử dân tộc
Israel như Cựu Ước cho thấy: Thiên Chúa vẫn
tiếp tục tỏ ḿnh cho Abraham và miêu duệ ông; Ngài nói
với dân qua các biến cố và qua các tiên tri như sứ
giả của Thiên Chúa. Dân chúng đáp lại mặc khải
của Thiên Chúa Giavê bằng ḷng tin, thái độ thờ
phượng tôn kính qua việc tế tự (hy tế tạ
tội, hy tế kỳ an, hy tế toàn thiêu). Với dân Do
Thái, các biến cố và tiên tri là những dấu chỉ-
biểu tượng qua đó Thiên Chúa nói với dân, cho
dân hiểu biết Thiên Chúa là Đấng yêu
thương và giải phóng cùng ở với dân trong mọi hoàn
cảnh và t́nh huống, cho dân nhận thấy ư định
cứu độ của Ngài.
Như vậy khi xét những hành
vi tỏ ḿnh của Thiên Chúa, chúng ta đi đến kết
luận:
· Thiên Chúa vẫn tỏ ḿnh ra cho con người qua
những dấu chỉ khả giác;
· con người và đặc biệt dân Israel
cũng đáp trả lại mặc khải của
Thiên Chúa bằng ḷng tin được biểu lộ
qua những dấu chỉ như cắt b́, những
nghi thức tế tự, v.v.
“Chỉ có một Thiên Chúa và
cũng chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên
Chúa và nhân loại: Đức Giêsu, Đấng đă thí
ḿnh làm giá chuộc thay cho mọi người” (1Tm 2:5-6).
Xét dưới khía cạnh hữu
thể, để làm trung gian giữa Thiên Chúa và con
người, ngôi vị trung gian đó phải vừa là
Thiên Chúa vừa là con người. Đức Giêsu là Lời
Thiên Chúa nhập thể: “Lời đă ở nơi Thiên Chúa
và Lời là Thiên Chúa... Lời đă thành xác phàm và đă
lưu trú nơi chúng tôi” (Ga 1:1.14). Như thế, Đức
Giêsu xét như Thiên Chúa nhập thể, theo bản tính,
là trung gian giữa Thiên Chúa và con người cách tuyệt hảo.
Khi khẳng định mầu
nhiệm Đức Giêsu có hai bản tính- thiên tính và nhân
tính, Huấn Quyền cũng trích dẫn 1Tm 2:5 và khẳng
định Đức Giêsu là Đấng Trung Gian, v́ Ngài vừa
là Thiên Chúa vừa là con người.[112]
Truyền thống giáo phụ cũng có những luận
chứng theo khía cạnh hữu thể[113]
về Đức Giêsu là trung gian.
“Mọi sự đều đă
được Cha ta trao phó cho Ta, và không ai biết
được Con trừ phi có Cha; và cũng không ai biết
được Cha trừ phi có Con và kẻ được
Con khấng mặc khải cho” (Mt 11:27). Đức Giêsu
là trung gian mặc khải, Ngài là Đấng mặc khải
Thiên Chúa Cha và chương tŕnh cứu độ con
người.
Con người có thể diễn
tả tâm t́nh ư định qua hành vi cử chỉ, hoặc
bằng cái nheo mắt hoặc nụ cười hoặc bằng
cử điệu, và bằng lời nói của ḿnh. C̣n
Thiên Chúa, Ngài đă mặc khải cho chúng ta về chính
Ngài và chương tŕnh của Ngài qua ngôi Lời, là ngôi vị Thiên
Chúa. “Ngày xưa nhiều lần và nhiều cách Thiên Chúa
đă nói với cha ông nơi các tiên tri, nhưng đến
thời sau hết- tức là trong những ngày này-
Người đă nói với chúng ta nơi Người Con”
(Hr 1:1). Đức Giêsu là chóp đỉnh mặc khải v́
Ngài là Lời Thiên Chúa.
Với Đức Giêsu, Thiên Chúa
đă cho chúng ta thấy:
· Thiên Chúa là t́nh yêu (1Ga 4:8.16), và Thiên Chúa đă yêu
thế gian đến độ ban Con Một
Người cho chúng ta (Ga 3:16);
· ư định từ muôn đời muôn thuở
là thu tóm vạn sự vạn vật dưới một
đầu mối là Đức Giêsu (Ep 1:9tt);
· ư định cứu độ mọi người
(1Tm 2:4);
· Đức Giêsu là đường dẫn chúng ta
tới với Thiên Chúa Cha; Ngài chính là sự thật và
sự sống. Ngài nói: “Ai thấy Ta là thấy Cha” (Ga 14:6.9).
Sự sống đời đời và hạnh phúc vĩnh
cữu là được sống với Thiên Chúa,
được hiệp thông với Người, thế
mà Đức Giêsu nói: Ai thấy Ta là thấy Cha, không ai
đến được với Cha mà lại không qua
Ta- chúng ta thấy rơ thêm một lần nữa Ngài
là Trung Gian cứu độ duy nhất. Không nhờ Ngài
th́ không ai được cứu độ.
Tác giả thư gởi tín hữu
Do Thái cho chúng ta biết thêm: Đức Giêsu là trung gian
giữa Thiên Chúa và con người như là vị Thượng
Tế, trung gian của Giao Ước mới (Hr 9:15; 4:14).
Con người đến với
Thiên Chúa qua các trung gian. Trong Cựu Ước chúng ta
đă thấy Môisê, Aarôn, các tiên tri và các tư tế
đóng vai tṛ trung gian này; đặc biệt trong lănh vực
tế tự, con người diễn tả tâm t́nh thái
độ của ḿnh lên Thiên Chúa qua các lễ vật hy
tế. Tư tế đóng vai đại diện Thiên Chúa
và con người, dâng những lễ tế này v́ đă
được chọn bởi chính việc được
sinh trong ḍng họ Lêvi. Và Thiên Chúa đă ban ân sủng của
Ngài qua những trung gian này.
Ngày nay “máu của Đức Kitô
nhờ Thần Khí hằng có mà hiến ḿnh làm hy lễ
sinh vô t́ tích dâng lên Thiên Chúa, sẽ tẩy sạch
lương tâm ta hơn biết mấy khỏi các việc
chết, mà c̣n phụng sự Thiên Chúa hằng sống”
(Hr 9:14).
Trong bí tích thánh thể, Đức
Giêsu vừa là của lễ, vừa là thượng tế
dâng lễ vật lên Thiên Chúa. Khi truyền phép trong
Thánh Thể, linh mục chủ tế làm nhân danh Đức
Giêsu, với tư cách là ngôi vị Đức Kitô (in
persona Christi).
Đức Giêsu là trung gian duy nhất
giữa Thiên Chúa và con người. Không có Ngài con người
không được cứu độ v́ Ngài là nguyên
nhân cứu cánh của cả hoàn vũ. Tất cả mọi
người khi được cứu độ, được
lănh ơn làm con Thiên Chúa, đều được cứu
độ nhờ bởi Đức Giêsu Kitô, dù người
đó là Do Thái hay Hylạp, nô lệ hay tự do, là Kitô hữu
hay không. Ngay cả những người không tin Đức
Giêsu, thậm chí không tin Thiên Chúa hiện hữu- nếu
họ được cứu độ- th́ những người
này vẫn được cứu độ nhờ
Đức Giêsu Kitô, trong Đức Giêsu Kitô, và qua Đức
Giêsu Kitô.
“Ngoài Giáo Hội không có ơn cứu
độ.”
“Đức Giêsu Kitô là trung
gian cứu độ duy nhất giữa Thiên Chúa và con
người.”
Thế nhưng những người
sống trong các tôn giáo khác, những người không tin
Đức Giêsu, những người vô thần, vẫn có
thể được cứu độ, và những
người này khi được cứu độ, vẫn
được cứu độ trong Giáo Hội của
Đức Giêsu Kitô và nhờ Đức Giêsu Kitô. Nói cách
khác, tất cả những người được cứu độ
này đều thuộc về Giáo Hội Đức Giêsu
Kitô cách nào đó, và vẫn nhờ Đức Giêsu Kitô
để được cứu độ dù họ biết
hay không biết.
Với đức tin Kitô giáo,
Đức Giêsu là Ngôi Lời nhập thể (Ga 1:14), là Thiên
Chúa làm người.
Ngôi Lời là Thiên Chúa, hằng
hướng về Thiên Chúa (Ga 1:1-3); Ngôi Lời là diễn
tả của Thiên Chúa, là cách diễn tả của Thiên
Chúa, là biểu tượng của Thiên Chúa.[114]
Khi Thiên Chúa diễn tả, Ngài diễn tả bằng Lời;
Lời là biểu hiệu, biểu tượng, là ngôn từ
của Thiên Chúa.
Lời đă thành xác phàm (Ga 1:14).
Cái vô h́nh thành cái hữu h́nh, vô hạn thành hữu hạn;
Đấng không thể diễn tả nổi là Thiên Chúa nay đă
thành khả giác vật chất, được diễn tả.
Lời Thiên Chúa đă thành thân xác
khả giác khả tử. Nói cách khác, Thiên Chúa đă diễn
tả chính Ngài bằng cái ǵ khả giác khả tiếp thu
đối với con người. Đức Giêsu là mặc
khải tột đỉnh của Thiên Chúa, không những cho
con người mà cho mọi tạo thành nữa, v́ Đức
Giêsu là Lời Thiên Chúa; nếu có tạo thành nào muốn hiểu Thiên
Chúa th́ phải hiểu qua Lời Ngài.[115]
Không qua Lời, tạo thành không thể hiểu, và không
thể thông giao với Thiên Chúa.
Đức Giêsu là h́nh ảnh của
Thiên Chúa vô h́nh (Cl 1:15). Ngài là h́nh ảnh, là dấu chỉ,
là biểu tượng của Thiên Chúa; nhưng Ngài không
đơn thuần là dấu chỉ hiểu theo nghĩa dấu
chỉ không bao giờ là thực tại, Ngài cũng
không chỉ là biểu tượng hiểu theo nghĩa
biểu tượng là cái ǵ không hoàn toàn là thực tại;
trái lại Ngài là thực tại, là biểu tượng
thực, là dấu chỉ đồng thời là chính thực
tại!
Đức Giêsu là Lời của
Thiên Chúa, là h́nh ảnh của Thiên Chúa, là biểu tượng
thực của Thiên Chúa; đến độ Ngài nói:
“Thầy là đường, là sự thật và là sự sống... Ai
thấy Ta là thấy Cha” (Ga 14:6.9). Nói một cách khác,
Đức Giêsu vừa là phương tiện vừa là
cứu cánh, vừa là phương tiện mặc khải vừa
là chính thực tại được mặc khải, là Sự
Thật.
Đức Giêsu là Emmanuel, “Thiên
Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1:23). Nơi Đức Giêsu,
Thiên Chúa nhập thể là một người giữa
chúng ta, Thiên Chúa dứt khoát ở với con người.
Đức Giêsu là dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện với
con người; Thiên Chúa không bao giờ bỏ con người
và như thế con người không c̣n có thể nghi ngờ về
t́nh yêu và sự hiện diện của Ngài nữa, v́ Đức
Giêsu chính là Thiên Chúa làm người. Thiên Chúa đă làm
người, Ngài măi măi là người và không bao giờ
Ngài ngừng là người.[116]
Đức Giêsu, xét như Thiên
Chúa nhập thể, là quà tặng Thiên Chúa ban cho con
người. Những quà tặng khác là những ǵ ngoài
Thiên Chúa, c̣n với Đức Giêsu quà tặng chính là Thiên
Chúa: “Thiên Chúa yêu thế gian đến độ ban Con Một Ngài
cho thế gian” (Ga 3:16). Thánh Luca cũng nói: “Hôm nay Cứu
Chúa đă được sinh ra cho các ngươi” (Lc 2:11).
Đức Giêsu là dấu chứng
cho biết Thiên Chúa yêu thương con người,
nhưng không chỉ thế, Ngài c̣n là bảo chứng t́nh
yêu của Thiên Chúa đối với con người.
Đức Giêsu là bảo đảm cho phần rỗi chúng
ta. Nói một cách b́nh dân của giới bài bạc: khi
Thiên Chúa ban tặng cho con người chính Đức Giêsu,
th́ con người như người chơi bài với
Thiên Chúa, và đă nắm được con tẩy của
Ngài!
Lề luật th́ được
ban qua Môsê, nhưng chân lư và ân sủng th́ được ban
qua Đức Giêsu (Ga 1:17). Có thể nói, qua Đức Giêsu,
Thiên Chúa không c̣n từ chối với con người
điều ǵ nữa; và Ngài ban cho con người tất
cả nơi Đức Giêsu.
Thiên Chúa ban cho con người tất
cả trong Đức Giêsu và nhờ Đức Giêsu.
Đức Giêsu là dấu chỉ t́nh yêu của Thiên Chúa
đối với con người. Như vậy chúng ta
có thể nói: Đức Giêsu là bí tích nguồn, v́:
· Chính nhờ Đức Giêsu mà chúng ta
được ban hết ơn này đến ơn khác,
và đặc biệt ơn tha thứ tội khiên,
ơn được giao ḥa với Thiên Chúa, ơn
được trở nên con Thiên Chúa.[117]
· Chính trong Đức Giêsu chúng ta nhận
lănh mọi ân sủng, ngay cả ơn được thông
hưởng sự sống của Thiên Chúa, chúng ta
cũng lănh nhận qua Đức Giêsu.
Không có Đức Giêsu, con người
không được yêu và không có ân sủng; và chỉ với
Đức Giêsu, nhờ Đức Giêsu và qua Đức Giêsu
mà chúng ta được lănh nhận, và được
yêu. Nói cách khác, Thiên Chúa yêu chúng ta nơi Con Một của
Ngài là Đức Giêsu. Tuy nhiên Đức Giêsu vừa là
bí tích vừa là chính thực tại bí tích.
Chúa Kitô nhờ Thánh Thần,
đă thiết lập thân thể Người là Giáo Hội
như bí tích phổ quát ban ơn cứu rỗi (LG 48.9; GS 45;
AG 5).
Giáo Hội là Israel mới. Lịch
sử dân
Giáo hội là bí tích v́ Giáo Hội
được Đức Kitô thiết lập để tiếp
tục công tŕnh cứu độ của Người
nơi trần gian; và như vậy Giáo Hội là dấu
chỉ Đức Kitô hiện diện, dấu chỉ t́nh
yêu nhân ái của Thiên Chúa đối với con người.[119]
Như nơi Đức Giêsu,
Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là người, thiên tính và
nhân tính không pha trộn và không phân cách; cũng vậy nơi
Giáo Hội, dấu chỉ và thực tại, yếu tố
lịch sử và Thánh Linh, cũng không phân tách và không lẫn
lộn.[120]
Như thiên tính không bao giờ rời bỏ nhân tính nơi
Đức Giêsu, th́ Thánh Thần của Đức Giêsu
cũng không bao giờ rời bỏ Giáo Hội.[121]
Giáo Hội được Đức
Kitô thiết lập để thi hành công cuộc cứu
độ con người nơi trần gian. Giáo Hội
vừa là bí tích cứu độ hiểu như dấu
chỉ sự hiện diện của Đức Kitô nơi
trần gian, vừa là bí tích hiểu như phương
tiện cứu độ được thực hiện bởi
Đức Kitô. Xét như sự hiện diện cứu
độ của Đức Kitô nơi trần gian và
phương tiện cứu độ được
Đức Kitô thiết lập, Giáo Hội đại diện
Đức Kitô ban các bí tích như những phương
tiện cứu độ. Nói cách khác Đức Kitô cứu
độ nhân loại qua các bí tích mà Ngài đă thiết lập
qua Giáo Hội.
Giáo Hội là dấu chỉ t́nh
yêu của Thiên Chúa đối với con người, và
như vậy là dấu chỉ ân sủng. Thiên Chúa vô h́nh
đă nên hữu h́nh khả giác với con người
qua mầu nhiệm nhập thể; và cũng phần nào
tương tự như vậy, ân sủng cứu
độ của Thiên Chúa, của Đức Giêsu Kitô, mang
khía cạnh nhập thể nhờ mầu nhiệm Giáo
Hội- dấu chỉ sự hiện diện yêu
thương của Đức Giêsu nơi trần gian.
Giáo Hội thể hiện ân sủng
qua những hành vi của ḿnh. Ân sủng như chân lư,
được thể hiện qua lời giảng dạy của
Giáo Hội, được thích ứng tùy thời và tùy
tŕnh độ thiêng liêng của con người, để
dẫn đưa con người vào chân lư trọn vẹn
của Đức Kitô. Ân sủng như việc hiến
thánh con người, được thể hiện qua việc
ban các bí tích. Và ân sủng như hy tế dâng lên Thiên
Chúa, được thể hiện qua việc cử hành
thánh lễ mỗi ngày.[122]
Giáo Hội là dấu chỉ ân sủng
t́nh yêu của Thiên Chúa cho con người. Giáo Hội thể
hiện ân sủng của Đức Giêsu Kitô trong thời điểm
hiện tại qua bí tích mà Giáo Hội cử hành cách đặc
biệt đại diện Đức Kitô. Bây giờ
chúng ta xét kỹ hơn về bí tích Kitô giáo.
Giáo lư về bí tích Kitô giáo chỉ
được h́nh thành rơ ràng vào cuối thế kỷ
XII, nhưng những quan niệm về bí tích cách cơ bản
đă có ngay từ thời đầu.[123]
Chữ bí tích hiểu theo nghĩa Công giáo được
dịch từ chữ sacramentum của tiếng Latinh, và chữ
sacramentum này cũng được dịch từ chữ musthrion tiếng Hylạp.
Chữ musthrion tiếng Hylạp,
· trong lănh vực phượng tự của các tôn
giáo ngoài Kitô, chỉ việc cúng hiến một
người nào đó cho thần linh qua việc nhập giáo
với những nghi thức bí mật;
· với nghĩa về tri thức, nó chỉ
những giáo thuyết bí mật ít người biết
đến;
· với nghĩa thông thường nó chỉ tất
cả những ǵ bí mật ít người hiểu,
cả trong lănh vực tôn giáo cũng như trong những ǵ
thế tục;[124]
· trong bản dịch Kinh Thánh LXX chữ musthrion được dùng để chỉ những
nghi lễ dân ngoại (St 14:15-23), và cũng được
dùng để chỉ ư định mầu nhiệm
của Thiên Chúa mà con người không thể biết
nếu không có mặc khải;
· trong Tân Ước chữ musthrion mang nghĩa tri thức, như “các mầu nhiệm
của Thiên Chúa” (1Cr 4:1);[125]
· vào thời các giáo phụ đầu tiên,
đặc biệt trường Alexandria với
Clément d'Alexandria và Origène, cũng đă dùng chữ musthrion để chỉ phép rửa và tiệc Thánh
Thể.[126]
Chữ Sacramentum do động tự
sacrare và danh từ sacrum tiếng Latinh,
· được dùng chỉ lời thề của
lính Roma;
· được dùng chỉ lời hứa của
tín hữu buộc giữ các giới răn của Thiên
Chúa;
· được dùng để dịch nghĩa
chữ musthrion tiếng Hylạp (từ thế kỷ II sau
Công nguyên);[127]
· được Tertullien dùng để gọi
các nghi lễ dân ngoại cũng như phép rửa và
tiệc Thánh Thể của Kitô giáo, v́ ông cho rằng có
sự giống nhau giữa lời thề hứa của
lính Roma với lời thề của tín hữu khi lănh
phép rửa; Ambrosio cũng dùng chữ sacramentum để
chỉ các nghi thức rửa tội, thêm sức và thánh thể.
Riêng thánh Augustin, Ngài đă góp nhiều công trong việc
sử dụng từ sacramentum cũng như việc t́m
hiểu và đào sâu ư nghĩa của việc gọi này.[128]
Bí tích của Công Giáo,
· theo Augustin, là dấu chỉ của thực tại
thánh;[129]
· theo Pierre Lombard (chết khoảng 1160), là dấu
hiệu của ơn Chúa và là h́nh thái của ơn vô
h́nh, đến nỗi bí tích mang h́nh ảnh của
ơn vô h́nh đó và làm phát sinh chính ơn đó
nữa. Vào cuối thế kỷ XII này, các nhà tiền
kinh viện đă nhận biết hậu quả do
sự (ex opere operato) của bí tích;[130]
· theo Thomas, là dấu chỉ của thực tại
thánh theo mức độ nó thánh hóa con người;[131]
· với công đồng Trentô, là h́nh thức hữu
h́nh của ân sủng vô h́nh và có khả năng ban ơn
cứu rỗi;[132]
· theo cha Antôn Drexel, là “hành vi biểu tượng
có tính tôn giáo của Chúa Kitô và Giáo Hội, nhờ
được Chúa Kitô thiết lập nên biểu
thị ơn thánh hóa con người và ban ơn đó
một cách do sự, cho những ai không cản trở;”[133] K.
Rahner lấy lại tư tưởng của truyền
thống, cho rằng bí tích là những dấu chỉ
thánh của ân sủng Thiên Chúa- và hiểu theo
mạch văn ngài viết- là những biểu
tượng, phát sinh cái mà nó chỉ và chỉ cái nó phát
sinh.[134]
Nét đặc trưng của bí
tích Kitô giáo, theo đức tin Công Giáo, là hậu quả
do sự (ex opere operato). Sở dĩ bí tích Công Giáo có kết quả
ban ân sủng do sự, bởi v́ Đức Giêsu Kitô đă
thiết lập và đă muốn như vậy. Ngài
đă thiết lập Giáo Hội như bí tích ban ân sủng cứu
độ cho con người, và đă thiết lập các dấu
chỉ- hoặc thiết lập chúng qua trung gian Giáo Hội-
để ban ân sủng cứu độ trong Giáo Hội.
Bí tích, dấu chỉ ban ân sủng
cứu độ, sinh hậu quả do sự
khi được thực hiện theo ư Đức Giêsu,
cụ thể là theo ư Giáo Hội, ư thừa tác viên đại
diện Giáo Hội, và ư muốn ngay lành của thụ
nhân.
Đức Giêsu là trung gian cứu
độ duy nhất giữa Thiên Chúa và con người,
v́ “hẳn không có ơn cứu độ nơi một
người nào khác nữa. V́ dưới gầm trời
này, không có một danh nào khác đă được ban xuống cho
nhân loại để phải nhờ vào đó mà chúng ta
trông được ơn cứu thoát” (Cv 4:12). Như
vậy, khi nói “ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ,”
hoặc nói, “Giáo Hội là bí tích nguyên thủy hay phổ
quát,” chúng ta phải hiểu Giáo Hội là phương
tiện cứu độ, là bí tích cứu độ nhờ
Đức Giêsu Kitô.
Giáo Hội là bí tích cứu độ
v́ Đức Giêsu là bí tích cứu độ, là bí tích nguồn,
là nguyên nhân Thiên Chúa ban ơn cứu độ cho con
người, là nguyên nhân qua đó và trong đó Thiên Chúa
yêu thương con người.
Khi chúng ta nói bí tích là
phương tiện cần thiết để được công
chính hóa hay được cứu độ,[135]
chúng ta hiểu đó là những phương tiện cần
thiết tùy thuộc chương tŕnh cứu độ của Thiên
Chúa trong Đức Giêsu Kitô, nhờ Đức Giêsu Kitô và do
Đức Giêsu Kitô.
Khi chúng ta nói các bí tích có hiệu
quả do sự (ex opere operato), hay theo ngôn từ của
K. Rahner “các biểu tượng thực,” nghĩa là bí
tích sinh cái chúng chỉ và chỉ cái chúng phát sinh ra,[136]
chúng ta phải hiểu: các bí tích Công Giáo có kết quả
như vậy là do ư định của Thiên Chúa nơi Đức
Giêsu Kitô. Ngài muốn các dấu chỉ Ngài thiết lập
sinh ơn thánh. Và như vậy hàm chứa, các dấu chỉ
này chỉ sinh ơn thánh khi nó được cử
hành theo ư Chúa Kitô, thể hiện qua ư Giáo Hội, và cụ
thể nữa là theo ư thừa tác viên đại diện
và nhân danh Giáo Hội.
Chúng ta đă t́m hiểu về ư
định cứu độ hết mọi người của
Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô, đă t́m hiểu về
con người trong chiều kích được mời
gọi tham dự sự sống thần linh của Thiên
Chúa, và chúng ta đă thấy Thiên Chúa tạo dựng con
người là hồn và xác; và chính trong cơ cấu
“tinh thần qua thể xác” này mà Thiên Chúa ban ân sủng cứu
độ con người. Đến đây chúng ta có thể
kết luận:
· không ǵ bắt buộc Thiên Chúa phải ban ân
sủng cứu độ con người qua các dấu
chỉ khả giác nếu ta nh́n vấn đề cách tiên
thiên;
· nhưng thực tế Thiên Chúa đă tạo
dựng con người là hồn và xác; Ngài muốn con
người là con người trong cơ cấu “thể xác
tinh thần” này, nên Ngài đă dùng cơ cấu dấu
chỉ để biểu lộ t́nh yêu ân sủng
của Ngài đối với con người; Ngài cũng
muốn con người diễn tả thái độ
sống của con người đối với Ngài và
đối với nhau qua cơ cấu “thể xác tinh
thần.”
Chúng ta đă cùng nhau lược
qua lịch sử thần học và xác tín, Thiên Chúa vui ḷng
ban ân sủng cứu độ cho những người sống
ngoài Kitô giáo, nghĩa là hàm chứa cho những người
hiện nay sống trong các tôn giáo ngoài Kitô, và ngay cả những
người không biết hoặc từ chối Đức
Giêsu và Thiên Chúa mà không phải lỗi tại họ.
Chúng ta cũng đă t́m hiểu
và nhận thấy Thiên Chúa ban ân sủng cứu độ cho
con người hợp với cơ cấu “hồn-xác” của
con người, nghĩa là qua dấu chỉ hoặc biểu
tượng.
Chúng ta cũng đă t́m hiểu
và khẳng định: dù là bất cứ ai nếu
được cứu độ, đều được
cứu độ nhờ Đức Kitô và Giáo Hội của
Người.
Bây giờ chúng ta sẽ xét đặc
biệt tới những người đang sống
trong các tôn giáo không phải Kitô giáo, cụ thể những
người không tin Đức Giêsu nhưng không phải
do lỗi lầm của họ. Vấn đề đặt
ra: các nghi lễ, dấu chỉ và biểu tượng
nơi các tôn giáo họ đang sống trong đó, có là những phương
tiện Thiên Chúa dùng để ban ân sủng cứu độ
cho họ không?
Trong mục này chúng ta sẽ xem
xét để có lập trường về các tôn giáo ngoài Kitô,
sau đó t́m hiểu hơn về biểu tượng thực
tại vô h́nh, và cuối cùng sẽ đưa ra kết luận
về các dấu chỉ hoặc biểu tượng của
các tôn giáo ngoài Kitô.
Tôn giáo là một định chế
đặc biệt có mục đích thờ phượng
tôn kính Thiên Chúa như Ngài đáng được. Tôn giáo
là một tổ chức xă hội với những phẩm
trật, lề luật và truyền thống, có những tín
điều mà các tín hữu phải tin và tuyên xưng,
cũng như có những nghi thức biểu lộ tâm
t́nh thờ kính, tùng phục yêu mến đối với
Thiên Chúa ngơ hầu tín hữu được cứu độ.[137]
Tôn giáo cũng được coi
như một kinh nghiệm về Đấng không bị
điều kiện hóa, nhưng kinh nghiệm này
được nhận qua một hệ thống biểu
tượng thuộc về một nền văn hóa.[138]
Nói đơn sơ hơn, tôn giáo là kinh nghiệm đối
với Tuyệt Đối; kinh nghiệm này có nhờ Tuyệt
Đối diễn tả ḿnh qua nền văn hóa của
người nhận; và người có kinh nghiệm với
Tuyệt Đối cũng diễn tả tâm t́nh thái độ
của ḿnh đối với Tuyệt Đối qua nền
văn hóa của ḿnh.
Có thể nói lịch sử các
tôn giáo được cấu thành bởi những cuộc thần
hiển, nghĩa là bởi những cuộc tỏ lộ của
thực tại thần linh. Thực tại thần linh
đây là cái ǵ hoàn toàn khác, một thực tại không
thuộc về thế giới của chúng ta.
Vật thần hiển rất
là đa phức, có thể là cục đá, cái cây, hoặc
các tinh tú như mặt trời, mặt trăng hoặc ngôi
sao, hoặc một ḍng nước, và cũng có thể
là con vật, hoặc ngay cả một người.[139]
Kinh nghiệm với
Cái-Hoàn-Toàn-Khác qua những cuộc thần hiển, hoặc với
Tuyệt Đối qua những lần “mặc khải,”
không thuộc hoàn toàn do ḿnh, nghĩa là, không phải ḿnh
muốn là được. Hơn nữa, Cái-Hoàn-Toàn-Khác hoặc
Tuyệt Đối được cảm nghiệm, là cái
ǵ khôn ḍ, không thể diễn tả nổi và không thể
diễn tả hết bằng ngôn ngữ. Những người
có kinh nghiệm với Đấng Hoàn Toàn Khác cố gắng
diễn tả Thực Tại này qua những h́nh ảnh,
dấu chỉ khả giác, nghĩa là qua các biểu tượng.
Nói đến cách diễn tả
của con người qua biểu tượng, qua h́nh ảnh,
ta phải nghĩ ngay đến “nền văn hóa” con
người sống trong đó, v́ con người khi diễn
tả, phải diễn tả bằng nền văn hóa
ḿnh sống với những h́nh ảnh, ngôn từ, biểu
tượng. Như vậy để hiểu được
phần nào Đấng Hoàn Toàn Khác qua kinh nghiệm thần
hiển, được diễn tả bằng ngôn ngữ
biểu tượng hoặc thần thoại xét như
một văn loại diễn tả kinh nghiệm với Thực
Tại Hoàn Toàn Khác, chúng ta phải t́m hiểu kinh nghiệm
này qua các biểu tượng trong nền văn hóa
h́nh thành các biểu tượng.
Nếu chúng ta nh́n tôn giáo là kinh
nghiệm với Đấng Hoàn Toàn Khác được
diễn tả qua những biểu tượng và thái
độ tâm t́nh đối với Đấng Hoàn
Toàn Khác được diễn tả qua các nghi thức
hợp với nền văn hóa của những người
có kinh nghiệm này, th́ việc t́m hiểu ư nghĩa các
biểu tượng thật cần thiết để hiểu
kinh nghiệm của các tôn giáo!
Lịch sử thần học
cho thấy có nhiều tác giả chủ trương các tôn
giáo ngoài Kitô không là phương tiện Thiên Chúa dùng
để cứu độ con người, nhưng
trái lại là công tŕnh của con người, và c̣n tệ
hơn là công tŕnh của ma quỷ.
Một số họ dựa vào
các đoạn Kinh Thánh sau để nói rằng các tác giả linh
ứng có câu trả lời tiêu cực về giá trị cứu
độ của các tôn giáo ngoại: 1V 11:1-13; Gr 2:26-29;
10:1-16; Br 6:7-72; Is 40:18-20; 44:9-20; 46:6tt; Tv 105; 113:10-16; Kn 13:1-14.20;
15:6-19; 1Mac 1:41-64; 2Mac 4:1-11.[141]
Đầu tiên chúng ta phải nhận
rằng vấn đề các tôn giáo ngoài Kitô không là một
vấn đề được các tác giả linh ứng
nhắm bàn cách trực tiếp; hơn nữa, để
xem thực sự tác giả Kinh Thánh có muốn khẳng
định rằng các tôn giáo ngoài Kitô không có giá trị
cứu độ hay không, chúng ta phải hỏi những
chuyên gia về khoa chú giải Kinh Thánh.
Riêng về 1V 11-13, bản văn
nói về việc Salomon mê con gái các dân ngoại và để
ḷng mê theo các thần ngoại lai, chính v́ lư do đó mà
Thiên Chúa đă chia cắt xứ sở ra làm hai. Bản
văn này coi các thần dân ngoại thờ kính đối
nghịch với Giavê Thiên Chúa của
C̣n bản văn Gr 2:26-29; 10:1-16
châm biếm các ngẫu tượng của dân ngoại
bằng gỗ bằng bạc bằng vàng. Chúng ta hiểu
được điều này dễ dàng v́ đây chính
là điều Giavê Thiên Chúa cấm dân
Một số tác giả dựa
vào thơ thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma để kết án
các tôn giáo ngoài Kitô. “Quả vậy, từ trời sự thịnh
nộ của Thiên Chúa được mặc khải ra
trên mọi sự vô đạo và bất chính của những kẻ
lấy bất chính hăm cầm sự thật. V́ chưng lộ
hiện rồi nơi họ những ǵ biết
được về Thiên Chúa, bởi Thiên Chúa đă bày tỏ
cho họ. V́ từ buổi tạo thành vũ trụ, những
ǵ nơi Người, mắt xác thịt không thể thấy
th́ trí khôn nh́n ngắm được nơi công việc
Người làm: quyền năng hằng có và thần
tính của Người, khiến họ vô phương
chữa ḿnh. V́ rằng họ đă biết Thiên Chúa, họ
lại đă không tôn vinh Người như Thiên Chúa, hay
không tạ ơn Người, nhưng họ đă ra
hư luống trong các suy tưởng của họ, và ḷng
ngu muội của họ đă ra tối tăm. Trong khi
họ huênh hoang ḿnh khôn ngoan, th́ họ đă ra điên rồ.
Và họ đă tráo đổi vinh quang Thiên Chúa bất hoại
với loài người hư nát, và bao cầm thú, cùng rắn
rít (Rm 1:18-23).” Ở đây thánh Phaolô bàn về tội lỗi
của con người, đă không theo đường lối
của Thiên Chúa nhưng bẻ quặt đường lối
của Ngài theo kiểu của ḿnh; cũng tương tự,
tác giả sách Sáng Thế (St 3, 1tt) cho rằng tội của
Adam là muốn trở nên thần linh bằng sức riêng của
ḿnh, độc lập với Thiên Chúa; nhưng vấn
đề hệ tại t́m hiểu xem các tôn giáo ngoài Kitô
là công tŕnh của Thiên Chúa hay của con người, nếu
các tôn giáo ngoài Kitô là công tŕnh của con người th́ vấn
đề đă được giải quyết; cụ thể
cho đến giờ chúng ta không chứng minh được
như vậy.
Lịch sử cho thấy, nhiều
tôn giáo xuất hiện trước Do Thái giáo và Kitô giáo,
và các Kitô hữu cũng đă sống chung đụng với
những tín hữu của các tôn giáo này; thời đầu
tiên trong Cựu Ước và Tân Ước các tác giả
không bàn trực tiếp về các tôn giáo ngoài Kitô, nếu có
dịp th́ các tác giả chỉ nhắc qua thôi; thời
các giáo phụ cũng vậy; việc nghiên cứu về
các tôn giáo ngoài Kitô chỉ xuất hiện trong những thế
kỷ gần đây.[142]
Dù các giáo phụ không đặt
câu hỏi về các tôn giáo như chúng ta đang đặt
hôm nay, nhưng đôi khi các ngài cũng bàn về khía cạnh
chân lư trong các tôn giáo ngoài Kitô. H. Kraemer đă tóm tắt lập
trường của các giáo phụ như sau:
· Lập trường thứ nhất cho rằng các
điều hay và tốt nơi các tôn giáo là do công tŕnh
của logos spermatikos.
· Lập truờng thứ hai chủ trương
rằng những ǵ tốt đẹp và chân
thật nơi các tôn giáo khác là do các tôn giáo ấy
lấy những ǵ tốt đẹp và chân thật
nơi Do Thái giáo hoặc Kitô giáo.
· Lập truờng thứ ba cho rằng những ǵ
được coi là chân thiện mỹ nơi các tôn
giáo khác chỉ có vẻ là chân thiện mỹ thôi, chứ
thực ra đó là công tŕnh của ma quỷ, v́ không có
chân thiện mỹ nơi các tôn giáo ngoài Kitô.[143]
Trong thời sơ khai của Hội
thánh, có kẻ khi tiếp xúc với các tôn giáo ngoại
đă có khuynh hướng “hoá đồng tôn giáo,” họ
cho rằng Zarathoustra, đức Phật và đức
Kitô chỉ là một thực tại. Hội Thánh
Byzantine đă kết án những người chủ
trương như vậy: “coi là ngoại đạo những
ai nói rằng Zarathoustra, Phật, Kitô, Mani và Mặt Trời
là một và cùng là một sự. Coi là ngoại đạo
những ai nhận thuyết luân hồi, nghĩa là sự
chuyển di linh hồn của một thân xác này vào một
thân xác khác.”[144]
Giáo phụ Tatien sinh khoảng
năm 120 tại Assyrie, là môn đệ thánh Justin ở
Roma, được huấn luyện về văn
chương và triết lư tại đó. Tatien không bàn về
tôn giáo nhưng qua thái độ của ông đối với
triết gia, ta thấy ông rất nghiêm khắc; ông kết
án các triết gia, cho rằng họ đă rơi vào mọi
loại tật xấu, sai lầm và mâu thuẫn.
Théophile d' Antioche cũng vậy,
Ngài bài bác các triết gia bằng cách chưng ra những
sai lầm và nghịch lư của họ.[145]
Thái độ của các ngài chúng
ta cũng có thể hiểu được nếu chúng
ta đặt ḿnh vào bầu khí hộ giáo lúc đó: các
triết gia ngoại giáo đang châm biếm và đả
phá Kitô giáo; v́ thế các Ngài bênh vực đạo giáo và
cho thấy những sai lầm của họ đứng từ
lập trường của ḿnh. Sở dĩ chúng ta
đưa hai ngài vào lập trường những người
có câu trả lời tiêu cực cho vấn đề thần
học các tôn giáo, v́ nếu thái độ của các ngài
đối với các triết gia c̣n vậy, huống hồ
là đối với các tôn giáo ngoài Kitô.
Thánh Augustin, thần học gia lỗi
lạc vào bậc nhất của Hội Thánh, sinh khoảng
năm 354 ở Numide tại Tagaste, cho rằng các triết
lư có những giá trị đích thực, nhưng nó có
được như vậy là do nó chiếm đoạt
cách bất chính những giá trị đích thực của Kitô
giáo. Dựa vào quan niệm này của Augustin, nhiều
người cho rằng những tôn giáo ngoài Kitô cũng
có những giá trị tôn giáo đích thực, nhưng giá
trị đó là do các tôn giáo ngoài Kitô chiếm đoạt
cách bất chính nơi Hội Thánh Kitô giáo.[146]
Để nhận định lời nói trên của Augustin
cách đúng đắn, chúng ta phải nhớ rằng
ngài đă có thời gian khá dài sống theo hết các triết
lư này đến triết lư khác và cuối cùng Ngài mới
trở lại tin đức Kitô, ngài chỉ được
rửa tội năm 387, nghĩa là 33 năm sống trong lầm lạc.
Đối với Fulgence de Ruspe,
các tôn giáo ngoài Kitô không có giá trị cứu độ, và
thậm chí những người sống ngoài Giáo Hội
Công Giáo đều phải sa hỏa ngục: “Không có ǵ phải
nghi ngờ rằng không chỉ những lương dân mà
tất cả những người Do Thái, tất cả
những người lạc giáo và ly giáo, những người
chết ngoài Giáo Hội Công Giáo, sẽ sa vào lửa
đời đời đă được sắm sẵn
cho ma quỷ và các thần của nó.”[147]
Đọc các lời này của Fulgence de Ruspe, chúng ta nhớ
đến câu châm ngôn thần học “extra ecclesiam nulla salus.”
Câu châm ngôn này đă được Giáo Hội chính thức
giải thích như chúng ta đă thấy ở trên.
Thánh Thomas, một thần học
gia vĩ đại của Giáo Hội Công Giáo
sinh năm 1225 tại Roccasecca, đă đặt vấn
đề về nghi lễ của dân ngoại. Theo thánh
nhân, các nghi lễ của dân ngoại không có sự thật
cũng không có lợi ích chút nào, nhưng để có một
ích lợi lớn hơn th́ có thể dung thứ các nghi
lễ của dân ngoại với mức độ.[148]
Một số người dựa
vào nguyên tắc của thánh Thomas “bonum ex integra causa, malum
ex quocumque defectu” để kết luận rằng: mọi tôn
giáo ngoài Kitô tự bản chất là xấu, nghĩa là nó
không nằm trong chương tŕnh của Thiên Chúa, và do
đó không là phương tiện Thiên Chúa dùng cứu
độ con người.[149]
Luther và những người thuộc
phe cải cách chủ trương tất cả các tôn
giáo kể cả Công giáo, đều xấu v́ đó là
nỗ lực của sức con người nhằm
đặt đến sự cứu độ.[150]
Luther đă theo nguyên tắc: chỉ do sức con người
th́ không thể đạt tới sự cứu độ.
Adam và Evà xưa cũng muốn trở thành thần minh
độc lập với Thiên Chúa, và như thế hai
ông bà đă phạm tội. Nếu tôn giáo chỉ là nỗ
lực của con người để đạt tới
sự cứu độ, th́ tôn giáo không là phương tiện
cứu độ, mà hơn nữa đó c̣n là một tội. Điều
cần lưu ư: những người sống trong các tôn
giáo ngoài Kitô vẫn chờ mong sự cứu độ
như cái ǵ ngoài ḿnh.
Vào thế kỷ XIX, theo Gustave
Thils, một số tác giả coi tôn giáo ngoại là các tôn
giáo tôn thờ ngẫu tượng, chẳng hạn như:
P. Aubry: “Văn minh Trung hoa dưới
mọi quan điểm, gần như là một sự dị
hợm, không chỉ phản Kitô giáo nhưng c̣n phản nhân
bản nữa. Tôn giáo của người Trung Hoa thật kỳ
quặc, phi lư, lố bịch nhất thế giới. Các tu
sĩ là giai cấp đê tiện, bị khinh bỉ, vô tri,
hư thối! Các nghệ thuật không được biết,
nó không hiện hữu. Trong các chùa và các lâu đài, có vài h́nh
tượng được vẽ hay điêu khắc về
ma quỷ và các con vật kinh khủng, kỳ quái;”[151]
J. Witte cũng coi tôn giáo ngoài Kitô
là sai lầm, tội lỗi và hư vong;[152]
Một số nhà truyền giáo
cũng có cái nh́n tiêu cực về các tôn giáo ngoại. Những
người này đi rao giảng và thường gặp sức
phản kháng chống tin mừng Đức Giêsu Kitô từ
các tôn giáo. Nói cách khác, các tôn giáo ngoại ngăn cản
người ta tiếp nhận và đến với Đức
Giêsu Kitô.[153]
Ở thế kỷ XX này, một
số anh em Tin lành như Karl Barth và H. Kraemer lấy lại
quan điểm về các tôn giáo của Luther:
“Tất cả các tôn giáo xuất
hiện như một toan tính tự công chính hóa và tự cứu
rỗi của con người. Nói cách khác, tôn giáo là những
nỗ lực của con người nhằm xác định
ḿnh trước Thiên Chúa và nhằm từ chối hay cho thấy
ḿnh không thể nhận ân sủng của Thiên Chúa là Đấng
ban sự công chính cho kẻ vô đạo. Mặc khải lột
mặt nạ tất cả các tôn giáo, vạch cho thấy sự
không cần thiết của mọi tôn giáo, nghĩa là sự
bất lực bẩm sinh của con người nhằm
đẻ ra chân lư, nỗi bất lực này sự phát triển
tôn giáo của con người xác chuẩn. Như vậy, mọi
tôn giáo đều là h́nh thức thờ ngẫu tượng
hay nỗ lực tự công chính hóa nhờ việc làm, là sự
kiêu ngạo. Những điều này là những cây mọc
trên đất Kitô giáo.”[154]
Sau đây chúng ta tóm lại những
luận chứng cho rằng các tôn giáo ngoài Kitô không là
phương tiện Thiên Chúa dùng để cứu độ
con người sống trong các tôn giáo đó:
· Các tôn giáo ngoài Kitô ngăn cản người ta
tiếp nhận và đến với Đức Giêsu Kitô.
Quan niệm này thường đến từ những nhà
truyền giáo. Hiện tượng tiêu biểu là
đạo Hồi.[155]
· Tôn giáo ngoài Kitô hoàn toàn là công tŕnh của con
người muốn tự ḿnh công chính hóa, nghĩa là con
người muốn độc lập với Thiên Chúa.[156]
· Giáo lư sai lầm không thể dung hợp với giáo
lư Kitô giáo, chẳng hạn thuyết luân hồi, v.v. Những
việc làm “vô luân” nếu nh́n dưới nhăn quan Kitô giáo,
chẳng hạn việc giao cấu với nữ tế
trong các tôn giáo Hylạp, hoặc việc dâng người
để tế thần.
Trên đây chúng ta đă xét những
luận chứng nhằm khẳng định các tôn giáo
ngoài Kitô không có giá trị cứu độ; nhưng nếu
chấp nhận kết luận này chúng ta thấy vẫn
c̣n những dữ kiện khó giải thích, chẳng hạn
có những nhà thần bí nơi các tôn giáo ngoài Kitô,[157]
cũng như những điểm tương đồng
về giáo lư của những tôn giáo ngoài Kitô với Kitô giáo,
chẳng hạn niềm tin vào Đấng Tuyệt Đối,
khẳng định con người cần được
cứu độ, dạy con người phải làm lành
lánh dữ, v.v. Chính những điểm này đă làm phát sinh
quan điểm tích cực về các tôn giáo ngoài Kitô trong ḍng
lịch sử thần học.
Tương tự như những
người chủ trương “tiêu cực” về các tôn
giáo ngoài Kitô đă làm, những người chủ
trương lập trường “tích cực” cũng nại
vào Kinh Thánh để biện minh cho lập trường của
ḿnh.
Kinh Thánh ngay khởi đầu
cho thấy Cain và Abel đă dâng lên Thiên Chúa những lễ vật
là hoa trái của cây cối và thú vật (St 4:3-4). Các tôn giáo
cũng có những nghi lễ để biểu lộ tâm
t́nh thái độ của con người đối với
Thiên Chúa.
Khi Thiên Chúa đă cứu Noe và gia
đ́nh ông thoát khỏi bị tiêu diệt trong lụt hồng
thủy, Ngài nói: “Phần Ta, này Ta lập giao ước của
Ta với các ngươi và ḍng giống các ngươi
đến sau các ngươi, cùng với mọi sinh mạng
sống với các ngươi, với chim chóc, thú vật,
dă thú với các ngươi, tóm lại mọi vật
đă từ tàu đi ra, mọi sinh vật trên đất.
Ta lập giao ước của Ta với các
ngươi: mọi loài có xác sẽ không c̣n bị nước
hồng thủy tiểu trừ. Sẽ không c̣n có hồng
thủy đến hủy diệt cơi đất.
Và Thiên Chúa phán: Này là dấu giao ước Ta đặt
giữa Ta với các ngươi, cùng tất cả chúng
sinh ở với các ngươi, đời đời
măi măi.” (St 9:8-12).
Như vậy chúng ta thấy giao
ước Thiên Chúa kư với Noe ở đây là giao ước
chung cho tất cả mọi người, mọi sinh vật
trên đất chứ không chỉ với con cái Israel như
ta thấy những giao ước tiếp sau được
nói từ chương thứ 12 sách Sáng Thế trở đi.
Giao ước của Thiên Chúa cho Noe hàm chứa: ơn cứu
độ được ban cho con người ở
ngay trong t́nh trạng này, nghĩa là trước khi có
giao ước với Abraham và ḍng giống ông. Như vậy
trước khi có Do Thái giáo và Kitô giáo, con người
đă được cứu độ nhờ tôn giáo của
họ, nghĩa là nhờ ḷng tin của họ vào Thiên Chúa và
những hành vi phượng tự họ dâng lên Thiên
Chúa!
Thánh Phaolô trên đường rao
giảng, Ngài tới Athêna và thấy có một tượng
thần người ta thờ kính với danh hiệu “thần
vô danh;” dựa vào đó, Phao-lô đă nói: “Kính thưa quư
vị người Athêna, xét về mọi mặt tôi nhận
thấy các ngài rất sùng tín. V́ ngang qua, tôi ngước
mắt nh́n về các đồ thờ của các ngài, tôi
đă gặp cả một tế đàn trên đó có khắc:
KÍNH THẦN VÔ DANH. Vậy Đấng các ngài không biết
nhưng có kính thờ, th́ này tôi xin loan báo về Người
cho các ngài. Thiên Chúa tạo thành vũ trụ... Người
đă định thời tiết phân minh và cương
giới nơi chốn họ ở, ngơ hầu họ t́m kiếm
Thiên Chúa và họa may rờ rẫm sao mà gặp
được Người. Và quả thực Người
không xa mỗi chúng ta” (Cv 17:22-24.26-27).
Ở đây, chúng ta thấy
thánh Phao-lô đề cập tới việc thờ tự
của một dân thành có nghi lễ riêng, đến các
tôn giáo. Ngài không kết án các tôn giáo nhưng muốn
dùng chính tôn giáo để dẫn đưa họ đến
với Thiên Chúa đích thực. Ngài cũng nêu lên những
sai lầm của họ nếu họ nghĩ rằng thần
linh lại giống như vàng, như bạc, như
đá, do nghệ thuật và suy tưởng con người
taọ ra (Cv 17:29).
Chúng ta sơ lược qua một
vài giáo phụ và thần học gia có cái nh́n thuận lợi
cho các tôn giáo ngoài Kitô.
Irénée, giám mục ở Lyon gốc
Tiểu Á sinh sống khoảng 140-202, là môn đệ của
Polycarpe (†155), trong tác phẩm “chống lạc giáo,” đă viết:
“Hăy đến hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc... Chỉ có
một và duy chỉ có một Thiên Chúa là Cha, và Lời Ngài,
Đấng giúp tất cả theo nhiều đường
(variis quidem dispositionibus), Đấng hoạt động
nhiều, và là Đấng cứu những người
được cứu ngay từ đầu, những
người yêu mến Thiên Chúa và sống Lời Thiên Chúa
theo cách thức của họ.”[159]
Phải chăng chúng ta có thể
hiểu từ ngữ “nhiều đường” ở
đây như những đạo, những tôn giáo khác nhau?
Giáo phụ Clément ở Alexandria sống
trong khoảng năm 150-215 đă viết trong những
hàng đầu quyển Stromates: “Thiên Chúa là nguyên nhân của
mọi sự lành, của những sự lành này th́ Ngài
là nguyên lư như Cựu Ước và Tân Ước, của
những sự lành khác như triết lư, th́ Ngài như
hậu quả. Chính Ngài đă ban triết lư cho người
Hylạp trước khi những người này
được gọi. Thực vậy, triết lư dạy
những người Hylạp như cách thức một
thầy giáo, như Lề luật đă dạy dân Do Thái,
hướng về Đức Kitô.
Kinh Thánh nêu lên nhiều đường
cứu độ không chỉ cho một người
nhưng cho nhiều người công chính theo, như đă
viết: đường người công chính sáng ngời
như ánh sáng. Như vậy có những giới răn, những
huấn thị (propédeutiques), những đường
và những phương lược cứu độ
đi trước.”[160]
Chỗ khác Ngài viết: “Thiên Chúa
chăm sóc tất cả hoàn vũ v́ Ngài là Chúa của
hoàn vũ. Ngài là cứu chúa, không phải là cứu chúa của
người này mà không là cứu chúa của người
khác. Nhưng Ngài đổ tràn hồng ân của Ngài theo
khả năng của từng người, trên người
Hylạp và người mọi rợ, và cũng như
trên người được gọi vào giờ đă
định.”[161]
Chỗ khác nữa Ngài viết:
“Thiên Chúa đă ban cho chúng ta một giao ước mới. Bởi
v́ giao ước liên quan đến người Do Thái và Hylạp
đă là giao ước cũ. Theo ư kiến tôi, thánh
Phao-lô đă dạy rơ ràng rằng: cùng một Thiên Chúa và
duy một Thiên Chúa đă được biết, bởi
người Hylạp theo cách người ngoại, bởi
người Do Thái theo cách Do Thái giáo, nhưng bởi
chúng ta cách thiêng liêng...
Thiên Chúa đă ban cho chúng ta hai
giao ước, nhưng đồng thời cho người
Hylạp triết lư hylạp, trong đó Ngài được
tôn vinh bởi người Hylạp...
Bởi v́ cũng như Thiên Chúa
muốn cứu những người Do Thái bằng cách
ban cho họ các tiên tri, th́ cũng vậy Ngài đă chọn những
người thanh cao nhất giữa những người
Hylạp, và đă đặt họ như các tiên tri
trong ngôn ngữ của họ với mức độ nhờ
đó họ có thể nhận biết ḷng nhân từ của
Thiên Chúa.”[162]
Như vậy chúng ta thấy:
thánh Clément thành Alexandria đặt sóng đôi song đối
giữa Do Thái giáo và triết lư Hylạp; dân Do Thái được cứu
độ với các tiên tri, th́ người Hylạp
cũng được cứu độ với triết
lư. Dân Do Thái nhận ra ḷng nhân từ của Thiên Chúa
qua giao ước và lề luật, th́ người Hylạp
cũng nhận ra ḷng nhân từ của Thiên Chúa qua sự
khôn ngoan triết lư mà Thiên Chúa ban cho họ; nói cách khác,
triết lư cũng là phương lược cứu độ
cho người Hylạp. Nếu Clément d'Alexandrie đă
đặt song đối giữa triết lư và Do Thái
giáo, thiết tưởng chúng ta cũng có thể đặt
song đối giữa các tôn giáo ngoài Kitô và Do Thái giáo, v́
tôn giáo ngoài Kitô cũng là cách cho người ngoại tôn
vinh Thiên Chúa theo cách của họ.
Ở thời trung cổ, chúng ta
sẽ xét hai vị khá nổi tiếng, đặc biệt khi
các ngài bàn về hoặc nói về tôn giáo ngoài Kitô, đó
là thánh Bernard và Hồng y Nicolas de Cusa.
Thánh Bernard (1090-1153) sinh tại Fontaines
les Dijon (Côté d'Or); ngài thiết lập nhiều tu viện.
Khi bàn về phép rửa tội,
ngài viết: “Ai mà không biết thuở xưa, có một
phương thuốc khác phép rửa để chống
lại tội nguyên tổ.
Đối với Abraham, và ḍng
giống ông, có mầu nhiệm cắt b́ ban kết quả này
cách thần linh.
Đối với các dân, chúng tôi
cho rằng những người sống trong tín ngưỡng
đă được tha thứ, người lớn bởi
đức tin và các hy lễ, trẻ con th́ bởi đức
tin của cha mẹ.”[163]
Với đoạn văn trên,
chúng ta có thể nói thánh Bernard phân những người
được cứu khỏi tội nguyên tổ làm ba loại: loại
thứ nhất là những Kitô hữu nhờ phép rửa, loại
thứ hai là dân Do Thái với phép cắt b́, và loại thứ
ba là những người sống trong các tôn giáo khác nhờ đức
tin và hy lễ của họ. Ở đây chúng ta dám nói tới
các tôn giáo ngoài Kitô v́ thánh nhân có nhắc đến đức
tin và hy lễ. Ngoài Do Thái giáo, đă có những người
như Abel, Hênoc, Noê, Melkisêđêc, Balaam, dâng hy lễ lên
Thiên Chúa.
Nicolas de Cusa sinh năm 1401,
được phong hồng y năm 1448, và mất
năm 1464. Ngài là thần học gia có cái nh́n rất tích cực
về các tôn giáo ngoài Kitô.
Ngài cho rằng: “Thiên Chúa đă
nói với mọi dân tộc qua những ngôn sứ. Chính
các tiến sĩ, tiên tri này dạy cho mỗi tôn giáo học
thuyết và nghi lễ của họ. Những sự
khác biệt này là điều đẹp ḷng Thiên Chúa và làm rạng
ngời vinh quang Thiên Chúa hơn. Tuy nhiên Kitô giáo hoàn thành
cách trọn hảo cái chính yếu của tôn giáo đích
thực: Kitô giáo là cách diễn tả hoàn hảo nhất của
tôn giáo đích thực này.”[164]
Lời tóm trên của Gustave
Thils rất chính xác và đúng đắn, chúng ta cùng nhau
đọc tiếp một lời nguyện nữa của
hồng y Nicolas de Cusa để rơ hơn cái nh́n của ngài:
“Lạy Chúa, Ngài biết một
số lớn sống với nhiều điều trái
ngược, và hầu như tất cả mọi
người sống đời khổ cực, lo lắng,
đau khổ và dưới ách thống trị của
những vua chúa; v́ thế có rất ít người giữa
họ có giờ để đạt tới cái biết về
chính họ như họ muốn. Họ bị thúc đẩy
bởi những mối lo và những công việc trần thế
và không thể t́m Ngài, vị Thiên Chúa ẩn ḿnh. Chính v́ thế
Ngài đă gởi xuống cho dân Ngài những vị vua, những
nhà thấu thị, được gọi là các tiên tri.
Một số lớn trong họ khi hoàn thành trách nhiệm
và nhân danh Ngài, đă qui định những hành vi tôn
giáo và những luật lệ, và đă dạy dỗ dân vô
tri. Và họ đă nhận các luật này như thể
Ngài đă nói với họ mặt đối mặt,
như vị Vua của các vua. Họ đă nhận trong
niềm tin rằng họ nghe những luật này, th́
không phải là nghe các tiên tri nhưng là nghe Ngài trong các
tiên tri.
Với những dân tộc khác
nhau, Ngài đă gởi các tiên tri và những tiến
sĩ (thầy dạy) khác nhau, người này ở giai
đoạn này, kẻ khác ở giai đoạn khác. Những
điều này ở trong điều kiện con người,
sau thói quen lâu dài đă trở nên như bản chất
không thể đổi, được bảo vệ
như chân lư. Chính v́ thế đă nảy sinh ra những điều
mâu thuẫn đối chọi nhau, khi mà mỗi nhóm quí chuộng
niềm tin của ḿnh hơn niềm tin của nhóm khác.”[165]
Qua những bản văn
được trích trên, chúng ta thấy rơ cái nh́n và lập trường
của hồng y Nicolas de Cusa. Với Ngài, các tôn giáo hiện
diện cho những dân tộc khác nhau, và các tôn giáo này nằm
trong chương tŕnh của Thiên Chúa. Nói cách khác, các tôn
giáo- dù ngoài Kitô giáo- vẫn có giá trị cứu độ, vẫn
là phương tiện cứu độ của Thiên
Chúa cho con người trong những dân tộc và hoàn cảnh
sống, cùng nền văn hóa khác nhau.
Giá trị cứu độ của
các tôn giáo ngoài Kitô là một vấn đề có tầm quan
trọng đặc biệt với các nước
phương đông như châu Á, nhưng nó vẫn c̣n là
vấn đề thần học khá mới và chưa
được nhiều người bàn tới. Ở
đây chúng ta chỉ xét một vài tác giả đặc biệt.
Tiền bán thế kỷ XX,
Romano Guardini cho rằng: “Đức Giêsu có những tiền
hô, trong thế giới Hy lạp có Socrate, ở phương
đông có đức Phật cũng như Gioan tiền hô ở
xứ Do Thái.”[166]
Quan niệm coi Đức Phật
là tiền hô của Đức Giêsu hàm chứa rằng các
tôn giáo do những vị đó khởi lập sẽ tiếp
nhận Đức Giêsu. Và chúng ta cũng đă biết:
tất cả những ǵ giúp nhận ra Đức Giêsu là
Kitô, là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa đều là công tŕnh của
Thánh Thần (1Cr 12:3). Như vậy các tôn giáo ngoài Kitô có
giá trị cứu độ.
Đức Giáo hoàng Piô XII trong bài
nói chuyện với các “cô đỡ” ngày 29.10.1951:
“Một hành vi t́nh yêu có thể
đủ cho một người trưởng thành nhận
ân sủng thánh hóa và bù đắp việc không có phép rửa.”[167]
Trong sứ điệp gởi
qua hệ thống truyền thanh cho hội nghị tại
Ernakulam ngày 31.12.1952, Ngài nói:
“Các con hăy làm cho thấy rơ, tất
cả những ǵ là chân thật và tốt đẹp trong
các tôn giáo khác đều t́m thấy ư nghĩa sâu xa và sự
bổ túc hoàn hảo nơi Đức Kitô.”[168]
Yves Congar, thần học gia nổi
tiếng, đă trích dẫn câu của Th. Ohm: “Không có tôn
giáo ngoài Kitô nào mà ở đó người ta không t́m thấy một
loại, một dấu vết của t́nh yêu Thiên Chúa.”[169]
Chẳng hạn trong Ấn độ giáo cũng có một
giáo phái lấy đức ái (Bakti) làm con đường
căn bản phải thực hành để được
cứu độ.
Karl Rahner, thần học gia có tầm
vóc vào loại lớn nhất của thế kỷ
XX, cũng có quan niệm tích cực về các tôn giáo
ngoài Kitô, đặc biệt những tôn giáo ngoài Kitô tiền
Kitô giáo.
Chúng ta có thể tóm tắt lập
luận của K. Rahner như sau:
Con người là sinh vật xă hội,
nên tín ngưỡng của con người cũng
được diễn tả cách xă hội, nghĩa là các
tôn giáo như chúng ta thấy ngày nay; có các tôn giáo ngoài Kitô
hiện hữu trước Do Thái giáo và Kitô giáo là chuyện
tự nhiên.
Thiên Chúa muốn con người
được cứu độ cách siêu nhiên, nghĩa
là, chủ quan được ân sủng hướng dẫn
và khách quan qua phượng tự và các luật luân lư.
Như vậy các tôn giáo ngoài Kitô
nằm trong chương tŕnh cứu độ của
Thiên Chúa. Tuy nhiên những tôn giáo ngoài Kitô này không có những
khách quan tính của lịch sử cứu độ như
nhau.[170]
H. R. Schlette, trong tác phẩm Die
Religionen als Thema der Theologie xuất bản bởi Herder
năm 1963 và được dịch ra tiếng Anh bởi
W. J. O'Hara năm 1966 với tựa đề Towards a
theology of Religions, đă bảo vệ lập trường
coi các tôn giáo ngoài Kitô nằm trong chương tŕnh Thiên Chúa cứu
độ con người.
Tác giả phân biệt lịch sử
cứu độ thông thường và lịch sử cứu
độ đặc biệt khi bàn về lịch sử cứu
độ. Bởi v́:
· con người có tính lịch sử,
· lịch sử thế trần được
nhận là lịch sử thế trần nếu
đứng trên quan điểm lịch sử cứu
độ, và cũng chính lịch sử thế trần
được nhận ra là lịch sử thánh cũng
nhờ đứng trên quan điểm lịch sử
cứu độ.
· Lịch sử thánh, mà nhờ lịch sử này và
đứng trên quan điểm của lịch
sử này mà nh́n lịch sử thế trần và
nhận ra đó là lịch sử thánh, là lịch sử
thánh đặc biệt.
Với lập luận của
Schlette về các tôn giáo ngoài Kitô, sự khác biệt giữa
lịch sử thánh thông thường và lịch sử thánh
đặc biệt là điểm quyết định!
H. R. Schlette cũng dựa vào 11
chương đầu của sách Khởi Nguyên và cụ thể là
ḍng truyền thống Y để chứng minh cho lập
trường của ông. Tác giả cũng nhận rằng
tŕnh thuật này có tính tâm nguyện, nhằm nối kết
lịch sử dân
Dựa vào giao ước Noê, tác
giả cho rằng tương quan giao ước không chỉ
hiện hữu giữa Thiên Chúa và Israel nhưng cũng
đă hiện hữu với những người không
phải là Israel, hơn nữa với mọi người
và ngay cả với mọi sinh vật trên đất nữa.
Như vậy khi suy nghĩ về giao ước Noê, chúng
ta thấy ơn cứu độ có thể được
đạt tới với t́nh trạng của giao ước
này, nghĩa là t́nh trạng “ngoại.”
Lập luận của H. R.
Schlette:
· Con người là một sinh vật xă hội, nên
mọi sinh hoạt của con người đều
mang tính xă hội, kể cả hành vi tôn giáo, và những hành
vi tôn giáo với tính xă hội này phải có tính cứu
độ trừ phi chúng ta chứng minh chắc
chắn rằng ngược lại.
· Lịch sử thánh thông thường (so với
lịch sử thánh đặc biệt khởi
đầu với dân Israel) có thể và phải
được coi là Thiên Chúa muốn, nên các tôn giáo ngoài Kitô
phải được coi là điều Thiên Chúa muốn
và thánh hóa, ngay cả với t́nh trạng hiện
tại của các tôn giáo đó.[171]
Gút lại ư kiến của H. R.
Schlette: các tôn giáo ngoài Kitô là cách diễn tả xă hội của
việc con người t́m kiếm Thiên Chúa được
Thiên Chúa muốn, nên cũng nằm trong chương tŕnh cứu độ
và là hồng ân của Thiên Chúa. Các tôn giáo ngoài Kitô là những
con đường cứu độ, những con đường
cứu độ trong lịch sử thánh thông thường
(so với con đường cứu độ đặc
biệt là Giáo Hội trong lịch sử thánh đặc
biệt).[172]
Với quan điểm Kitô giáo,
chúng ta nhận thấy nơi các tôn giáo ngoài Kitô có những
điểm sau:
· những điểm tích cực như tin vào
Tuyệt Đối; dạy ăn ngay ở lành; có
nhiều điều đúng và hay,
· có những nhà thần bí kết hiệp với
Tuyệt Đối,
· nhưng cũng có nhiều điều sai lầm
không thể dung hợp với đức tin Kitô giáo,
chẳng hạn như thuyết luân hồi nơi
đạo Phật và đặc biệt hiện
tượng Hồi giáo phá hủy các cộng đoàn Kitô
hữu ở Đông Phương cũng như việc coi
Mahomet trên Đức Giêsu; các tôn giáo ngoài Kitô dường
như ngăn cản người ta tin nhận Đức Giêsu.
Lập trường tiêu cực
về các tôn giáo ngoài Kitô lấy những điểm không
tích cực làm luận chứng chính, thế nhưng
không giải thích được cách ổn thỏa những điểm
tích cực nơi các tôn giáo ngoài Kitô. Lập trường
tích cực như chúng ta đă xét từ trước tới
giờ, giải thích tạm ổn những nét tích cực
nơi các tôn giáo ngoài Kitô, nhưng vẫn chưa giải
thích thỏa đáng những sai lầm nơi các tôn giáo
ngoài Kitô và đặc biệt hiện tượng Hồi
giáo.
Với nhăn quan mặc khải
nh́n các tôn giáo ngoài Kitô, hy vọng đóng góp phần nào
vào nỗ lực giải thích hiện tượng các tôn
giáo ngoài Kitô, theo quan điểm Kitô giáo, có những điểm
tích cực cũng như tiêu cực.
Những bước chính của
lập luận này như sau:
· Thiên Chúa muốn cứu độ con người,
Ngài đă mặc khải để cứu độ
con người. Mặc khải là hành vi cứu
độ.
· Nếu tôn giáo ngoài Kitô có mặc khải, th́ tôn giáo
ngoài Kitô cũng là phương tiện Thiên Chúa dùng
để cứu độ con người.
· Với ánh sáng về Do Thái giáo và với giáo
huấn về việc lưu truyền và bảo vệ
mặc khải nơi Kitô giáo, chúng ta giải thích
được những sai lầm nơi các tôn giáo ngoài
Kitô và hiện tượng Hồi giáo.
Thiên Chúa muốn tất cả mọi
người được cứu độ và nhận biết
chân lư (1Tm 2:4).
Để thực thi
chương tŕnh cứu độ con người, Thiên Chúa
đă mặc khải chính Ngài và chương tŕnh cứu
độ loài người cho con người. Thiên Chúa mặc
khải để cứu độ con người; và nếu
không có mặc khải th́ không có cứu độ; hành
vi mặc khải của Thiên Chúa cũng là hành vi Thiên
Chúa cứu độ con người.
Như vậy, để biết
các tôn giáo ngoài Kitô có là phương tiện Thiên Chúa dùng
để cứu độ con người hay không- hay nói
cách khác các tôn giáo ngoài Kitô có nằm trong chương tŕnh
Thiên Chúa cứu độ con người hay không- chúng
ta t́m hiểu xem các tôn giáo ngoài Kitô có mặc khải không. Nếu chúng
ta chứng minh được có mặc khải trong các tôn
giáo ngoài Kitô, chúng ta có thể kết luận các tôn giáo
ngoài Kitô nằm trong chương tŕnh cứu độ con
người của Thiên Chúa, hay nói cách khác, các tôn giáo
ngoài Kitô cũng là phương tiện Thiên Chúa dùng để
cứu độ những người sống trong các tôn
giáo đó.
Con người có khả năng
tiếp nhận mặc khải của Thiên Chúa, bởi v́
Thiên Chúa đă tạo dựng nên con người để
con người được sống hạnh phúc với Thiên
Chúa, để con người được thông giao với
Thiên Chúa.
Con người tự bản chất
có khả năng khai mở về Tuyệt Đối và khả
năng này vô hạn. Nếu con người tự
đóng kín với chính ḿnh hay những ǵ phàm trần mà
không vươn lên, con người không đạt
được chính ḿnh, không trở nên như ḿnh phải
là, nghĩa là không đạt đến mức độ
thành toàn.
Khi Thiên Chúa tạo dựng nên con
người, Ngài đă tạo dựng để con người được
trở nên giống Ngài. Nói cách khác, khi tạo dựng nên
con người, Ngài đă sống tương quan thân
thiết với con người, nghĩa là không ngừng
mở ra với con người, không ngừng mặc khải
cho con người. Hiểu như vậy, Thiên Chúa luôn luôn mặc
khải cho con người!
Những người sống
trong các tôn giáo ngoài Kitô tin rằng Tuyệt Đối đă
mặc khải cho họ qua tôn giáo họ đang sống.
Nói cách khác họ tin rằng tôn giáo của họ là tôn
giáo mặc khải. Chẳng hạn những người
theo đạo Balamôn coi Rig-Veda là Çruti, nghĩa là Lời
mặc khải, người sống trong Do Thái giáo tin rằng
Ngũ Kinh của họ được mặc khải,
người Hồi giáo tin rằng kinh Coran là Kinh Thánh.[173]
Mặc khải cũng có nhiều
cấp độ, chúng ta có thể tạm chia làm 3 cấp
độ:
Nghĩa là qua tự nhiên thiên
nhiên, con người có thể nhận ra sự hiện
diện của Thiên Chúa. Chẳng hạn:
“Vinh quang Thiên Chúa trời xanh vang
lời kể lể, ṿm cao xanh thuật lại việc
Người làm, ngày ngày thổ lộ nên lời, đêm với
đêm tỉ tê rằng biết; nhưng chẳng rằng
cũng chẳng nói năng, không vang một tiếng ḥng lọt thấu
tai mà ḱa vạn lư thấy toàn cơi đất, và từ ngữ
đạt tới mút cùng dương gian” (Tv 18:2-5). Hoặc:
“V́ chưng lộ hiện rồi những ǵ biết
được về Thiên Chúa, bởi Thiên Chúa đă bày
tỏ cho họ. V́ từ buổi tạo thành vũ trụ,
những ǵ nơi Người, mắt xác thịt không
thể thấy, th́ trí khôn nh́n ngắm được nơi công
việc Người làm” (Rm 1:19-21).
Chúng ta có thể nói: mặc khải
tự nhiên này được ban cho tất cả mọi
người, và nếu không nhận được mặc
khải nào đặc biệt hơn, con người vẫn
phải đáp trả mặc khải tự nhiên này bằng
đức tin “tự nhiên.” Lương tâm cũng được
coi là mặc khải tự nhiên, v́ được coi là
“tiếng Chúa” nói với mỗi người.
Mặc khải thần bí là mặc
khải được ban cho một số người
đặc biệt, chẳng hạn cho các nhà thần bí. Có
thể coi những người khởi lập nên tôn giáo
được mặc khải này- nếu họ
được mặc khải thực, v́ mặc khải gắn
liền với con người, mà con người có tính
xă hội, nên khi một người được mặc
khải, họ thường chia sẻ kinh nghiệm về
Tuyệt Đối họ gặp được cho những
người thân, cho những người xung quanh. Và
như vậy một tôn giáo được khởi lập,
bởi v́ với những mặc khải họ nhận
được (và sau đó những người cùng
chia sẻ niềm tin với họ), họ có thái độ
đối với Tuyệt Đối được biểu
lộ qua những hành vi cá nhân (khi chỉ có một người)
hay qua hành vi tập thể (khi có nhiều người cùng
chia sẻ niềm tin).[174]
Mặc khải đặc biệt
nơi Kitô giáo với Đức Giêsu là Lời Nhập Thể!
Kinh Thánh Kitô giáo cũng chấp
nhận sự kiện Thiên Chúa mặc khải cho những
người ngoài Kitô giáo, những người sống trong
các tôn giáo ngoài Kitô.
Ngay sau khi con người đầu
tiên phản bội, Thiên Chúa đă đi t́m con người
và ngỏ lời với con người đầu tiên, dù rằng
con người lẫn tránh Thiên Chúa (St 3:9-10). Trong lần
gặp gỡ này, ơn cứu độ đă được
hứa ban cho con người (St 3:15).
Hênok được Kinh Thánh ca ngợi,
cho rằng ông đă bước đi với Thiên Chúa (St
5:22-24).
Như vậy chúng ta thấy Thiên
Chúa không ngừng hiện diện và tương quan với
con người.
Trong giao ước Thiên Chúa
kư kết với Noe và gia đ́nh ông, giao ước này không
chỉ gồm Noe và gia đ́nh, nhưng bao gồm tất
cả sinh vật sống với họ: “Này đây là dấu
Ta đặt giữa Ta và các ngươi, cùng tất cả
chúng sinh ở với các ngươi, đời đời
măi măi” (St 9:12.15-17).
Tương quan giữa Thiên Chúa
và con người đă được chính Thiên Chúa quyết định,
Ngài không ngừng ngỏ lời, đối thoại và tỏ
hiện với con người để cứu độ
con người. Sau biến cố Thiên Chúa gọi Abraham,
Ngài vẫn tỏ ḿnh cho những người ngoại
như trong trường hợp Balaam. Balaam là tiên tri
của dân ngoại bên bờ sông Phơrat, ông đă có
tương quan khá mật thiết với Thiên Chúa dù ông
không phải người
Với Kyrô xứ Batư, tiên tri
Isaia nói là Thiên Chúa đă xức dầu phong vương
để ông giải phóng dân Israel khỏi bị lưu
đày ở Babylon, Kyrô là một người ngoại
làm vua dân ngoại, nhưng Thiên Chúa đă gọi ông, tuyển chọn
ông, đă nói với ông (Is 44:28; 45:1). Kyrô được
Thiên Chúa phong vương, nhờ ông mà dân
Thiên Chúa đă nói với những
người trong Do Thái giáo. Không ai trong chúng ta phủ nhận
Do Thái giáo là tôn giáo được mặc khải, thế
nhưng tại sao đa số thành viên của Do Thái không
đón nhận tin mừng Đức Giêsu Kitô?
Do Thái giáo là tôn giáo được
mặc khải, nằm trong chương tŕnh cứu độ
con người của Thiên Chúa, thế mà tại sao Do Thái
giáo vẫn chống đối Đức Giêsu, chống
đối Công Giáo? Tại sao Do Thái giáo bách hại Giáo Hội
sơ khai, giết chết Stêphanô? Tại sao các thành viên Do
Thái giáo như Saul bách hại các Kitô hữu? v.v.
Nếu những tôn giáo ngoài Kitô
cũng có những yếu tố được mặc khải,
cũng là phương tiện Thiên Chúa dùng cứu độ những
người sống trong đó, th́ tại sao có những
sai lầm không thể dung hợp với đức tin Kitô
giáo, chẳng hạn:
· đạo Cao Đài cho rằng đạo Công Giáo
cũng chỉ như những đạo khác, Đức
Giêsu chỉ là một vị tiên tri lớn như bao vị
tiên tri lớn khác mà thôi?
· đạo Phật chủ trương luân hồi,
nghĩa là chết có thể đầu thai làm
người lại hoặc làm con vật nếu họ
không đuợc giải thoát lên cơi niết bàn?
· Hồi giáo coi Đức Giêsu là một tiên tri
lớn nhưng không phải là Thiên Chúa.
Để trả lời, chúng ta
xem gương người Do Thái. Họ cùng với chúng ta
tin Cựu Ước là Lời Thiên Chúa nói với con người,
và như vậy không thể sai lầm. Chính Đức
Giêsu cũng tin như vậy: “Trước khi trời đất
qua đi th́ một chấm một phết cũng sẽ
không qua khỏi lề luật, trước khi mọi sự đă
xảy ra” (Mt 5:18). Nhưng nơi người Do Thái, chúng ta
thấy không chỉ có Kinh Thánh mà người ta c̣n có tập
tục tiền nhân, và lắm khi người ta c̣n coi tập
tục của tiền nhân trên cả lệnh truyền
của Thiên Chúa. Đức Giêsu đă tố cáo việc
này (Mt 15:1-20). Người Do Thái đă quá nô lệ vào lề
luật vào chữ viết, và không hiểu đúng lệnh
truyền của Thiên Chúa; chẳng hạn họ coi con
người được tạo dựng v́ lề luật,
chứ không phải lề luật v́ con người (Mt
12, 1-14). Khi họ giải thích lề luật như vậy,
giải thích Lời Chúa như vậy, họ đă
đem ư họ làm ư Chúa, và như vậy là sai lầm. Hậu quả
là họ không tin nhận Đức Giêsu!
Với ánh sáng của người
Do Thái giáo, chúng ta có thể trả lời:
Các tôn giáo ngoài Kitô có những sai
lầm và cũng có những chân lư, có những yếu tố
mặc khải;
những yếu tố mặc khải
và chân lư đến từ Thiên Chúa nhưng những điều
sai lầm đến từ con người, là công tŕnh của
con người.
Sở dĩ có trường hợp
như vậy một phần v́ con người đă đi
quá những điều Thiên Chúa muốn mặc khải,
con người muốn có một hệ thống hợp
lư và chắc chắn; phần khác v́ con người chưa
b́nh tâm lắng nghe Thánh Thần và không được đặc
ân lưu truyền mặc khải cách vẹn toàn
như Giáo Hội Công Giáo.
Như vậy, với ư định
Thiên Chúa muốn cứu độ mọi người, cùng
với những đoạn Kinh Thánh cho thấy Thiên Chúa
đă nói với dân ngoại và ngay cả tiên tri của dân
ngoại, cùng với những kinh nghiệm về Thiên Chúa
mà chúng ta thấy nơi các tôn giáo ngoài Kitô những kinh
nghiệm rất sâu xa và những điều chân thật.[175]
Chúng ta có thể kết luận: Thiên Chúa không chỉ mặc
khải cho dân ngoại và cho những người sống
trong các tôn giáo ngoài Kitô qua việc tạo dựng, qua
lương tâm, qua sự khôn ngoan do lư trí t́m kiếm,
nhưng Ngài c̣n mặc khải cho họ qua lời hoặc
qua chính cuộc sống và con người của người
mà Thiên Chúa đă và bày tỏ ư định của Ngài,
cách đặc biệt nơi các vị sáng lập tôn giáo và
những thành viên được mặc khải riêng đặc
biệt.
Nếu chúng ta hiểu biểu
tượng là dấu chỉ của thực tại vô h́nh,
và dấu chỉ là thực tại khả giác mang ư
nghĩa, th́ biểu tượng là thực tại khả
giác mang ư nghĩa của thực tại vô h́nh.[176]
Dựa vào tương quan giữa
thực tại được biểu tượng và thực
tại biểu tượng, người ta đă phân
làm ba loại: biểu tượng quy ước, biểu
tượng tự nhiên và biểu tượng thực.
Chẳng hạn trong lănh vực
tôn giáo,
· biểu tượng quy ước: cái hào quang trên
đầu ai đó là biểu tượng người
đó thuộc về Thiên Chúa, là thánh;
· biểu tượng tự nhiên: trái tim Đức
Giêsu là biểu tượng t́nh yêu của Thiên Chúa
hoặc của chính Đức Giêsu đối với
con người;
· biểu tượng thực: các bí tích Kitô giáo
như phép rửa, Thánh Thể, v.v. Gọi là biểu
tượng thực, v́ nó vừa là
biểu tượng vừa là thực tại được
biểu tượng.
Biểu tượng- xét như dấu
chỉ của thực tại vô h́nh- là cây cầu giữa
cái khả kiến và cái vô h́nh, giữa thời gian và
vĩnh cửu, giữa hữu hạn và vô cùng. Dưới
một khía cạnh nào đó, có thể coi thiên nhiên
như tỏ lộ của Thiên Chúa, và như vậy chỉ
cần nh́n thiên nhiên, và thấy nơi những ǵ hữu
h́nh này dấu chỉ về thực tại vô h́nh, dấu
chỉ của Thiên Chúa. Thiên nhiên là biểu tượng
của Thiên Chúa.[177]
Đây là những biểu tượng tự nhiên mà
đă là người, với bất cứ nền văn
hóa nào, cũng có thể lănh hội được. Ngay
cả cục đá, cái cây, một lịch sử, một
người, cũng có thể trở thành biểu
tượng của Thiên Chúa cho những người
có kinh nghiệm hoặc những người chấp nhận
chia sẻ niềm tin của những người
được kinh nghiệm.[178]
Biểu tượng xét như là
một dấu chỉ của thực tại vô h́nh là ngôn ngữ của
tôn giáo. Nói đến tôn giáo là nói đến thực tại
vô h́nh, một “thực tại hoàn toàn khác” không thuộc thế
giới của chúng ta, là nói đến kinh nghiệm về
thực tại vô h́nh và nỗ lực diễn tả chính thực tại
hoàn toàn khác này, là nói đến thái độ của
con người đối với thực tại siêu việt
này.
Người có kinh nghiệm về
thực tại hoàn toàn khác này, có thể diễn tả những
kinh nghiệm ḿnh có với thực tại cũng
như chính thực tại bằng ngôn ngữ triết
học và thần học, hoặc bằng các h́nh ảnh nghệ
thuật, nhưng ngôn ngữ thích hợp nhất đối
với đối tượng “thực tại hoàn toàn khác”
này là ngôn ngữ biểu tượng.[179]
V́ thực tại được
kinh nghiệm thuộc về thế giới khác, nên chỉ
diễn tả được phần nào, chỉ diễn tả
được khía cạnh nào đó của thực tại
siêu việt thôi. Ngay cả với biểu tượng-
ngôn ngữ đặc biệt của tôn giáo- cũng chịu
giới hạn này: một đàng giúp hiểu thực tại
siêu việt nhưng đàng khác cũng che dấu chính thực
tại này.[180]
Biểu tượng không là thực
tại đó, không trùng khít với thực tại siêu việt
mà biểu tượng diễn tả;[181]
tự bản tính, biểu tượng mời gọi
con người vượt biểu tượng để
đi đến chính thực tại siêu vượt mà
biểu tượng diễn tả. Trường hợp
Đức Giêsu là đặc biệt, Ngài vừa là h́nh ảnh,
biểu tượng của Thiên Chúa, nhưng Ngài
cũng chính là Thiên Chúa nữa. Ngài là biểu tượng
thực: vừa là biểu tượng vừa là chính thực
tại siêu việt.[182]
Kinh nghiệm với Đấng
Hoàn Toàn Khác, với Đấng siêu việt của cá nhân hay
của một tập thể (khi tập thể này chia sẻ
cái biết, niềm tin, và cách diễn tả đối với Thực
Tại Siêu Vượt của một cá nhân), được
diễn tả đầu tiên bằng ngôn ngữ của
biểu tượng, dù thuộc lănh vực tri thức
hay thái độ sống, thuộc lănh vực giáo lư hay
nghi lễ. Chẳng hạn đức tin của các Kitô
hữu “Tôi tin một Thiên Chúa là Cha toàn năng, tôi tin Đức
Giêsu là Con Một Thiên Chúa là Chúa chúng tôi, tôi tin Thánh Thần,...”
đầu tiên được gọi là biểu tín (biểu
tượng của đức tin) nghĩa là cái qua
đó diễn tả thực tại ḿnh tin.[183]
Từ ngữ Cha để chỉ
Thiên Chúa, và từ ngữ Con Một để chỉ Ngôi Lời,
cũng được coi là những từ ngữ biểu
tượng; v́ rằng nếu không hiểu theo nghĩa
biểu tượng người ta sẽ luôn luôn hiểu
Cha có trước Con, và Con hiện hữu sau Cha, bé
hơn Cha; nhưng đối với đức tin của
chúng ta: Cha và Con bằng nhau, không ai lớn hơn
ai, Cha không có trước Con và Con không có sau Cha. Như vậy
nếu hiểu theo nghĩa b́nh thường, chúng ta thấy
đầy dẫy mâu thuẫn trong niềm tin của
chúng ta và khó có thể chấp nhận được; nhưng
nếu chúng ta hiểu từ ngữ này như những từ
ngữ biểu tượng, diễn tả Thực Tại
Siêu Việt, th́ chúng ta có thể hiểu được
phần nào Thực Tại, và có thể chấp nhận
cùng tin được. Lấy thêm thí dụ, chẳng hạn
khi người ta thờ trời và bầu trời
được coi là biểu tượng của Thiên Chúa.
Trong trường hợp này người ta không tôn thờ
khoảng không ở trên đầu, nhưng người
ta tôn thờ Thực Tại Siêu Vượt mà khoảng
không “trời” ở trên đầu người ta diễn
tả những thuôc tính của Ngài, như thực sự
siêu vượt cao vời trên con người, sự vô
cùng; và như vậy người ta tôn thờ thực tại
mà bầu trời biểu hiện! Cũng tương tự
như vậy khi người ta tôn thờ thần Cây
Đa, thần Cục Đá; người ta không thờ v́
chúng là Đá là Cây, nhưng người ta tôn thờ Thực
Tại ẩn giấu sau những biểu tượng
Đá Cây đó.[184]
Biểu tượng gắn liền
với kinh nghiệm “thánh thiêng” của một cá nhân hay một
tập thể nào đó, như vậy biểu tượng gắn
liền với nền văn hóa của tập thể kinh
nghiệm về thực tại hoàn toàn khác này.[185]
Biểu tượng không có gía trị
như nhau. Có biểu tượng diễn tả thực tại siêu
việt trong suốt hơn, và cũng có những biểu
tượng diễn tả “thực tại hoàn toàn khác” kém
rơ ràng hơn.
V́ gắn liền với nền
văn hóa, nên có biểu tượng mất dần ư
nghĩa hoặc tác dụng theo thời gian và tùy theo thế
hệ. Ngay với một người, theo thời gian, biểu
tượng cũng có thể biến nghĩa.[186] Nói
như vậy không muốn nói tất cả mọi biểu
tượng đều mai một theo thời gian; có những
biểu tượng gắn liền với kinh nghiệm của
một tập thể và tôn giáo, và biểu tượng này
chỉ mất nếu không c̣n tôn giáo đó nữa!
Qua biểu tượng, con
người có thể gặp lại kinh nghiệm của
những người đi trước, có thể có
kinh nghiệm với thực tại siêu việt như
những người và tập thể xưa đó.
Trong những trang trên, chúng ta
đă t́m hiểu và đi đến khẳng định:
· Thiên Chúa vui ḷng ban ân sủng cứu độ cho
tất cả mọi người, không những cho Kitô
hữu, mà c̣n cho cả những người sống
trong các tôn giáo ngoài Kitô và cho cả những người
chưa nhận biết Thiên Chúa- trừ phi lỗi tại
họ cố t́nh từ chối Tin Mừng Đức Giêsu
Kitô.
· Thiên Chúa tạo dựng con người là hồn và
xác, và Ngài thường ban ân sủng cho con người theo
cơ cấu “xác hồn.”
· Các tôn giáo ngoài Kitô có những
biểu tượng như dấu chỉ của
thực tại siêu việt vô h́nh. Các tôn giáo ngoài Kitô này
diễn tả kinh nghiệm với những hiểu
biết của ḿnh về Thực Tại Siêu Việt
cũng như thái độ của ḿnh với Tuyệt
Đối bằng những biểu tượng. Biểu
tượng ở đây có thể là những h́nh ảnh
nghệ thuật, hoặc thực tại qua đó có
hiện tượng thần hiển, hoặc những
từ ngữ, những biểu tín như giáo lư phải
tin, hoặc những nghi thức tế tự con
người dâng lên Thiên Chúa, v.v.
· Những người sống trong tôn giáo ngoài Kitô
này, qua các biểu tượng, có thể gặp lại
kinh nghiệm của người xưa (cá nhân hay
tập thể), và có thể có những kinh nghiệm và
sự hiểu biết mới về Tuyệt Đối
cũng như thái độ phải có đối với
Ngài nữa. Lịch sử các tôn giáo ngoài Kitô cho chúng ta
thấy điều này qua những bậc thánh, tăng
và các nhà thần bí.
· Những biểu tượng, cũng như
những tôn giáo ngoài Kitô này, không là công tŕnh hoàn toàn do con
người xét như con người độc lập
với Thiên Chúa, nhưng là công tŕnh của con
người với sự trợ giúp của Thiên Chúa trong
t́nh yêu của Ngài.[187]
Nghĩa là có những biểu tượng trong các tôn
giáo ngoài Kitô là công tŕnh của Thiên Chúa.
Thiên Chúa có thể ban ân sủng
cho con người mà không cần dấu chỉ,[188]
đây là trường hợp “đặc biệt” có thể
áp dụng cho tất cả mọi người dù
người đó thuộc bất cứ tôn giáo nào. Sự
thường, Thiên Chúa ban ân sủng cho con người
qua trung gian dấu chỉ hoặc biểu tượng,
v́ đó là ư định của Thiên Chúa. Sở dĩ vậy
v́ Thiên Chúa tạo dựng con người là hồn và
thân xác, tinh thần và vật chất, là tinh thần nhập
thể. Nói cách khác, ân sủng của Thiên Chúa là t́nh yêu của
Ngài đối với con người được diễn
tả và biểu lộ qua những dấu chỉ khả
giác, và tương tự con người đáp trả
bằng t́nh yêu đối với Thiên Chúa cũng được
diễn tả và biểu lộ qua những dấu chỉ
khả giác.[189]
Vậy chúng ta có thể kết
luận: Thiên Chúa muốn và vui ḷng ban ân sủng cứu
độ cho những người sống trong tôn giáo
ngoài Kitô qua những biểu tượng, những dấu
chỉ khả giác mang ư nghĩa của thực tại vô
h́nh có trong các tôn giáo đó, phần nào giống như
Ngài muốn ban ân sủng cho những Kitô hữu qua những
biểu tượng có trong Kitô giáo.[190]
Tất cả mọi người-
nếu họ được cứu độ, dù chưa
nhận biết Thiên Chúa hoặc đang sống trong các
tôn giáo ngoài Kitô- đều được cứu độ
nhờ Đức Giêsu Kitô và Giáo hội của Người,
v́ chỉ có một Đấng trung gian duy nhất giữa
Thiên Chúa và con người (1Tm 2:5) và v́ dưới gầm
trời này không có một Danh nào khác đă được
ban xuống cho nhân loại để phải nhờ vào
đó mà chúng ta trông được ơn cứu thoát (Cv 4:12), cũng
như v́ ngoài Giáo Hội không có ơn cứu rỗi.
Kitô hữu được cứu
độ nhờ:
· tin vào Thiên Chúa và Đức Giêsu Kitô, v́ “không có
đức tin, th́ vô phương làm đẹp ḷng Thiên
Chúa” (Hr 11:6);
· lănh nhận bí tích rửa tội và các bí tích khác;
· ăn ngay ở lành, sống giới răn yêu
thương như Thiên Chúa truyền cho chúng ta.
C̣n với những người không
sống trong một tôn giáo nào, họ chưa nhận biết
Thiên Chúa cách rơ ràng, nghĩa là họ chưa tin và không
lănh nhận các bí tích như chúng ta, phải chăng họ được
cứu độ chỉ nhờ ăn ngay ở lành, sống
theo lương tâm? hay họ vẫn được cứu
nhờ đức tin, qua các biểu tượng xét như
dấu chỉ của thực tại vô h́nh? Cũng
vậy đối với những người sống
trong các tôn giáo ngoài Kitô, họ có được cứu
bởi đức tin không? và đức tin nào? và các biểu
tượng giúp họ nhận ân sủng cứu độ
như thế nào?
Trong phần tương quan giữa
Công Giáo và các tôn giáo ngoài Kitô này, chúng ta sẽ xét về:
đức tin;
tương quan giữa bí tích
Công Giáo và biểu tượng ban ân sủng nơi các tôn
giáo ngoài Kitô;
công giáo tính của Giáo Hội thể hiện
qua việc truyền giáo.
Thánh Phaolô trong thư gởi tính
hữu Do Thái khẳng định: “Không đức
tin th́ vô phương làm đẹp ḷng Thiên Chúa” (Hr 11:6).
Vậy đức tin là
ǵ? Để chỉ điều này tiếng Do Thái dùng
những chữ:
· Aman gợi lên sự chắc chắn, vững chăi;
với từ ngữ này bản LXX dịch bằng
chữ PistiV, Pisteuw, Alhqeia, và bản phổ thông dịch bằng chữ
fides, credere, veritas;
· Batah gợi lên sự bảo đảm, tín thác;
bản LXX dịch bằng ElpiV, Elpizw, Pepoiqa; bản phổ thông dịch bởi spes, sperare, confide.[191]
Tin là một hành vi nhân linh,
nghĩa là với tất cả tự do và ư chí, chấp nhận
một ai đó, cho những điều họ nói là thật,
chắc chắn, trông cậy được.[192] Hiểu
như vậy, tin là sự gặp gỡ giữa hai ngôi vị,
là một cách biết, là sự thông hiệp giữa hai
ngôi vị. Đối với Kitô hữu trong lănh vực
tôn giáo, tin là biết Thiên Chúa hiện hữu, chấp nhận
tất cả những ǵ Ngài mặc khải, thông hiệp với
Thiên Chúa trong t́nh yêu.
Đối tượng đức
tin không phải là một sự vật nhưng là một
ngôi vị. Người ta không bao giờ tin vào cái ǵ,
nhưng tin vào ai đó, với đối tượng
là một sự vật, người ta có thể xác tín,
chứ không tin, không đặt niềm tin tưởng
vào một sự vật.[193]
Tin không chỉ chấp nhận
ai đó hiện hữu, nhưng c̣n là tin tưởng
phó thác trông cậy nơi người đó. Tôi tin
vào một ngân hàng, là tin vào người lănh đạo ngân
hàng đó có khả năng đáp ứng những
đ̣i hỏi cũng như hy vọng của tôi.[194] Một
người mẹ tin vào con ḿnh dù đă bao lần làm cho bà
thất vọng, không phải v́ bà đơn sơ hy vọng
hăo hoặc ảo tưởng nơi người con,
nhưng c̣n v́ cái sâu xa khác nữa. Như vậy
đức tin là hành vi qua đó con người phải dấn
thân, và như vậy cũng có thể nói, có tính chất
như một cuộc đánh cá phần nào, đ̣i
con người tin phải liều lĩnh, liều
lĩnh nhưng vẫn có sự chắc chắn nào đó.
Với lời khẳng định
của công đồng Vatican II trong hiến chế Lumen Gentium
16, chúng ta giải thích làm sao lời kết án của
Đức Giáo Hoàng Innccentê XI năm 1679 về những mệnh đề
của những người chủ trương nền
luân lư “rộng răi?” Mệnh đề bị kết án
chủ trương:
· “Đức tin Thiên Chúa duy nhất được
coi là cần thiết, sự cần thiết
phương tiện, không phải đức tin rơ ràng
Thiên Chúa Đấng thưởng phạt” (DS 2122);
· “Đức tin theo nghĩa rộng, từ chứng
từ các tạo vật hay bởi nguyên do tương
tự đủ để được công chính hóa” (DS 2123).
LG 16 cho rằng, không những
người tin Thiên Chúa hiện hữu nhưng cả những
người chưa nhận biết Ngài cũng có thể
được cứu rỗi. Sở dĩ những người
chủ trương nền luân lư rộng răi bị kết
án v́ họ cho rằng chỉ cần tin có Thiên Chúa là
đủ để được cứu độ, và
như vậy hàm chứa phủ nhận sự cần thiết
của việc mặc khải trong ḍng lịch sử. Lập
trường chủ trương như vậy rơ ràng là
sai lầm!
Lời kết án của Đức
Giáo Hoàng Innocentê XI ở trên không áp dụng cho những
người không nhận biết Thiên Chúa khi họ không thấy
rơ phải tin; v́ người ta chỉ bị buộc
cách luân lư phải tin khi người ta thấy rơ sự
khả tín,[195]
c̣n nếu không thấy rơ th́ không buộc phải tin.
Ai cũng biết là mọi
người đều được hưởng mặc
khải tự nhiên qua tạo vật, lương tâm. Nếu
con người cố t́nh từ chối khi thấy rơ
phải tin, người đó có lỗi và như vậy coi
như cố t́nh từ chối ơn cứu độ;
nhưng nếu người đó không thấy rơ phải
tin, có thể v́ một lư do nào đó như ảnh
hưởng nền giáo dục và xă hội, v́ hiểu sai về
Thiên Chúa,[196]
v.v., người đó không buộc phải tin; và như vậy
khi người đó không tin, người đó không có
lỗi; trường hợp sau này là trường hợp
được công đồng nói tới.
Dầu ngày nay vẫn có những
người chủ trương vô thần, nhưng thời gian
gần đây có những tác phẩm nói về Thiên Chúa của
người vô thần.[197]
Chúng ta không biết họ trả lời thế nào trước
Thiên Chúa về khẳng định vô thần của ḿnh,
có thể họ không có lỗi và nếu vậy họ
là đối tượng của lời cầu trong kinh
nguyện Thánh Thể: “chỉ một ḿnh Chúa biết
ḷng tin của họ.”[198]
Những người vô thần,
những người chưa nhận biết Thiên Chúa, và cả những
người nhận biết Thiên Chúa hiện hữu
nhưng không sống trong một tôn giáo nào, tất cả
những người này đều lănh nhận mặc khải
tự nhiên như vũ trụ vạn vật,
lương tâm và bao dấu chỉ tự nhiên trong cuộc sống
con người. Có thể họ không đọc ra ư
nghĩa của biểu tượng “thực tại
thiêng liêng” này, dù những dấu chỉ hay biểu
tượng này vẫn hiện diện đối với
họ:
· vũ trụ đẹp tươi là dấu
chỉ cho thấy phải có Đấng sáng tạo
tuyệt vời;
· t́nh yêu giữa con người với nhau như
t́nh yêu nam nữ, t́nh yêu vợ chồng, t́nh yêu con cái,
t́nh người, t́nh bạn, v.v., là dấu chỉ cho
thấy có một Đấng yêu họ vô cùng;
· sự chân thật, trung thành, quảng đại mà
họ gặp trong cuộc sống thường ngày
cũng là dấu chỉ biểu tượng cho thấy
chân, thiện, mỹ của Đấng đă thông ban
những sự đó cho con người;
· lương tâm như tiếng nói nhủ bảo
họ ăn ngay ở lành, làm lành lánh dữ nhưng có
thể họ không nhận ra tiếng nói luôn trung thành dơi
theo họ là của Thượng Đế, dù trong
cuộc sống họ vẫn tùng phục vâng lời.
Mặc khải tự nhiên vẫn
luôn là hiện tại cho những người vô thần,
cho những người đă nhận biết Tuyệt
Đối nhưng không sống trong một tôn giáo nào,
cũng như cho tất cả mọi người kể cả
những người sống trong các tôn giáo ngoài Kitô và
trong Kitô giáo. Bổn phận chúng ta, tất cả mọi
người không trừ ai, đều phải đáp trả
mặc khải này của Thiên Chúa, nếu không chúng ta sẽ
mắc lỗi. Trong cuộc sống thường ngày chúng
ta đă thấy bao nhiêu người tự xưng là vô thần
đă sống đáp trả những biểu tượng
hay dấu chỉ tự nhiên của thực tại vô
h́nh một cách rất chu đáo tốt đẹp; nghĩa
là họ đă đang sống đức tin, đang biểu
lộ đời sống đức tin bằng chính cuộc
sống hằng ngày mà họ không biết, và như vậy
họ vẫn được cứu độ.
Đức tin phải được
biểu lộ qua việc làm. Thánh Giacôbê tông đồ
nói: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết”
(Gc 2:17). Đức tin là lời đáp lại mặc khải
của Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa không mặc khải, th́
con người không thể biết về Thiên Chúa, và
như vậy không thể tin vào Thiên Chúa.[199]
Ngày nay Thiên Chúa vẫn tiếp tục mặc khải cho con
người qua trung gian những người rao giảng,
và con người vẫn đáp ứng bằng đức
tin, bằng sự vâng phục đức tin: “Làm sao kêu lên
Đấng mà người ta không tin? làm sao tin Đấng
mà người ta không được nghe? làm sao nghe nếu
không có người rao giảng?” (Rm 10:14).
Đức tin có được
là do mặc khải. V́ con người là tinh thần và
thân xác, là tinh thần nhập thể, nên Thiên Chúa mặc
khải cho con người qua những dấu chỉ khả
giác, và rồi con người đáp trả bằng ḷng
tin được biểu lộ qua lời nói, qua việc
làm, qua những dấu chỉ khả giác.
Cũng như trong lănh vực
t́nh yêu, người ta không chỉ yêu bằng lời
nói nhưng c̣n bằng cả việc làm, nếu chỉ
nói yêu mà không có hành động cụ thể đi theo,
e rằng người ta không yêu thật (1Ga 3:11-18). Nếu ta
chỉ nói ta tin, mà không diễn tả đức tin bằng
hành động, th́ e rằng chúng ta cũng không tin thật.
Thánh Giacôbê tông đồ nói: “Hăy cho tôi thấy đức
tin không việc làm của anh, và tôi sẽ lấy việc
làm của tôi mà cho anh thấy đức tin của
tôi... cũng như thể xác không hồn là thây chết”
(Gc 2:18.26).
Chỉ qua dấu chỉ mà hữu
thể nhân linh mới có thể gặp gỡ nhau, và nếu không
qua dấu chỉ, không có cuộc gặp gỡ đích thực
giữa con người.[200] Chính
v́ vậy Thiên Chúa đă nhập thể, cần phải có
người đi rao giảng, và cũng cùng lư do mà con
người diễn tả đức tin của ḿnh qua những
dấu chỉ, qua lời nói và qua chính cuộc sống
của ḿnh với những việc làm. Trong mục này
chúng ta t́m hiểu đức tin của những người
chưa nhận biết Thiên Chúa, và đức tin của
những người sống trong các tôn giáo ngoài Kitô
được diễn tả qua cuộc sống thường
ngày.
Ở đây chúng ta đề cập
đặc biệt đến người chưa nhận
biết Thiên Chúa, hoặc những người cũng
tin có sự hiện hữu của một Đấng Tuyệt
Đối nhưng họ không sống trong một tôn
giáo nào.
Với những người vô
thần, công đồng Vatican II dạy: “Cả những kẻ
chưa nhận biết Thiên Chúa cách rơ ràng nhưng nhờ
ơn Chúa, họ cố gắng sống đời chính
trực, th́ Chúa quan pḥng không từ chối ban ơn trợ
lực cần thiết để họ được cứu
rỗi” (LG 16). Lời dạy của công đồng
hoàn toàn phù hợp với truyền thống của
Giáo Hội: “Thiên Chúa không từ chối ân sủng cho những
người làm điều họ phải làm.”[201] Trong
lịch sử thần học chúng ta thấy Giáo Hội dạy
những người chết trong t́nh trạng nguyên tội
không được thừa hưởng Nước Trời,
thế nhưng điều này không hàm chứa khẳng
định “một người chết không chịu phép rửa tự
bản chất phải loại khỏi Nước Trời.”[202]
Đức Giáo Hoàng Innocente III khi nói về các con trẻ
chết trong t́nh trạng không được lănh phép rửa,
Ngài nói: “Thiên Chúa không thể nào lại để cho bao nhiêu
con trẻ phải hư mất đời đời.”[203]
Sau đây, chúng ta sẽ t́m hiểu
sâu hơn về lựa chọn căn bản- một lựa chọn
quyết định theo đường lành hay đường
dữ, theo sự ác hay sự thiện, theo đường
tà hay nẻo chính, theo Thiên Chúa hay ác quỷ.
Lựa chọn căn bản xảy
ra khi một người đến tuổi khôn, có thể
phân biệt sự thiện sự ác, có khả năng
suy nghĩ và quyết định khi có dịp, và chọn sự
thiện v́ chính sự thiện chứ không phải v́ một
lư do nào khác. Không phải tất cả mọi hành vi tự
do của con người đều là lựa chọn
căn bản. Lựa chọn căn bản chi phối
hầu như tất cả những hành vi luân lư của
người đó, trừ phi nó được chọn lựa ngược
lại.
Chẳng hạn, một em bé ra
khỏi t́nh trạng trẻ con chưa biết ǵ bằng hành
vi tự do đầu tiên của ḿnh, khi dịp đến
em quyết định không nói dối v́ đó là điều
xấu chứ không phải v́ cha mẹ không muốn,
cũng không phải v́ em sợ bị phạt hoặc sợ
sẽ bị phát giác là đă nói dối; nghĩa là em quyết
định bằng một chọn lựa đầu tiên
trong đời cách tự do hoàn toàn, không làm điều
xấu v́ nó là điều xấu. Và cả cuộc đời
em sẽ được chi phối bởi lựa chọn
căn bản đầu tiên này, trừ phi nó được
thay đổi bằng một lựa chọn
tương tự.[204]
Một em bé sống trong gia
đ́nh ngoài Kitô giáo hoặc không tôn giáo, em không biết
Thiên Chúa cách rơ ràng, nhưng khi làm cuộc lựa chọn
căn bản bằng việc làm điều thiện v́
đó là điều thiện chứ không v́ một lư do
nào khác, em đă chọn Thiên Chúa qua hành vi lựa chọn
điều thiện này. Giả sử như sau này em trở
thành Kitô hữu, th́ hành vi đức tin đầu tiên sẽ
hàm chứa và làm mới lại lựa chọn ban đầu;
như vậy có thể nói, lựa chọn luân lư và lựa
chọn thần học tự nền tảng là một;
cái khác là đi từ mặc nhiên đến minh nhiên.
Với một em bé sinh trong một
gia đ́nh Kitô giáo, em được nghe nói về Thiên
Chúa, biết Thiên Chúa. Hành vi tự do đầu tiên của
em là sự lựa chọn Thiên Chúa. Hành vi tự do lựa
chọn đầu tiên này cũng hàm chứa lựa chọn
sự thiện.[205]
Lựa chọn căn bản
cũng có thể là lựa chọn điều dữ! Và nếu
vậy suốt cuộc đời của người
này vẫn chịu ảnh hưởng của quyết
định lựa chọn này, trừ phi người
đó chọn lựa lại.
Bằng hành vi lựa chọn
căn bản- lựa chọn điều thiện- một
người có thể lănh nhận ơn công chính hóa, dù
người đó sống trong tôn giáo ngoài Kitô hay trong một
gia đ́nh không nhận biết Thiên Chúa. Lựa chọn
căn bản là một hành vi tin nhận hoặc từ chối
Thiên Chúa được thể hiện qua hành động
của ḿnh, một cách dứt khoát.
Nếu một người chọn
sự thiện v́ đó là sự thiện, th́ ngay cả
khi họ chưa tuyên xưng nhận biết Thiên Chúa họ
đă biểu lộ đức tin mặc nhiên vào Thiên Chúa rồi.
Và nếu họ chết trong t́nh trạng này, họ
được cứu độ. Những quyết định
và hành động trong cuộc sống thường ngày là
những diễn tả đức tin của ḿnh!
Đức Piô XII trong bài diễn
văn nói với các “cô đỡ” ngày 29.10.1951,
đă nói: “một hành vi t́nh yêu có thể đủ cho một
người trưởng thành nhận lănh ân sủng
thánh hóa và bù lại sự không có bí tích thanh tẩy.”[206]
Nếu vậy, trong đời sống
hằng ngày của một người, có bao nhiêu dịp
để nhận lănh hồng ân cứu độ của
Thiên Chúa! “Dù xây chín đợt phù đồ,
không bằng làm phúc cứu cho một người.”
Những người nghèo luôn có
bên chúng ta, những người thiếu thốn đau
khổ về tinh thần đầy dẫy trên mặt
đất này, như vậy có rất nhiều dịp
cho con người thực thi bác ái để nhận lănh
ơn cứu độ!
Nếu người nào đó làm
một hành vi bác ái v́ đó là điều tốt điều
thiện điều nên làm và phải làm, th́ người
đó lập lại chọn lựa căn bản ḿnh
đă chọn trước. Qua việc sống theo tiếng
lương tâm- tiếng Thiên Chúa nói qua lư trí này, người
đó biểu lộ đức tin vào Thiên Chúa cho dù họ không
nhận biết Ngài cách rơ ràng; và rồi qua hành vi tin vào
Thiên Chúa cách minh nhiên hay ngay cả mặc nhiên này, ân sủng
thánh hóa có thể được ban cho người đó!
Trong đời sống gia
đ́nh, tương quan giữa cha mẹ, vợ chồng
con cái đều phải là tương quan t́nh yêu; mà
t́nh yêu không bao giờ thiếu những hy sinh triền
miên phát xuất từ sự cảm thông, tha thứ, quảng
đại chịu đựng trong cuộc sống giao tiếp
hằng ngày. Nếu chúng ta sống đời gia
đ́nh trong cuộc sống hằng ngày cách ư thức và
tự do, sống t́nh yêu v́ t́nh yêu, th́ chúng ta cũng
lănh nhận ân sủng của Thiên Chúa cho dù có thể
chúng ta chưa nhận biết Ngài, v́ “Thiên Chúa là t́nh yêu, và
ai sống trong t́nh yêu là sống trong Thiên Chúa” (1Ga 4:8.16).
Những đức tính tốt của
bao người chúng ta gặp trong cuộc sống thường
ngày, như sự thật thà, trung thực, thành tín, quảng
đại, yêu thương, có thể trở thành những
tấm gương, thôi thúc chúng ta sống tốt hơn,
thành tín trung thực hơn, quảng đại hơn,
yêu thương hơn! Dưới một khía cạnh
nào đó, chúng là những biểu tượng, dấu chỉ
của thực tại vô h́nh mà qua đó Thiên Chúa dùng để
ban ơn cho những người không sống trong bất
cứ một tôn giáo nào hoặc ngay cả những người
chưa nhận biết Thiên Chúa.
Tóm lại, nếu một người
chọn “điều tốt” cho tất cả cuộc sống,
hoặc trong cuộc sống hằng ngày họ sống
ăn ngay ở lành theo tiếng lương tâm, th́ Thiên
Chúa vui ḷng ban ân sủng công chính hóa cho họ.
Những phong cảnh thiên nhiên,
những người tốt việc tốt ta gặp trong
cuộc sống hằng ngày như sự trung tín thật
thà, ḷng quảng đại, t́nh yêu dành cho nhau trong gia
đ́nh hay nơi bạn bè hay nơi nam nữ, đều
là biểu tượng, dấu chỉ qua đó Thiên Chúa mặc
khải và ban ơn cho con người, ngay cả cho những
người chưa nhận biết Ngài cách minh nhiên.
Mọi tín hữu của bất
cứ tôn giáo nào, ngay cả Kitô giáo, cũng đều
phải sống tốt và vâng phục tiếng
lương tâm, đáp trả những điều Thượng
Đế nói với ḿnh qua các biểu tượng tự
nhiên, như t́nh yêu giữa con người với nhau,
t́nh yêu giữa vợ chồng con cái, ḷng chân thành của
con người mà chúng ta gặp trong cuộc sống hằng
ngày! Tín hữu của bất cứ tôn giáo nào cố
t́nh không đáp trả những “mặc khải qua các biểu
tượng tự nhiên” này, e rằng họ cũng
không đáp trả mặc khải qua các biểu tượng
nơi tôn giáo họ!
Người chưa biết Thiên
Chúa hoặc không sống trong một tôn giáo, không có
điều mà các tín hữu của mọi tôn giáo có: những
điều phải tin nhận được diễn tả
qua các biểu tượng.[207]
Qua những biểu tín này, tín hữu có thể gặp gỡ
Tuyệt Đối; rồi qua các nghi lễ xét như cách
diễn tả hữu h́nh của đức tin, tín hữu
dâng lên Thượng Đế những lời ngợi khen
cùng tấm ḷng tôn kính bái thờ; và qua những dấu
chỉ hữu h́nh này, Thiên Chúa sẵn ḷng biểu lộ
t́nh yêu của Ngài đối với họ, hoặc ban cho họ ân
sủng thánh hóa, hoặc ban cho họ những ân đặc
biệt trong cuộc sống, như ơn được bền
đỗ, ơn dễ dàng sống tốt hơn, sẵn
sàng đáp trả mọi “mặc khải” qua những
biểu tượng tự nhiên và đặc biệt trong
cuộc sống hằng ngày.
Một điều khác cần ư
thức khi nói đến các biểu tượng nơi mọi
tôn giáo: các biểu tượng- nếu không là biểu
tượng thực như Đức Giêsu- đều là dấu chỉ
của thực tại vô h́nh, nên không trùng khít với thực
tại; nó chỉ là dấu chỉ, nên nó vừa tỏ
lộ Thực Tại nhưng lại vừa che dấu thực
tại.[208]
Nếu coi những biểu tượng này là thực tại,
là người ta tôn thờ ngẫu tượng; mệnh
lệnh cấm làm h́nh tượng Thiên Chúa Giavê trong Cựu
Ước, là cấm theo nghĩa này!
Các biểu tượng có tính
cách hàm hồ- trừ biểu tượng thực là Đức
Giêsu Kitô- nên nếu không được hiểu đúng
đắn sẽ che dấu thực tại, tuy vậy
người ta cũng không thể bỏ biểu tượng
v́ nếu vậy thực tại không được diễn
tả và không thể được hiểu; do vậy
người ta đă dùng cách phủ định, để
cố gắng diễn tả và lại gần thực
tại hơn;[209]
hiểu trong nghĩa này, một cao tăng nói: “ngón tay chỉ,
hăy nh́n điều ngón tay chỉ chứ đừng nh́n ngón
tay,” một danh sĩ đạo Lăo dạy “bè để qua
sông, qua sông hăy bỏ bè.”
Thực Tại Tuyệt Đối
có nhiều tên gọi như Trời, Thiên Chúa, Thượng
Đế, Đấng Tối Cao, Tuyệt Đối,
v.v., nhưng mỗi tên gọi chỉ có thể diễn tả
một khía cạnh nào đó của thực tại. Những
tên gọi này cũng được coi như những biểu tượng
của Tuyệt Đối!
Các biểu tượng cũng
không có giá trị như nhau; có biểu tượng thích hợp
hơn để diễn tả thực tại thiêng liêng
nhưng cũng có những biểu tượng diễn tả
kém, có biểu tượng thích hợp cho nhóm người
này nhưng không thích hợp cho nhóm khác, có biểu tượng
thích hợp cho thời này nhưng không thích hợp cho thời
khác.[210] Đó
là lư do tại sao có hiện tượng biểu tượng
mai một với thời gian, và cũng có những biểu
tượng mới xuất hiện.[211]
Với những lưu ư trên,
chúng ta đi vào những biểu tượng nơi các
tôn giáo ngoài Kitô. Chúng ta chỉ đưa vài nét đại
cương, v́ để làm điều này cách thích
đáng, chúng ta phải nghiên cứu kỹ lưỡng và thấu
đáo hơn.
Với tín đồ đạo
Phật, đức Phật là một biểu tượng,
và hơn nữa là một biểu tượng lịch
sử.[212]
Đức Phật là biểu tượng người tu
hành đắc đạo, giác ngộ, đă đạt cơi
phúc. Đức Phật không nhận ḿnh là Tuyệt Đối,
và tín đồ Phật giáo cũng không tôn thờ Đức
Phật như Tuyệt Đối. Đức Phật nói:
“Ta là Phật đă thành, các ngươi là Phật sẽ
thành; hết thảy mọi loài miễn là có cảm giác hay
hiểu biết, đều sẽ thành Phật trong một
mai sau.”[213]
V́ có những học tṛ lầm lẫn
coi Đức Phật cũng như tượng Phật là
tuyệt đối, nên một vị tổ sư trong
đạo, muốn phá trừ thành kiến chật hẹp
của học tṛ, đă chẻ tượng Phật ra
cho vào lửa làm củi.[214]
Với tín đồ Phật
giáo, cây bồ đề cũng là biểu tượng của
sự giác ngộ. V́ vậy Phật tử không cầu xin
ân huệ vật chất hay tinh thần khi đảnh lễ
Phật mà chỉ bày tỏ ḷng tôn kính ngưỡng mộ
lư tưởng siêu việt mà bức tượng tiêu biểu.
Phật tử cũng đảnh lễ cây bồ đề,
không phải để tỏ ḷng tôn sùng thờ lậy
cái cây, mà xem đó là tượng trưng của sự giác
ngộ. Dầu có nhiều nghi thức lễ bái trong các
buổi lễ, tín đồ Phật giáo không tôn sùng Đức
Phật như một thần linh[215].
Khi đứng trước
tượng Phật hay dưới gốc bồ đề,
Phật tử nhớ lại vị thầy đi
trước đă được giải thoát, đă giác ngộ,
đă đạt hạnh phúc; Phật tử cũng nhớ
lại con đường đức Phật đă đi, cũng
như khả thể thành Phật của mỗi người;
và có thể nhờ đó Phật tử ước muốn sống
tốt hơn, muốn sống từ bi hỷ xả
hơn, muốn thực thi hành vi bác ái hơn; nghĩa là, muốn
bắt chước Đức Phật và mong ước
được giải thoát, được giác ngộ,
được hạnh phúc.
Khi hành lễ, bái lạy, xá
hương, Phật tử cũng có tâm t́nh được
nên giống Phật, có tâm t́nh ao ước giải thoát và
được hạnh phúc miên trường.
Trong đạo Phật c̣n có những
biểu tượng khác nữa, nhưng hiện tại với
giới hạn của bài cũng như với khả
năng, không tiện đề cập tới. Những
điều được nói ở đây về Đức
Phật xét như biểu tượng, qua đó những
người Phật giáo có thể gặp gỡ Thực
tại Tuyệt Đối, cũng đúng cho các biểu
tượng tương tự nơi các tôn giáo ngoài Kitô
khác.
Qua những biểu tượng
trong các tôn giáo ngoài Kitô, tín hữu vượt qua những dấu
chỉ khả giác để vươn tới thực tại
vô h́nh, và họ có thể được gặp gỡ
thực tại vô h́nh; qua ngôn ngữ biểu tượng
này họ hướng ḷng lên những sự thuộc về
thế giới khác, về Tuyệt Đối; họ muốn
sống tốt hơn, muốn trở thành con người
toàn diện hơn! Trước những điều này
chúng ta phải chân nhận Thiên Chúa đă và đang
hoạt động, đă và đang ban ân sủng qua các biểu
tượng, v́ tất cả điều tốt đều
đến từ Thiên Chúa.[216]
Kierkegaard cho rằng “lời cầu
nguyện cũng có thể là không chân thực khi cầu nguyện
với Thiên Chúa chân thực, nhưng người ta cũng
có thể cầu nguyện trong chân lư mặc dù người
ta dâng lời cầu nguyện trước một “ngẫu
tượng.””[217]
Một điều chúng ta nên biết rơ, nếu một biểu
tượng không là biểu tượng thực, mà
người ta coi biểu tượng đó là Thực Tại, biểu
tượng đó trở thành ngẫu tượng. Điều
này đúng cả cho những biểu tượng trong
Kitô giáo; chính v́ vậy Giavê Thiên Chúa ra lệnh cho con dân
Israel không được làm h́nh tượng Giavê để
thờ (Tl 4:15-20). Nếu một người ngoại, họ
nh́n các biểu tượng như một biểu tượng,
nghĩa là như dấu chỉ của thực tại
vô h́nh, th́ biểu tượng đó không là ngẫu tượng
đối với người ngoại này. Nếu hiểu
như vậy chúng ta có thể đồng ư với Raymond
Panikkar và Paradkar cho rằng “người Ấn giáo
được cứu bởi Đức Kitô nhưng qua các
bí tích của Ấn giáo.”[218]
Tóm lại, niềm tin của những
người sống trong các tôn giáo ngoài Kitô được
diễn tả qua các biểu tượng nơi các tôn giáo của
họ; khi họ nghĩ hay nh́n tới những biểu
tượng này, hoặc khi họ đáp trả bằng
niềm tin được biểu lộ qua những hành vi
tôn giáo như cúng tế bái lạy, họ có thể nhận
lănh ân sủng cứu độ của Thiên Chúa, cũng như họ
có thể được gặp gỡ Thiên Chúa như Thực
Tại của biểu tượng tôn giáo họ sống,
Đấng mà họ không gọi cùng một tên với Kitô hữu.
Bí tích là một từ ngữ
đa nghĩa,
· nó dùng để chỉ bảy “dấu chỉ
hữu hiệu của ân sủng” của Giáo Hội Công
Giáo (nghĩa là bảy bí tích theo nghĩa vẫn
được dùng);
· nó cũng được dùng với nghĩa
dấu chỉ của “thực tại vô h́nh” như
“Đức Kitô là bí tích nguồn” và “Giáo Hội là bí tích
nguyên thủy;”[219]
· nó cũng được dùng, đặc
biệt ở đây, để chỉ những biểu
tượng, tức là dấu chỉ của thực
tại vô h́nh, trong các tôn giáo ngoài Kitô.
Một số tác giả, chẳng
hạn như Karl Rahner, đă coi các bí tích Kitô giáo là những
biểu tượng thực;[220]
đức Kitô là biểu tượng thực uyên nguyên, v́ Ngài
vừa là biểu tượng vừa là thực tại của
biểu tượng. Như vậy, biểu tượng
được gọi là bí tích theo nghĩa rộng; và
chúng ta có thể gọi các biểu tượng ngoài Kitô là
bí tích của các tôn giáo ngoài Kitô, và bí tích của Giáo Hội
Công Giáo là biểu tượng thực.
Để thấy tương
quan dị đồng giữa bí tích Công Giáo và bí tích các tôn
giáo ngoài Kitô, chúng ta sẽ xét những đặc điểm
của bí tích Công giáo và sau đó của các bí tích ngoài Kitô
giáo.
K. Rahner định nghĩa bí
tích là lời của Đức Kitô đặt nơi miệng
Giáo Hội, và Lời này sinh ân sủng do sự.[221]
Quan niệm “bí tích là hữu hiệu” này bắt nguồn từ
những suy tư về Lời Chúa của K. Rahner. Ngài
cho rằng:
· Lời Chúa được kư thác cho Giáo Hội
bảo tồn và lưu truyền;
· bí tích cũng là lời, một lời hữu
hiệu.[222]
Khi nói bí tích là lời hữu
hiệu tác giả đă cho thấy dấu chỉ và biểu
tượng cũng thuộc về lời.
Đức Giêsu nói: “Hăy đi khắp
cả thiên hạ rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.
Ai tin cùng chịu Thanh Tẩy th́ sẽ được cứu,
c̣n ai không tin sẽ bị luận tội” (Mc 16:15-16).
Đây là mệnh lệnh của Đức Giêsu sau khi Ngài
đă phục sinh! Nhưng ngay khi Đức Giêsu bắt
đầu rao giảng, Ngài đă dạy các môn đệ làm
thanh tẩy cho dân chúng (Ga 3:22.26). Vâng lệnh Đức
Giêsu Phục Sinh, các tông đồ cũng rao giảng và ban
phép thánh tẩy như trường hợp cho hoạn
quan (Cv 8:38tt), cho gia đ́nh Cornêliô (Cv 10:47-48).
Chúng ta được thanh tẩy
trong Đức Giêsu Kitô, chính trong cái chết của Ngài
mà ta được thánh tẩy. Như vậy nhờ thánh
tẩy, chúng ta đă được mai táng làm một với
Đức Kitô trong sự chết, ngơ hầu như
Đức Kitô nhờ bởi vinh quang Cha, đă được
sống lại từ cơi chết, th́ cả ta nữa,
ta cũng bước đi trong đời sống mới
(Rm 6:3-4).
Thanh tẩy là một bí tích,
nghĩa là một dấu chỉ ban ân thánh do việc cử
hành dấu chỉ này. Bí tích có hiệu lực do sự
(ex epere eperato) v́:
· Thiên Chúa là nguyên nhân chính, nhờ cuộc khổ
nạn của Chúa Kitô là nguyên nhân ban công nghiệp và
nhờ đức tin của Giáo Hội;[223]
· Đức Giêsu đă thiết lập những
dấu chỉ này, và Ngài muốn những dấu chỉ
này ban ân thánh khi được cử hành theo ư và nhân
danh Ngài.
Bí tích nếu chỉ là một dấu
chỉ của thực tại thiêng liêng, th́ cũng có
giá trị như những biểu tượng khác, hoặc
trong Kitô giáo hoặc trong các tôn giáo ngoài Kitô. Điểm
khác biệt giữa bí tích Công Giáo và các biểu tượng
khác trong Giáo Hội Công Giáo và trong các tôn giáo ngoài Kitô,
là các bí tích Công giáo có hiệu quả do sự (ex opere
operato).
Cái làm cho bí tích Công Giáo có hiệu
quả do sự, là chúng được Đức Giêsu
Kitô thiết lập, và được thiết lập để
ban ân thánh cho con người. Khi Đức Kitô cử hành những
dấu chỉ này, chẳng hạn như Ngài ḥa nước
bọt vào bùn và xức cho người mù, th́ những dấu
chỉ hành vi này ban cho người mù được sáng và
được ơn công chính.
Đức Kitô thiết lập
Giáo Hội để tiếp tục công việc cứu thế
của Ngài nơi trần gian, nên khi Giáo Hội cử
hành các dấu chỉ này, cũng là Đức Kitô cử
hành, và như vậy các dấu chỉ sinh hiệu quả
do chính việc cử hành, nghĩa là “do sự.”
Suy luận tương tự,
để các bí tích sinh hiệu quả do sự, các bí
tích phải được thừa tác viên cử hành đại
diện Giáo Hội nhân danh Đức Kitô; và xét dưới
khía cạnh chủ thể lănh nhận bí tích, chủ thể
này phải hội đủ yếu tố mà nếu đức
Kitô làm, đức Kitô đ̣i hỏi để Ngài làm những
dấu chỉ này; hiểu như vậy, chủ thể
lănh nhận phải hội đủ yếu tố Giáo Hội
quy định xét như đại diện Đức
Kitô tại trần gian.
Nơi thừa tác viên cử hành
bí tích, họ phải là người đại diện
Giáo Hội của Đức Kitô, và do đó phải làm theo
ư Đức Kitô nơi Giáo Hội, cụ thể thi hành
điều Giáo Hội xét như đại diện của
Ngài nơi trần thế dạy phải làm.
Nơi chủ thể lănh nhận
bí tích, thụ nhân phải có đức tin, và hội
đủ những điều kiện Đức Kitô
đ̣i hỏi qua Giáo Hội[224]
đại diện Ngài.
Như đă nói trên, nét đặc
trưng của bí tích Kitô giáo là có hiệu quả do sự
(ex opere operato), thế c̣n bí tích nơi các tôn giáo ngoài Kitô? Khi
nào hay do đâu các bí tích, biểu tượng nơi các
tôn giáo ngoài Kitô ban ân sủng và đặc biệt ân sủng công
chính hóa cho những người sống trong tôn giáo ngoài Kitô
đó?
Để giải quyết vấn
đề này, đầu tiên sẽ xét ân sủng
công chính được ban cho Kitô hữu ngoài bí tích, rồi
tới những người dự ṭng, và sau đó những
tín hữu nơi các tôn giáo ngoài Kitô. Chính nhờ ánh sáng Kitô
giáo mà chúng ta có thể giải đáp câu hỏi về
đặc tính của bí tích các tôn giáo ngoài Kitô.
Sách giáo lư của Giáo Hội Công
Giáo dạy, ta có thể được lại ân sủng
thánh hóa nhờ ăn năn tội cách trọn.[225]
Các thần học gia trường
phái Thomas cho rằng chỉ có một con đường
để được ơn công chính hóa, và coi bí tích
như một yếu tố không thể thiếu trong tiến tŕnh
lănh ơn công chính hóa này.[226]
C̣n Duns Scott cho rằng có hai con đường cứu độ
khác nhau, đường này độc lập với
đường kia, một là ngoài bí tích như việc thống
hối ăn năn cách trọn, và một khác là bằng
bí tích phát sinh ơn công chính do sự (ex opere
operato), nhưng không phải con đường thứ
nhất làm cho việc lănh nhận bí tích thành dư thừa
v́ việc này dựa vào quyền Thiên Chúa theo đó ư hướng
thú tội là yếu tố không thể miễn trừ của
tất cả hối nhân đích thực.[227]
Theo Duns Scott việc có hai con đường công chính hóa
cho tội nhân, là một dấu chỉ cho thấy ḷng
nhân từ của Thiên Chúa, hơn là chỉ có một con
đường.[228]
Cũng theo ông, con đường bí tích là con đường
dễ hơn con đường kia.[229]
Với K. Rahner không có hai con
đường cứu độ nhưng chỉ có một
con đường cứu độ và như vậy
không thể đặt vấn đề nên theo con
đường này hay theo con đường kia. Theo
ông, có hai thời điểm chứ không phải hai
đường của cùng một biến cố cứu
độ:[230]
tương tự như “Lời duy nhất có tính cứu
độ và hữu hiệu của Thiên Chúa” có một lịch
sử nhưng có những thời điểm khác nhau, mỗi thời
điểm có giá trị tương ứng với toàn thể
và thời điểm sau không làm thời điểm
trước mất giá trị, th́ cũng vậy biến cố
cứu độ nơi mỗi cá nhân .[231]
Để lănh nhận bí tích,
để bí tích có thể sinh hiệu quả do sự
cho thụ nhân, chủ thể lănh nhận phải hội
đủ những điều kiện do Giáo Hội
đại diện Chúa Kitô quy định. Chẳng hạn
nơi bí tích ḥa giải, để có thể lănh nhận
ân sủng công chính hóa sau khi phạm tội, thụ nhân
phải có ḷng thống hối; nếu thiếu ḷng thống
hối này, bí tích không sinh hiệu quả, nghĩa
là không ban ơn công chính hóa cho họ. Như vậy
ngay nơi bí tích, yếu tố chủ thể lănh nhận
cũng rất quan trọng. “Thiên Chúa đă sinh ta chúng ta
không hỏi ư kiến chúng ta nhưng Ngài không thể cứu
độ chúng ta nếu chúng ta không đồng ư;” chính yếu
tố chủ thể (ex opere operantis) làm cho chủ thể
được ân sủng công chính hóa.[232]
Khi một Kitô hữu lănh nhận
ân sủng công chính hóa trước khi lănh nhận bí tích,
không hàm chứa rằng việc lănh nhận bí tích là dư
thừa hoặc không cần thiết, bởi v́ các bí tích là
biểu lộ của đức tin.[233]
Hành vi thống hối đă là tác động của
ân sủng, và nó không chỉ thuần túy là thái độ
nội tâm nhưng c̣n được biểu lộ ra bên
ngoài qua việc quỳ gối cầu nguyện, nghĩa là,
nó đă được diễn tả qua hành động.[234]
Việc lănh nhận ân sủng công chính ngoài bí tích, cũng vẫn là
lănh nhận ân sủng này trong Giáo Hội; và nếu xét chủ
thể lănh nhận như thành phần của Giáo Hội
th́ hậu quả cũng được biểu lộ nơi
Giáo Hội, cụ thể nơi thụ nhân lănh nhận ân sủng,
và cao điểm là lănh nhận bí tích.[235]
Các bí tích th́ ban ân sủng “do sự;”
c̣n trường hợp ân sủng được ban “do
nhân,” là ân sủng được ban nhờ thái độ của
thụ nhân; có thái độ này, là nhờ các biểu tượng
ngoài bí tích; và thái độ này cũng được diễn
tả qua những hành vi biểu tượng như cầu
nguyện, làm việc bác ái.
“Do sự” khác “do nhân” ở chỗ,
cũng tương tự như trước khi Đức
Giêsu Kitô xuất hiện, con người cũng được
ân sủng thánh hóa, cũng được cứu độ
nhưng con người vẫn phải chờ biến
cố Đức Giêsu dù họ không biết, và chỉ với
biến cố Đức Giêsu Kitô con người mới
biết rơ ḿnh đă được cứu độ và
được cứu độ nhờ Đức
Giêsu Kitô; con người có thể được ơn công
chính hóa trước khi lănh nhận bí tích nhưng con
người vẫn chưa biết rơ ḿnh được
điều này, và chỉ khi lănh nhận bí tích, người
ta mới biết rơ ḿnh đă được công chính hóa.[236]
Ân sủng của Thiên Chúa đă
hoạt động nơi con người khi lănh nhận
bí tích; và tùy thuộc thái độ của thụ nhân,
ân sủng c̣n được biểu lộ cách hữu h́nh
ra bên ngoài, và người lănh nhận bí tích có sự chắc
chắn chủ quan lẫn khách quan về ân sủng ḿnh nhận
được. C̣n khi người ta nhận lănh ơn
công chính ngoài bí tích,[237]
ân sủng của Thiên Chúa cũng hoạt động
nơi người ấy, giúp người ấy chuẩn
bị lănh nhận ân sủng công chính hóa, và chính Thiên Chúa
ban ân sủng công chính hóa khi Ngài thấy được,
và rồi ân sủng này cũng được biểu lộ
ra qua những dấu chỉ biểu tượng bên
ngoài. Người nhận lănh ân sủng thánh hóa ngoài bí
tích, có thể có sự chắc chắn chủ quan nhưng
sự chắc chắn này có thể không hoàn toàn.
Một người lănh nhận
ân sủng công chính ngoài bí tích hay đúng hơn là trước
bí tích, là do ḷng thương xót nhân từ của Thiên
Chúa và nhờ thái độ thống hối được
biểu lộ qua việc đọc kinh cầu nguyện,
công tác bác ái. Chúng ta dùng từ ngữ “do nhân” (ex opere
operantis) để chỉ đặc tính trường hợp
được ân sủng công chính ngoài hoặc trước
bí tích.
Người dự ṭng có thể
đă được ân sủng công chính hóa trước khi
lănh nhận bí tích Rửa Tội do thái độ của họ
(ex opere operantis), và như vậy nếu họ chết
trước khi lănh nhận bí tích rửa tội, họ
được cứu độ. Các nhà thần học và
ngay cả huấn quyền giải thích việc lănh nhận ân
sủng công chính hóa trưóc khi lănh bí tích rửa tội bằng
phép rửa bởi Thánh Thần, bằng ḷng ao ước
lănh bí tích (votum sacramenti), bằng hành vi bác ái.
Trẻ con chết trước
khi lănh nhận bí tích rửa tội, dù cho cha mẹ là Kitô
hữu hay lương dân, nếu c̣n mắc tội tổ
tông các em cũng không được hưởng tôn nhan
Chúa, nhưng chắc chắn “Thiên Chúa không thể nào
để cho bao nhiêu trẻ con phải hư mất đời
đời.”[238] Như
vậy phải chăng Thiên Chúa nhân từ tha thứ tội
tổ tông cho các em v́ đức tin của Giáo Hội?
Vấn đề này liên hệ
đến quan niệm về tội tổ tông, về tiến
tŕnh thành người của thai nhi, về ḷng nhân từ của
Thiên Chúa. Những trẻ chết khi Hêrôđê muốn giết
hài nhi Giêsu, được gọi là các thánh anh hài; các em
nhỏ được rửa tội trong gia đ́nh
Công giáo nhờ đức tin của cha mẹ, được
lên thiên đàng; c̣n các em nhỏ khác th́ sao? đức tin
của Giáo Hội có tác động đến các em không?
Thiên Chúa có thua ḷng nhân từ của chúng ta không, nếu chỉ
là người mà chúng ta c̣n nghĩ rằng các em đó phải
được hưởng kiến Thiên Chúa?
Trong quan niệm nhân học cho rằng
ơn gọi con người là được sống
hạnh phúc với Thiên Chúa, ngay cả trong t́nh trạng sa
ngă hiện tại? Và nếu Giáo Hội khẳng định
những người chưa rửa tội có thể
được cứu độ khi họ sống theo
lương tâm ăn ở ngay lành, c̣n các em bé và các thai
nhi- các em chưa thể biểu lộ đức tin của
ḿnh qua hành động, đó không là lỗi tại các em-
như vậy chúng ta có lư để cho rằng các em có thể
được cứu độ. Các em được
cứu độ v́ Thiên Chúa là Đấng vô cùng nhân từ
và công bằng, v́ Đức Kitô đă chết cho tất
cả mọi người, kể cả các thai nhi trong
bụng mẹ. Nếu quả các em được cứu
độ, các em được cứu độ không cần
nhận lănh bí tích và cũng không cần qua biểu tượng
nữa, dù là biểu tượng tự nhiên.
Kitô hữu tin rằng những
tín hữu Do Thái giáo thời Cựu Ước
được cứu độ nhờ ḷng tin vào Thiên
Chúa (St 15:6), nhờ việc thực thi lề luật
như cách thể hiện đức tin vào Thiên Chúa, nhờ
phép cắt b́ như bí tích xóa tội nguyên tổ[239]
cũng như nhờ các bí tích khác,[240]
và đặc biệt vẫn nhờ Đức Giêsu Kitô và
trong Giáo Hội.
Cũng như người Công
giáo được lại ân sủng thánh hóa sau phạm tội
nhờ lănh bí tích ḥa giải hoặc nhờ ḷng thống hối
thật, tín hữu Do Thái giáo sau khi cắt b́ mà phạm
tội lănh nhận ân sủng thánh hóa nhờ nghi lễ
xá tội trong ngày lễ xá tội hằng năm (Lv 16:33)
hoặc nhờ các nghi lễ hay qua các biểu tượng
khác.
Thiên Chúa cho dân Israel từ
lưu đày trở về, đó là biểu hiệu
Thiên Chúa đă tha thứ tội lỗi v́ dân đă thật
t́nh sám hối (Br 1:15- 3:8).
Tiên tri Natan và câu chuyện dụ
ngôn của tiên tri là lời biểu tượng để
vua David nhận biết lỗi lầm và thống hối;
và chính ḷng thống hối đă làm Thiên Chúa tha thứ tội lỗi
của David (2Sm 11:13).
Những lời của tiên tri
Natan và biến cố lưu đày của dân Israel, cho
thấy Thiên Chúa đă ban ân sủng qua lời biểu
tượng hoặc qua biến cố biểu tượng.
Qua những biểu tượng này, David nhận ra lỗi lầm
của ḿnh để thống hối, và biết Thiên Chúa
đă tha tội cho ḿnh qua lời tiên tri; Qua biến cố
lưu đày, Thiên Chúa đă giúp dân nhận biết lỗi
lầm, và như vậy biến cố lưu đày trở
thành phương tiện giúp dân thống hối và
đón nhận ân sủng được ban; biến cố
được trở về quê hương trở
thành biểu tượng cho thấy Thiên Chúa tha thứ
tội lỗi cho dân.
Những biến cố, biểu
tượng, và ân sủng, được ban cho dân
Israel; và cũng tương tự vậy được
ban cho người ngoài Do Thái giáo, và rồi cho những
người sống trong tôn giáo ngoài Kitô ngày nay. Những
biểu tượng này tuy không có tính ban ân sủng do sự
(ex opere operato), nhưng cũng là phương tiện để
Thiên Chúa ban ân sủng cho những tâm hồn xứng
đáng (ex opere operantis).
Tương tự như Kitô hữu
nhận lănh ân sủng công chính hóa ngoài bí tích, và tín hữu Do
Thái giáo nhận lănh ân sủng công chính hóa trong nhiệm cục
cứu độ tiền Kitô giáo, ân sủng Thiên Chúa tác
động nơi những người sống trong các tôn
giáo ngoài Kitô qua các biểu tượng nơi các tôn
giáo họ sống hoặc qua những biểu tượng
tự nhiên, để họ có tâm t́nh thống hối
và thái độ xứng hợp, hầu Thiên Chúa ban ân sủng
công chính hóa cho họ khi Ngài muốn.
Khác với bí tích Kitô giáo, v́ là dấu
chỉ được Đức Giêsu Kitô thiết lập
và Ngài muốn những biểu tượng này ban ân sủng
do việc cử hành (ex opere operato), các biểu tượng
nơi các tôn giáo ngoài Kitô là phương tiện ban ân sủng
cho những người sống trong các tôn giáo này tùy thuộc
thái độ của họ (ex opere operantis).
Các biểu tượng của
các tôn giáo ngoài Kitô ban ân sủng cho những người
sống trong các tôn giáo này tùy ở thái độ của
họ (ex opere operantis), tùy Thiên Chúa theo ư muốn và dự
định của Ngài (ex divina decreta eterna).
Những người lănh nhận
ơn công chính hóa ngoài bí tích Kitô giáo, có thể có sự xác
tín chủ quan về ân sủng nhận được; và sự
xác tín khách quan có thể có khi ân sủng công chính hóa
được biểu lộ ra bên ngoài qua các biểu
tượng, chẳng hạn hành vi bác ái, đời sống
lương thiện, yêu mến tha nhân đồng loại,
những cảm nghiệm về Tuyệt Đối.
Trong nhăn quan Kitô và nhân bản
không bị lệch lạc, nhận lănh ân sủng công
chính hóa qua bí tích Kitô giáo là con đường đơn
sơ và dễ dàng nhất, và thụ nhân có sự xác tín
chủ quan lẫn khách quan về ân sủng ḿnh được
nhận.
Đối với Kitô hữu,
truyền giáo là loan báo cho muôn dân biết Thiên Chúa yêu
thương con người, và Ngài muốn cho tất cả
được thông dự sự sống vĩnh cửu
của Ngài.
Thiên Chúa yêu thương con
người đến độ ban Con Một của
Ngài cho con người, tức là Đức Giêsu Kitô (Ga 3:16).
Với biến cố Giêsu Kitô, tất cả được
biến đổi. Con người, nhờ Đức Giêsu
Kitô, đă thấy rơ ư nghĩa cuộc sống của ḿnh,
biết rằng ḿnh được Thiên Chúa yêu
thương, biết rằng ḿnh sẽ được cứu
độ, sẽ được thông phần hạnh phúc
vĩnh cửu của Thiên Chúa nếu ḿnh tin vào Đức
Giêsu Kitô (Ga 3:16).
Truyền giáo là loan báo tin mừng
Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu Kitô chính là Tin Mừng
cho tất cả nhân loại; không có Ngài, không có ơn cứu
độ; và có Ngài tất cả được đổi
mới, tất cả được hạnh phúc, tất
cả được tham dự sự sống Thiên Chúa.
Truyền giáo có thực sự cần
thiết không khi các tôn giáo ngoài Kitô cũng có những biểu tượng,
qua đó Thiên Chúa ban ân sủng cứu độ cho những
người thuộc tôn giáo đó?
Câu trả lời thật
đơn sơ rơ ràng: dù các tôn giáo ngoài Kitô có là
phương tiện cứu độ cho những người
sống trong đó, dù các tôn giáo ngoài Kitô có những biểu tượng
qua đó Thiên Chúa vẫn dùng để ban ân sủng cứu
độ cho họ, th́ việc truyền giáo “loan báo Đức
Giêsu cho những người sống trong các tôn giáo ngoài Kitô”
là một chuyện rất cần thiết và không thể miễn
trừ. Sau đây là những lư do buộc các Kitô hữu phải
truyền giáo.
Kitô hữu là người có niềm
vui lớn lao vô cùng: “Đức Giêsu là Thiên Chúa nhập thể
làm người v́ yêu thương chúng ta, Ngài đă chết
và sống lại để chúng ta cũng được
sống lại với Ngài, Ngài muốn cho con người được
thông chia sự sống vĩnh cửu của Thiên Chúa.” Khi một
người có niềm vui, họ thường đem
chia sẻ với những người xung quanh, với
những người thân, với những người họ
yêu mến. Như vậy nếu một Kitô hữu xác
tín niềm tin của ḿnh, chắc chắn họ phải chia
sẻ Tin Mừng này cho những người họ yêu, cho
những người thân, cho những người
xung quanh họ. Nếu họ không chia sẻ Tin này, th́ e rằng
đây không phải là một Tin Mừng thật, hoặc
họ không có t́nh yêu đối với những người xung
quanh và với những người thân, và nếu vậy họ không
giống Thiên Chúa là Đấng yêu thương mọi
người và muốn chia sẻ niềm vui, sự sống
của Ngài với con người.
Đức Giêsu Kitô sau phục
sinh, đă truyền cho các môn đệ mệnh lệnh
“các con hăy đi khắp cả thiên hạ rao giảng
Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin cùng chịu
thanh tẩy sẽ được cứu, c̣n ai không tin
sẽ bị luận tội” (Mc 16:15-16//).
Thánh Thần của Đức
Giêsu Phục Sinh cũng đă tách riêng Phaolô và Barnaba
để sai các ngài đi rao giảng tin mừng Đức
Giêsu cho người Do Thái, và sau đó cho dân ngoại (Cv
13:2.46). Phaolô đă xác tín ơn gọi rao giảng Tin Mừng
của Ngài: “khốn cho tôi, nếu tôn không rao giảng
Tin Mừng” (1Cr 9:16).
Mệnh lệnh đi rao giảng
Tin Mừng cho mọi dân tộc, làm thành tính công giáo của
Giáo Hội: “Vậy các con hăy đi thâu nạp môn đồ
khắp muôn dân, thanh tẩy chúng nhân danh Cha, Con và Thánh Thần,
dạy chúng tuân giữ hết mọi điều thầy
đă truyền cho các con” (Mt 28:18-19). Giáo Hội đă nhận
lănh sứ mạng như Đức Giêsu nhận lănh từ
Cha: “như Cha đă sai Thầy, Thầy cũng sai các
con” (Ga 20:21).
Đức Giêsu Kitô là Đấng
trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và con người (1Tm
2:5), Ngài là Lời Thiên Chúa nhập thể làm người
(Ga 1:14), nên Ngài là bí tích nguồn ban ân sủng cho
con người (Ga 1:18). Giáo Hội, được Thánh
Thần Đức Giêsu Kitô hướng dẫn, là bí
tích phổ quát ban ơn cứu độ cho con người,[241]
cho tất cả mọi người thuộc mọi quốc
gia mọi ngôn ngữ. Nếu Giáo Hội không truyền
giáo, Giáo Hội không c̣n tư cách đại diện Chúa
Kitô nữa, không c̣n là bí tích phổ quát nữa, và như vậy Giáo
Hội không c̣n là Giáo Hội nữa.
Chúng ta vẫn phải truyền
giáo, bởi v́
· chính trong Đức Giêsu Kitô và nhờ Đức
Giêsu Kitô mà các tôn giáo ngoài Kitô trở thành phương
tiện cứu độ;
· chính trong Giáo Hội- ngoài Giáo Hội không có
ơn cứu độ- mà ân sủng được ban
cho những người sống trong các tôn giáo ngoài Kitô,
hay những người không theo một tôn giáo nào,
hoặc ngay cả những người vô t́nh không
tin nhận Thiên Chúa, dù qua các biểu tượng trong
tôn giáo ngoài Kitô hoặc qua các biểu tượng tự
nhiên.
· Hơn nữa, chúng ta cũng đă thấy ở
trên, các tôn giáo ngoài Kitô vẫn có những sai lầm v́ có
những yếu tố thuần túy con người, v́ các tôn
giáo ngoài Kitô không được Thánh Thần bảo
đảm việc lưu truyền kinh nghiệm
với Tuyệt Đối, và v́ các biểu tượng tôn
giáo ngoài Kitô vẫn có nhiều nét hàm hồ không phản ánh
tinh ṛng Thực Tại Vô H́nh, và đôi khi c̣n làm cho con
người hiểu sai lệch về Tuyệt
Đối.
Truyền giáo không là truyền bá
văn hóa Do Thái hay Hy lạp hay tây phương, nhưng là
rao giảng tin mừng Đức Giêsu Phục Sinh.
Giáo Hội không truyền bá một
ư thức hệ với những giải thích về vũ
trụ, Thiên Chúa và con người, nhưng rao giảng
tin mừng Đức Giêsu Kitô; như vậy Giáo Hội
thích hợp với mọi người và với mọi nền
văn hóa của mọi dân tộc và mọi thời
đại.
Giáo Hội là Công Giáo, nên Giáo Hội
ḥa hợp với mọi dị biệt của những
nền văn hóa khác nhau, nên Giáo Hội phải t́m hiểu
cách suy nghĩ, diễn tả của từng dân tộc, của
từng nền văn hóa, để loan báo tin mừng Đức
Giêsu Kitô một cách thích đáng, và để mọi
người dễ tin nhận hơn.
Hội nhập văn hóa là t́m hiểu
cách suy nghĩ và diễn tả của từng dân tộc,
để tŕnh bày tin mừng Đức Giêsu Kitô theo cách thức
suy nghĩ và diễn tả của dân tộc đó. Nếu
chúng ta không hội nhập văn hóa, không tŕnh bày Tin Mừng
theo văn hóa của dân tộc được rao giảng
Tin Mừng, sẽ làm người ta dễ hiểu lầm
Tin Mừng, và hậu qủa là đa số từ chối
Tin Mừng Đức Giêsu Kitô.
Đặc biệt với những
dân tộc châu Á, có nền văn hóa rất khác với những
nước châu Âu, nếu Tin Mừng không được
rao giảng bằng ngôn ngữ văn hóa các nước
châu Á, e rằng không có bao người tiếp nhận Tin
Mừng. Chẳng hạn việc “thờ cúng tổ tiên,” nếu
những người Công Giáo làm cho người Việt Nam
nghĩ rằng theo đạo là bất hiếu, phải bỏ
ông bà, th́ thường họ không chấp nhận
theo đạo; thực sự người Công Giáo tôn
kính ông bà cách khác, chúng ta không bất hiếu, chúng ta vẫn
nhớ cầu nguyện cho ông bà, tổ tiên, cha mẹ
chúng ta trong những giờ kinh nguyện; tuy vậy,
chúng ta phải để cho người Việt Nam tôn
kính ông bà theo kiểu của họ, th́ tin mừng Đức
Giêsu Kitô mới dễ được nhiều người
chấp nhận; chúng ta chỉ ngăn cản khi những
hành vi tôn kính này đi ngược lại đức tin
mà thôi. Người Công Giáo Việt Nam nói về ḷng tôn
kính ông bà tổ tiên theo cách thức, theo nền văn
hóa của người Việt Nam; và điều chúng ta
nói về ḷng tôn kính tổ tiên cũng đúng cho những vấn
đề khác; đó là công tác hội nhập văn hóa
của Giáo Hội khi thi hành sứ mạng rao giảng
Tin Mừng Đức Giêsu Kitô cho mọi dân tộc.
Giáo hội khẳng định
lập trường với công đồng Vatican II qua
tuyên ngôn về các tôn giáo ngoài Kitô: “Giáo Hội Công Giáo
không hề phủ nhận những ǵ là chân thật và
thánh thiện nơi các tôn giáo ngoài Kitô. Với ḷng kính trọng
chân thành, Giáo Hội xét thấy những phương thức
hành động và lối sống, những huấn giới
và giáo thuyết kia, tuy rằng có nhiều điểm
khác với chủ trương mà Giáo Hội duy tŕ,
nhưng cũng thường đem lại ánh sáng của
Chân Lư, Chân Lư chiếu soi cho hết mọi người; v́
thế, Giáo Hội khuyến khích con cái ḿnh nh́n nhận,
duy tŕ và cổ động cho những thiện ích thiêng
liêng cũng như luân lư và những giá trị xă hội
văn hóa của các tín đồ thuộc các tôn giáo khác, bằng
con đường đối thoại hợp tác cách thận
trọng và bác ái với tín đồ các tôn giáo ấy mà
vẫn là chứng tá của đức tin và đời sống Kitô
giáo.”[242]
Như vậy chúng ta thấy,
Giáo Hội chấp nhận những ǵ chân thật và tốt lành
nơi các tôn giáo ngoài Kitô, và cổ vơ việc đối thoại.
Việc đối thoại hàm chứa niềm tin rằng
các tôn giáo ngoài Kitô có những chân lư, có những điều
tốt lành. V́ nếu Giáo Hội nhận rơ các tôn giáo ngoài Kitô
là phương tiện của ác quỷ, hoặc là công tŕnh
của con người xét như một thế lực
chống lại Thiên Chúa như một số người
trong anh em Tin Lành chủ trương, th́ chắc Giáo Hội
đă thẳng thắn bài bác và không bao giờ khuyến
khích con cái ḿnh đối thoại cả. Việc đối
thoại với các tôn giáo ngoài Kitô hàm chứa phần nào niềm
tin rằng các tôn giáo ngoài Kitô cũng là phương tiện
Thiên Chúa dùng để cứu độ con người,
nếu không việc đối thoại chỉ là giả
h́nh và thuần túy “ngoại giao.”
Đối thoại với các
tôn giáo ngoài Kitô là để thấy rơ những giá trị
của tôn giáo ngoài Kitô, thấy rơ điều hay điều
tốt và cả những điều không thể dung hợp
với đức tin Kitô giáo nữa, hiểu biết
hơn về các tôn giáo ngoài Kitô, cũng như những
biểu tượng đức tin và những hành vi biểu
lộ niềm tin của họ, hiểu biết cách diễn
tả thực tại thiêng liêng theo nền văn hóa của
dân tộc theo tôn giáo này, và như vậy chúng ta có thể
tŕnh bày Đức Giêsu cho những người theo tôn
giáo đó cũng như cho dân tộc này cách thích hợp
hơn.
Việc t́m hiểu các tôn giáo
ngoài Kitô rất quan trọng trong việc truyền giáo,
trong việc loan báo Tin Mừng Đức Giêsu Phục Sinh,
bởi v́ khi đă thấy rơ giá trị và ư nghĩa các
biểu tượng của các tôn giáo ngoài Kitô cũng
như cách diễn tả tâm t́nh tôn gíáo của dân tộc với
nền văn hóa riêng, chúng ta có thể rao giảng tin mừng
Đức Giêsu theo những biểu tượng về
thực tại thiêng liêng mà ta đă biết. Nói một
cách khác, chúng ta Kitô hóa các biểu tượng[243]
nơi các tôn giáo ngoài Kitô nếu có thể được.
Nói về biểu tượng và
ân sủng mà không đề cập tới Thánh Thần là một
thiếu sót lớn, bởi v́ ân sủng là t́nh yêu của
Thiên Chúa đối với con người, làm cho con người
được nên giống Thiên Chúa.
Thánh Thần là ngôi vị thứ
ba của Thiên Chúa, Ngài là “hơi thở” của Cha và Con, nhiệm
xuất từ Cha và Con, là t́nh yêu giữa Cha và Con. Ngài
được biệt gán cho nhiệm vụ thánh hóa con
người và toàn thể vũ trụ! Khi trở về
cùng Cha, Đức Giêsu đă gởi Thánh Thần của
Ngài trên các tông đồ và toàn thể Giáo Hội, để
Thánh Thần tiếp tục và hoàn tất chương tŕnh
cứu chuộc loài người của Chúa Cha, được
Chúa Con nhập thể thi hành. Có thể nói tất cả những
hướng chiều đi lên với Thiên Chúa của con
người, đều là tác động của Thánh Thần.
Ân sủng là tác động của
Thiên Chúa nhằm cứu độ con người, luôn
đi trước thái độ và lời đáp trả của
con người! Không phải chúng ta yêu Thiên Chúa trước,
nhưng chính Ngài đă yêu chúng ta trước và đă phó mạng
sống ḿnh v́ ta (1Ga 4:19.10). Không ai đến được
với Ta nếu Cha Ta không lôi kéo nó (Ga 6:44); không ai có thể
tuyên xưng Giêsu là Chúa mà không bởi Thánh Thần (1Cr 12:3).
Thiên Chúa yêu thương thế
gian vô cùng, Ngài muốn cứu độ tất cả mọi
người (1Tm 2:4), muốn mọi người được
nên giống Ngài, được tham dự sự sống
vĩnh cửu của Ngài. T́nh yêu của Thiên Chúa chan ḥa
vũ trụ và tràn ngập ḷng người, và Thánh Thần
T́nh Yêu luôn luôn hoạt động nơi ḷng mỗi
người để lôi kéo họ tới với Thiên Chúa,
để họ được cứu độ nhờ
Đức Giêsu Kitô. Như trước khi tạo dựng
vũ trụ, Thiên Chúa đă yêu thương từng người
chúng ta, cũng vậy trước khi t́nh yêu ân sủng
được biểu lộ cụ thể, th́ Thiên Chúa
đă yêu thương ta trong Thánh Thần. T́nh yêu đi
trước bí tích, biểu tượng.
T́nh yêu là tương quan liên vị
nên cần phải được diễn tả và biểu
lộ. Với con người v́ là hồn và xác, nên t́nh yêu cần
và phải được diễn tả qua những dấu
chỉ. Thiên Chúa đă biểu lộ t́nh yêu của Ngài
khi ban Con Một cho loài người (Ga 3:16); Đức Giêsu
Con Thiên Chúa nhập thể, cũng đă chấp nhận chết
nhục nhă trên thập giá để biểu lộ t́nh yêu của
Ngài và của Cha cho con người; và Đức Giêsu
đă thiết lập Giáo Hội như đại diện
hữu h́nh của Ngài nơi trần gian, để trở
thành dấu chỉ cứu độ cho con người, bằng
việc loan báo Lời Chúa và cử hành các biểu tượng
ban ân thánh hữu hiệu.
Thánh Thần Thiên Chúa luôn hoạt
động khắp nơi và trong ḷng mỗi người,
nên tất cả mọi hành vi tốt của con người
đều là hành vi siêu nhiên và có giá trị cứu độ.
Mọi hành vi tốt đều là ân sủng của Thiên Chúa.[244] Thánh
Thần hoạt động rất tự do, không bị giới
hạn trong những cơ cấu và định chế:
“khí muốn đâu th́ thổi, ông nghe được tiếng,
nhưng nào có biết từ đâu mà đến hay lại
đi đâu? cũng vậy với mọi kẻ sinh bởi
Thần Khí” (Ga 3:8). Hoạt động của Thánh Thần
nơi con người cũng được biểu lộ
ra bên ngoài, chẳng hạn Thánh Thần đă tỏ lộ
hoạt động trong ngày lễ ngũ tuần (Cv 2:1tt)
dù rằng con người, cụ thể các tông đồ
đă nhận lănh Thánh Thần ngay trong ngày Đức Giêsu
phục sinh (Ga 20:22). Như vậy ân sủng, t́nh yêu của
Thiên Chúa được cụ thể hóa, cũng được
diễn tả qua các dấu chỉ biểu tượng.
Tất cả là ân sủng.[245]
Hoạt động của Thánh Thần T́nh Yêu Thiên Chúa
bao phủ tất cả hoàn vũ và tận trong thâm sâu con
người. Chính Thánh Thần tác động để
con người vươn lên, nhận ra những điều
tốt lành thiện hảo cũng như những
điều không hợp với bản tính con người,
lôi kéo con người đến với Thiên Chúa, và giúp
con người biểu lộ tâm t́nh của ḿnh qua các biểu tượng,
dấu chỉ thực tại thiêng liêng. Không có ǵ tốt
lành thánh thiện mà ở ngoài Thiên Chúa, mà lại không
được Thánh Thần tác động và hướng
dẫn! Những ǵ tốt lành thánh thiện, những ǵ giúp
con người vươn lên với Thiên Chúa ngay cả
trong các tôn giáo ngoài kitô, đều là hoa trái của Thánh
Thần. Chính Thánh Thần đă giúp những người sống trong
các tôn giáo ngoài kitô gặp gỡ Thực Tại Tuyệt
Đối qua các biểu tượng, thánh hóa và ban cho họ
hồng ân vô giá “trở nên đền thờ Thiên Chúa Ba
Ngôi” ngay cả khi họ không ư thức.
TẤT
CẢ CHO VINH DANH CHÚA HƠN
14.12.52
06.02.33
Ở
đây chỉ ghi những sách hoặc những bài báo đă
được trích dẫn.
Balchand, A. The salvific value of
non-christian religions according to Asian Christian Theologians’
Writtings, in Asian Published Theological Journals 1965-1970. Manila: EAPI,
1973.
Baumgartner, Ch. La Grâce du Christ, Coll.
LE MYSTÈRE CHRÉTIEN. Belgium: Desclée, 1963.
Bihlmeyer, C et Tuchle, H. Histoire
de l'Eglise, t. I. Salvator 1962.
Blackman, E. C. “Faith- Faithfulness,” INTERPRETER'S
DICTIONARY OF THE BIBLE, vol. II. New York: Abingdon Press, 1962.
Boff, Leonardo. “Le sacrement de mariage,” CONCILIUM
87 (1973), pp. 21-31.
Cassirer, E. An essay on man. Yale University Press 1962.
Congar, Y. Vaste monde ma paroisse: Vérité
et dimensions du salut, Témoignage Chrétien 1968- FV.27.
Cornélis, Étienne. Valeurs chrétiennes des
religions non-chrétiennes. Cerf 1965.
Davy, M-M. “Les symboles et l'histoire,” Le
symbole, Col. RECHERCHES ET DÉBATS n. 29. Paris 1959.
De Finance, Joseph. Connaissance de l'être,
Traité d'ontologie. Paris: DDB, 1966.
De Lubac, Henri. Dieu se dit dans
l'histoire, Col. FV.159. Cerf 1974.
Dominici, Gildo. Notes de théologie morale: Les vertus thélogale. Đà Lạt:
GHHV, sans date ni lieu.
Drexel, Anton. Bí tích đại cương. Đà Lạt: GHHV, không
ngày.
Drexel Anton. Traité de la grâce du Christ ou L'homme dans le Christ. Đà lạt:
Collège Pontifical Saint Pie X, 1972.
Éliade, Mircea. Le sacré et le profane. Gallimard 1965.
Foulquié, Paul et Raymond Saint-Jean. Dictionnaire de la langue philosophique.
Paris: PUF, 1962.
Gaudel, A. “Péché eriginel,” DTC XII/1. Paris
1933.
Heinrichs, M. Théologie catholique et
pensée asiatique. Casterman 1965.
Huyền Chân. Đạo Phật. Nha Trang: Phật Học Viện
Trung Phần, 1965.
Kraemer, H. Foi chrétienne et les religions
non-chrétinnes. Neuchatel 1956,
Leahy, Louis. Philosophie de l'homme. Đà Lạt: Collèce Pontifical St.
Pie X, 1974
éd. Léon- Dufour, Xavier. Vocabulaire de théologie biblique.
Paris: Cerf, 1966.
Lăo Tử. Đạo Đức
Kinh, bản dịch Nguyễn Duy Cần. Sài G̣n: Khai Trí, 1961.
Marcel, Gabriel. Foi et réalité, FV. 38. Aubier 1967.
Maurier, Henri. Essai d'une théologie du paganism. Paris: L’Orante, 1965.
Millet, Louis. “Le pouvoir du symbolisme,”
Le Symbole, RECHERCHES ET DÉBATS n.29. Paris 1959.
Moden, Louis. Le miracle- signe du salut. DDB
1960.
Muschalex, G. La création de l'alliance, Problème
des rapports entre la nature et la grâce, MYSTERIUM SALUTIS VI. Burns and
Oates 1969.
Narada Maha Thera. The Buddha and his teachings,
bản dịch của Phạm Kim Khánh, Đức Phật
và Phật pháp. Sài G̣n: Hạnh Phúc, 1971.
Parrinder, Geoffrey. “Revelation in other
Scriptures,” STUDIA MISSIONALIA, vol.20 (1971), éd. M. Dhavamony, SJ. Roma:
Gregoriana, 1971.
Phạm Thanh Liêm, Giuse. Thần học các tôn giáo ngoài
kitô. Đà Lạt: bđm, 1982.
Portalié, É. “Augustin,” DTC I/1. Paris 1923.
Portalié, É. “Abélard,” DTC I/1. Paris 1923.
POSCHMANN, B. Pénitance et onction des maladies,
Coll. HISTOIRE DES DOGMES. Cerf 1966.
Rahner, Karl. Piété personnelle et piété
sacramentelle, ÉCRITS THÉOLOGIQUES, t. II. DDB 1960
Rahner, Karl. La nature et la grâce, QUESTIONS
THÉOLOGIQUES AUJOURD'HUI, t. II. Paris: DDB, 1963.
Rahner, K. Pour la théologie du symbole, ECRITS
THÉOLOGIQUES, t. IX. DDB 1968.
Rahner, r. Parole et Eucharistie, ECRITS
THÉOLOGIQUES, t. IX. DDB 1968.
Rahner, r. Eglise et Sacrements, QUESTIONES
DISPUTATAE 10. DDB 1970
Roguet, A-M. “Renseignements techniques,” Thomas
D’AQUIN, S.T. III, q.60-65, bản dịch của A-M. Roguet, pp.255-380.
Paris: Desclée et Cie, 1945.
Rondet, Henri. Gratia Christi. Paris: Beauchesne et ses Fils, 1964.
Rondet, H. Essais sur la théologie de la Grâce. Paris: Beauchesne, 1964.
Roqueplo. La foi d' un mal croyant. Paris: Cerf, 1969, p. 169;
Schillebeeckx, E. Le Christ sacrement de la
rencontre de Dieu, FV. 133. Cerf 1960.
Schlette, Heinz Robert. Towards a Theology
of Religions, bản dịch của W.J. O'Hara, Coll. QUESTIONES
DISPUTATAE 14. Freiburg: Herder, 1966.
Schoonenberg, P. L'home dans le péché, MYSTERIUM
SALUTIS VIII. Cerf 1970.
Semmeilroth, Otto. “Mediatorship,” SACRAMENTUM MUNDI. Burns and Oates 1969.
Siewerth, Gustav. L'home et son corps. Paris: Plon, 1957.
Thils, Gustave. Propos et problèmes de la
théologie des religions non-chrétiennes. Casterman 1966.
Thomas d'Aquin. Summa Theologiae. Marietti 1952.
Tillich, Paul. Aux frontières de la
religion et de la science. Centurion 1970.
Trouillard, Jean. “Symbole et distance,” Le
Symbole, RECHERCHES ET DÉBATS n. 29. Paris 1959.
Van Der Meersch, J. “Grâce,” DTC VI/2.
Walgrave, Jan-Hendrik. Un salut aux
dimensions du monde, bản dịch từ tiếng Hà Lan bởi
Emmanuel Brutsaert. Paris: Cerf, 1970.
Zaehner, R. C. Hindu and Muslim mysticism. London: Athlone Press, 1957
[1]
Không thể đối thoại nếu cho rằng các tôn
giáo ngoài Kitô hoàn toàn sai lầm và không có giá trị cứu
độ!
[2] Chẳng
hạn nơi Ḍng Tên. Xem Tổng Hội 32, 4, 53-56; 5, 1-2; Tổng
Hội 33, 1, 37.41
[3]
Chúng ta hiểu tại sao quyển sách của H. R. Schlette,
Towards a Theology of religions, bản dịch của W. J. O’Hara,
Freiburg: Herder, 1966 được xuất bản trong bộ
QUESTIONES DISPUTATAE.
[4] Những
Kitô hữu bản xứ tự hỏi “ông bà tổ tiên ḿnh
là người ngoại, sống trong các tôn giáo ngoài Kitô, liệu
có được cứu độ không?”
[5]
Anh em duy vật cho rằng tất cả đều do vật
chất mà có, thế nên không có thần thánh Thượng
Đế chi cả. Chết là hết đối với
con người, không có đời sau hoặc kiếp
sau, không có ǵ phải mong hoặc hy vọng sau cái chết.
Tuy quan niệm như vậy nhưng người duy vật vô
thần vẫn ao ước khao khát hạnh phúc: hạnh
phúc cá nhân và tập thể, dù nó hoàn toàn tại thế.
Người duy vật vô thần ao ước một thế giới
đại đồng, trong đó không c̣n cảnh người
bóc lột người, và như thế là hạnh phúc,
v́ mọi người vẫn làm theo khả năng nhưng
sẽ được hưởng theo nhu cầu của
ḿnh. Để có được thế giới đại
đồng- nơi trong đó con người sống hạnh
phúc- con người không được mong đợi một
sự trợ giúp nào của thần thánh hoặc Thượng
Đế (v́ làm ǵ có thần thánh thượng đế),
nhưng con người phải tự cứu lấy
ḿnh, phải đứng lên tự giải phóng ḿnh khỏi
cảnh áp bức bóc lột. Chỉ có con người mới
cứu được con người. Chỉ có con
người mới làm cho con người được hạnh
phúc. Với anh em duy vật vô thần, không có vấn dề
hạnh phúc vĩnh cửu, không có việc cứu độ
hiểu như sự cứu độ từ trên, và như
vậy cũng không có vấn đề ân sủng.
Anh em Phật tử cho rằng
đời là bể khổ: sinh- lăo- bệnh- tử. Để được
hạnh phúc thật, nghĩa là thoát khỏi cảnh luân hồi
nghiệp chướng, con người phải diệt
dục để có thể đi vào cơi thường hằng hạnh
phúc chốn niết bàn. Với quan niệm của đức
Phật: không ai có thể cứu người khác khỏi
cảnh luân hồi khổ ải nếu không phải
là chính người đó. Mỗi người phải tự
cứu lấy ḿnh bằng diệt dục, thực thi
bát chính đạo và giữ các giới luật. Với thời
gian trong ḍng lịch sử, Phật tử đă cầu
nguyện với đức Phật và các vị bồ
tát để giúp ḿnh chóng được giác ngộ, mau
được siêu thoát, v.v. Về điểm này đạo
Phật đă tiến triển: coi việc giác ngộ, giải
thoát không chỉ hoàn toàn do ḿnh, nhưng cũng cần sự
trợ giúp của chư Phật thập phương
và các vị bồ tát.
Anh em Ấn Độ giáo tin
vào Tuyệt Đối Brahman và cho rằng: con người được
giải thoát khỏi nghiệp chướng và biết bao
điều kiềm tỏa khác nhờ biết Brahman. V́
vậy họ đă khẩn cầu để được
dẫn tới ánh sáng, tới sự sống và tới
cái chân thực, và nhờ ân sủng họ được nh́n
thấy Đức Chúa.
[6] C.
BIHLMEYER- H. TUCHLE, Histoire de l'Eglise, t.1, p. 362
[7]
cf. Augustinus, Epist. 194, 8 PL.33, 877
Augustin, De gratia Christi et de
peccato originali I, 3 PL.44, 361
cf. H. Rondet, Gratia Christi, pp.
118-119
[8]
cf. Augustin, Epist.186,1 PL.33, 816
[9]
cf. Augustin, De Gratia Christi, 33, PL.44, 376
[10]
cf. E. PORATLIÉ, art. Augustin, trong DTC., t. I/1, col. 2381 trích bởi
H. Rondet, op. cit., p. 113
[11]
Augustin, Ad Simplicianum, l.1, q.2, 20 PL.40, 125; l.1, q.1, 10 PL.40, 106
[12]
Ibidem, q.1, 11 PL.40, 107
[13]
Ibid., q.1, 10 PL.40, col.106
[14]
Ibid., q.1, 11, PL.40, 107
[15]
Ibid., l.1, q.2, 16 PL.40, 121
[16]
Augustinus, De divers. quaest. ad Simpli. I, 16 PL.40, 121
In
Joannem, tract.109, n. 2 PL.35, 1918
Serm.22,
9-10 PL.38, 153-154
Serm.27,
2-3 PL.38, 178-179
Epist.194,
14 PL.33, 879
In Joannem,
tract. 87, n. 3 PL.35, 1853
[17]
Augustin, De civitate Dei, 21, 12 PL.41, 727
cf. H. Rondet, op.cit., pp.
133-135
[18]
Augustin, Contra duas epist. Pelag. I, 6-7 PL.44, 553
De corrept.
et gratia 42 PL.44, 942
[19]
Ibidem 39 PL.44, 940
[20]
Ibid., 40 PL.44, 940
[21]
Augustin, De praedestinatione sanctorum 7 PL.44, 964
[22]
Augustin, In Joannem, tract. 45, n. 13 PL.35, 1725
De
corrept. et gratia 14 PL.44, 941
[23]
Augustin, De corrept. et gratia 10 PL.44, 921
trích bởi H. Rondet, De
gratia Christi, pp. 133-135
[24]
Augustin, Ad Simplicianum I, 2, 16-22 PL.40, 120-128 trích bởi A.
GAUDEL, art. “Péché originel” trong DTC. XII/1, col. 379
[25]
Augustin, De dono perseverantiae, 16 PL.45,1002
cf. H. Rondet, op. cit., p.140:
“Cur, inquit, gratia Dei non secundum merita datur? Respondeo: quoniam
Deus misericors est. Cur, ergo, inquit, non omnibus? Et hic respondeo:
quoniam Deus judex est. Ac per hoc et gratis ab eo datur gratia, et justo
ejus in aliis judicio demonstratur quid in eis quibus datur conferat gratia.”
[26]
Ibid., PL.45, 925
[27]
Augustin, Contra Juli., IV, 3, 14 sq PL.44, 743sq.
[28]
Augustin, Contra duas epist. Pelag., 3, 24; 2,9 PL.44, 607. 577
De
spir. et lit., 3, 5 PL.44, 203
De
Gratia Christi 26, 27 PL.44, 374
Tưởng cũng cần phải
nói ở đây: Giáo Hội đă kết án Baius v́ những
mệnh đề tương tự. Xem DS 1927.1928.
cf.CH. Baumgartner, La grace du Christ, pp. 60-61
[29]
Augustin, De libero arbitrio, III, 23, 66 PL.32, 1303 sq
Không phải v́ trẻ phải
đau khổ mà được cứu độ (Ibidem,
III, 23, 68 PL.32,1304)
trích bởi A. GUDEL, art. “Péché
originel” trong DTC XII/1, Paris 1933, col.376-377
[30]
Augustin, De spir. et lit. 28, 48 PL.44, 230
[31]
Augustin, De pecc. mer. et rem. 18, 31 PL.44, 169
Ad
Simplic. I, 2 PL.40, 111-112
[32]
Thật sự trong những quy phạm này, công đồng
kết án chứ không khẳng định, những kết
án cũng là một cách khẳng định.
DS 225 cf. Augustin, Epist.175, 2
PL.33, 760: gratia Dei qua christiani sumus, qua et ipsum nostrae
voluntatis arbitrium vere fit librum! C̣n các đối thủ của
Augustin lại nói: dicunt gratiam Dei ad hoc tantum valere, ut
peccata praeterita dimittentur, non ut futura vitentur (apud Augustin, De
gratia et lib. arbit., I, 26 PL.44, 896-897);
DS 227 cf. Augustin, Serm., 156, 13
PL.38, 856: iam ergo dicunt adiutricem esse gratiam Dei ad facillius facienda.
Ista sunt verba eorum: ad hoc dedit Deus gratiam suam hominibus ut
quod facere iubentur per liberum arbitrium facilius possint
implere per gratiam.
[33]
H. Rondet, Gratia Christi, Paris 1948, p. 124
cf. Augustin, Epist.214, 1-2,
PL.33, 969. Các tu sĩ cho rằng nếu Thiên Chúa điều khiển
ư muốn chúng ta, th́ khi chúng ta phạm tội chúng ta đâu
có lỗi và như vậy chúng ta đâu đáng trách mắng,
người ta chỉ cần xin Thiên Chúa ban ơn cho
chúng ta thôi (apud Augustin, De correptione et gratia, 4-5 PL.44,918)
[34]
H. Rondet, Essais sur la théologie de la Grâce, Paris 1964, trg.232
[35]
Augustin, De civitate Dei, VIII, 10 PL.41, 235: ab uno vero Deo atque
optimo et naturam esse qua facti ad ejus imaginem sumus, et doctrinam qua
eum nosque novermus, et gratiam qua illi cohaerendo beati sumus.
Augustin, De libero arbitrio, II, 54
PL.32, 1270: “Omme bonum ex Deo sed quoniam non sicut homo sponte cecidit,
ita etiam sponte surgere potest, per rectam nobis desuper dexteram Dei, id
est Dminum nostrum Jesum Christum fide firma teneamus.”
cf. H. Rondet, Gratia Christi,
p.107.110
[36]
Augustin, Retract. I, 9, 6 PL.32, 598: “Quia omnia bona, sicut dictum est, et
magna et media et minima a Deo sunt, sequitur ut ex Deo sit etiam bonus usus
liberae voluntatis.”
Augustin, In Joannem, V, 1 PL.35, 1414:
Qui lequitur mendacium, de suo loquitur. Nemo habet de suo nisi mendacium
atque peccatum. Si quid autem homo habet veritatis atque justitiae, ab
illo fonte est, quem debemus sitire in hac eremo, ut ex eo quasi guttis
quibusdam irrorati et in hac peregrinatione interim consolati, ne deficiamus
in via, venire ad ejus requiem satietatemque possimus.
[37]
Augustin, Epist.217, 4, 12 PL.983: “nous avons perdu le libre arbitre pour
aimer Dieu par suite de la grandeur du premier péché. cf. Ch. Baumgartner, La
Grâce du Christ, p. 60
Augustin, Enchir., 30 PL.40, 246:
“Libero arbitrio male utens homo, et se perdidit et ipsum... cum libero
peccaretur arbitrio, victore peccato amissum est liberum arbitrium.” Cf. H.
Rondet, op. cit., p. 105-106
[38]
Augustin, De spiritu et littera, 52, PL.44, 23 cf. H. Rondet, op. cit., pp.
122-123
[39]
Augustin, De natura et gratia, 50 PL.44, 271 cf. DS 1536; H. Rondet, ibid.
[40]
CH. Baumgartner, La Grâce du Christ, p. 60
[41]
Augustin, De divers. quaest. 17, PL.40, 15
Confess.
XI, 16 PL.32, 815
De divers. quaest. ad Simplici., II, 2, 2
PL.40, 138-139
cf. H. Rondet, op. cit., p.141 ghi chú
1.
[42]
cf. C. Bihlmeyer- H. Tuchle, Histoire de l'Eglise, t.I, pp. 365-370
[43]
DS 390 cf. Augustin, Contra duas epis. Pelag., II, c. 9 n.21 PL.44, 586
DS 392 cf. Augustin, In Evangelium
Johann., tract. V, 1 PL.35, 1414
[44]
Xem 25 quy phạm (canon) của công đồng Orange II năm
529, đặc biệt quy phạm 3-7; cf. DS 373-377
[45]
Cyprianus Carthag., Ep. ad Iubaianum c.21, PL.3, 1169A Công Đồng
Latêranô, De fide catholica, c.1, DS 802
Thư của Thánh Bộ gởi
TGM. Boston, DS 3866-3873
[46]
Fulgence De Ruspe, De fide ad Petrum, 38, 79
Xem Y. Congar, Vaste monde ma
paroisse, p. 111
[47]
Tôi e rằng không thể đặt vấn đề “không
có ân sủng của Thiên Chúa, con người có thể làm
ǵ?” v́ ân sủng của Thiên Chúa bao trùm tất cả, thâm nhập
tất cả vũ trụ này!
[48]
“Quod liberum arbitrium per se sufficit ad aliquod bonum”
cf. DS 725; cf. E. Portalié, art.
“Abélard,” trong DTC. I/1 Paris 1923, col. 36-55. 47
[49]
E. Portalié, Ibid.
[50]
Melanchthon, Loci com., trong CORP. REF., t.XXI, col. 88.92: Nulla est
voluntatis nostrae libertas..., internos affectus prorsus nego in potestate
nostrae esse.
[51]
DS 1551-1553
[52]
DS 1554
[53]
DS 1555
[54]
DS 1556
[55]
DS 1557
[56]
DS 1925
[57]
DS 1927
[58]
Jansen chủ trương “Thiên Chúa không muốn cứu độ
tất cả mọi người và Đức Kitô không chết
cho tất cả mọi người.”
[59]
Giáo lư này hàm chứa trong mệnh đề của Corneille
Jansen và được phái mang tên ông trích dẫn nhiều:
“Semipelagianum est dicere, Christum pro omnibus omnino hominibus mortuum
esse aut sanguinem fudisse” (DS 2005).
[60]
DS 2308: Necesse est, infidelem in omni opere peccare.
DS 2311: Omne, quod non est ex fide
christiana supernaturali, quae per dilectionem operatur, peccatum est.
[61]
DS 2429: Extra Ecclesiam nulla conceditur gratia.
DS 2439: Voluntas, quam gratia non
praevenit, nihil habet luminis nisi ad aberrandum, ardoris nisi ad se
praecipitandum, virium nisi ad se vulnerandum est capax omnis mali et
incapax ad omne bonum.
[62]
Cf. H. R. Schlette, Towards a theology of religions, p.16
[63]
Đây là lập trường của Louis Molina (1536-1600) và
đặc biệt của Léonard Lessius (1554-1623), các ngài
chủ trương Thiên Chúa tiền định ex
praevisis meritis, nghĩa là post praevisa merita.
cf. H. Rondet, Essais sur la
théologie de la grâce, pp. 210 seq.; Gratia Christi, pp.306 seq.
[64]
Đây là lập trường của Hồng y giám mục
Robert Bellarmin (1542-1621) và của Francois Suarez (1548-1617). Các ngài
chủ trương Thiên Chúa tiền định ante
pravisa merita. cf H. Rondet, Essais sur la théologie de la grace, pp. 211
seq.
Petau cho rằng chỉ có tiền
định ante praevisa merita là của Augustin cf. H. Rondet,
Gratia Christi, p. 330
Hai lập trường này
đều được những người thuộc
ḍng Tên bảo vệ, và để tránh những tranh luận
gây gương xấu, bề trên cả ḍng Tên là Aquaviva
đă truyền ḍng chấp nhận lập trường tiền
định ante praevisa merita của Suarez và Bellarmin.
[65]
H. Rondet, Essais sur la théologie de la Grâce, pp.215 seq.
[66]
Ep. S. Officii ad archiep. Bostoniensem ngày 08.08.1949 cf. DS 3866-3873.
[67] Không
do lỗi của họ, nghĩa là những người vô
thần “vô tri bất khả thắng.”
[68]
Augustin, De dono perseverantiae, 16 PL.45, 1002:
“Cur, inquit, gratia Dei non
secundum merita datur? Respondeo: quoniam Deus misericors est. Cur ergo,
inquit, non omnibus? Et hic respondeo: quoniam Deus judex est. Ac per hoc et
gratis ab eo datur gratia et justo ejus in aliis judicio demonstratur quid
in eis quibus datur conferat gratia.”
cf. H. Rondet, op. cit., p. 140
[69]
Trên nguyên tắc những người này thiếu ân sủng
v́ họ không biết Đức Kitô. Có chỗ Augustin cho rằng
tất cả hành động của lương dân là tội
(Augustin, Jul., IV, 3, 14 sq. PL.44, 743sq. etc.); nhưng cũng có chỗ thánh
nhân cho rằng nơi lương dân cũng có những hành
vi tốt (cf. Augustin, De spir. et lit., 28, 48 PL.44, 230).
[70]
ST. Thomas, S.T., Ia-IIae, q.109, a.1-10
V. D. Meersch, art. “Grâce,” trong
DTC.VI/2, col.1571-1594
A. Drexel, Traité de la Grâce, pp.
64-98
[71]
G. Thils, Propos et problèmes de la théologie des
religions non-chrétiennes, p. 73
G. Phạm Thanh Liêm, Thần học
các tôn giáo ngoài Kitô, trg.12
[72]
Cf. H. Rondet, Essais sur la théologie de la Grâce, trg 49 ghi chú 27
[73]
K. Rahner, La nature et la grâce, trang 18-19.
Theo G. Muschalek, Cajetan đă phủ
nhận lập trường cho rằng con người
có ước vọng tự nhiên hưởng kiến Thiên
Chúa. Cũng theo Muschalek, trong tư tưởng của
thánh Thomas có nói con người có ước ao hưởng
kiến Thiên Chúa trực tiếp. Ước muốn này có
cơ cấu của bản tính con người
được tạo dựng.
Tuy vậy đối với
thánh Thomas, việc hưởng kiến trực tiếp
Thiên Chúa vẫn là một hồng ân nhưng không, mà con
người không thể tự ḿnh đạt được.
Hồng ân này con người không chấp nhận nó như
từ ngoài hoặc không quan trọng với ḿnh,
nhưng ngược lại như một hồng ân mà
con người ao ước khao khát từ chính tâm hồn
ḿnh.
(Xem G. Muschalex, La création et
l'alliance: problème des rapports entre la nature et la
grâce, trg.337-354.344).
J-H. Walgrave coi con người
là một hữu thể cho Thiên Chúa. cf. Jan- Hendrik
Walgrave, un salut aux dimensions du monde, pp.43-44.
[74]
G. Muschalex, op.cit, p. 343
[75]
P. Schoonenberg, L'home dans le péché, p. 45
[76]
Thường sủng hay thánh sủng là ân sủng làm cho con
người được làm con Thiên Chúa, được
sống trong tương giao thiết thân với Thiên Chúa.
[77]
L. Leahy, Philosophie de l'homme, pp. II/1-2
Xem G. Siewerth, L'homme et son corps,
p. 100
[78]
Cf. P. Benoit. Editorial của CONCILIUM 40 (1968), p. 7
[79]
L. Monden, sj, Le miracle- signe de salut, p. 42
[80]
Ibidem, p. 43
[81]
K. Rahner, Piété personnelle et piété sacramentelle, p. 129
[82]
Ibidem, p. 130-131
[83]
Ibidem, p. 131
[84]
P. Foulquié, Dictionnaire de la langue philosophique, p. 672-674.
[85]
L. Leahy, Philosophie de l'homme, p. II/6
A-M. Roguet, Renseignements techniques,
trong Les Sacrements, p. 314:
“Le signe c'est la pure relation
de signification, abstraction faite de la chose qui le soutend, c’est une pure
mesure du substitut par le signifié.”
[86]
Xem phần Liminaire của Symbole, p. 8 trong RECHERCHES ET
DÉBATS XII (1959)
[87]
L. Leahy, Philosophie de l'home, p. II/6.
[88]
A. Drexel, Bí tích đại cương, p. 16-17.
[89]
L. Leahy, Ibid.
[90]
A- M. Roguet, Renseignements techniques, p. 315
[91]
Ibidem, p. 314: “Le signe, de même, si on le prend très rigoureusement,
c'est l'extrême pointe du symbole, c'est le point par où le symbole n'est
que signe, abstraction faite de sa nature propre. Pris plus largement, le
signe, c'est le symbole lui-même en tant qu'il exerce la fonction de
signifier, qu'il est sujet de la relation de signification. Et le symbole,
de son côté, n'est symbole que parce qu'il se termine en signe...
Le signe pris au sens précis de
signification peut encore désigner soit une signification, proprement
dite, soit un symbolisme...
La distinction entre signe et symbole
que nous voudrions établir n'est pas une distinction totale.”
[92]
Xem Liminaire của quyển Symbole, trang 7 trong RECHERCHES
ET DÉBATS XII (1959).
[93]
Ernst Cassirer, An essay on man, pp. 32-36.
[94]
Ibidem, p. 33.
[95]
Xem phần Liminaire của Symbole, p. 8-9 trong RECHERCHES
ET DÉBATS (1959)
[96]
Xem K. Rahner, Pour la théologie du symbole, p. 13
[97]
Ibidem, p. 16
[98]
Ibidem, p. 17
[99]
Ibidem, pp. 18-19
[100]
Ibidem, pp. 19-20
[101]
Ibidem, p. 21
[102]
Ibidem, p. 25
[103]
J. De Finance, Connaissance de l'être- Traité d'ontologie, pp. 405-406
[104]
K. Rahner, Pour la théologie du symbole, p. 39
Ghi chú 1: Même la réception du salut
de la part de l'esprit libre de l'homme est un acte de tout l'homme,
donc aussi corporel: il s'accomplit donc toujours aussi dans le
symbole (acte qui est donc toujours aussi historique et social),
donc encore “ecclésial.”
[105]
Augustinus, Contra Julianum, 5, 11, 45 R. 1909 (Chữ bí tích ở
đây được dùng là sacramentum, nó c̣n có nghĩa là
dấu chỉ hoặc biểu tượng). Xem A.
Drexel, Bí tích Đại cương, p. 128
[106]
ST. Thomas, Summa Theologiae, III, q. 61, a.1: “Respondeo dicendum quod
sacramenta sunt necessaria ad humanam salutem triplici ratione. Quarum
prima sumenda est ex conditione humanae naturae, cujus proprium est ut per
corporalia et sensibilia in spiritualia et intelligibilia deducatur.
Pertinet autem ad divinam providentiam ut unicuique rei provideat secundum
modum suae conditionis. Et ideo convenienter divina sapientia
homini auxilia salutis confert sub quibusdam corporalibus
et sensibilibus signis, quae sacramenta dicuntur.”
[107]
ST. Thomas, Summa theologiae, III, q.61, a. 3 et 4
[108]
Ibidem, a. 2
Nếu chúng ta quan niệm bí tích
(dấu chỉ, biểu tượng của ơn thánh
vô h́nh) như cơ cấu con người đ̣i hỏi- con
người là xác và hồn- th́ bí tích vẫn cần thiết
để con người gặp gỡ Thiên Chúa.
[109]
Những người sống trong các tôn giáo ngoài Kitô tin rằng:
Đấng Tối Cao đă mặc khải cho họ,
và họ cũng dùng những nghi thức tôn giáo để
diễn tả tâm t́nh, thái độ sống với Thiên
Chúa mà họ tin thờ.
[110]
Giavê Thiên Chúa đă hiện ra cho Hagar dưới dạng
“thiên thần.” Thiên thần được dùng trong Kinh
Thánh Cựu ước, khi th́ để chỉ người
được Thiên Chúa sai đến với con người
(St 16, 7), khi th́ chỉ chính Thiên Chúa (St 16,13; 22,15). Xem ghi
chú nơi St 16,7 trong bản dịch của Cha Nguyễn
Thế Thuấn.
[111]
Ư kiến của Augustin (R 1646,1875), Gregôriô Cả (R
2306), Thomas (ST. III, q.37, a.1 ad 1), Innocente (DS 780),
Frirenze (DS 1310.1347), Trentô (DS 1602).
[112]
Ep. “Lectis dilectionis tuae” ad Flavianum epis. Constantinopolitanum, sive
“Tomus (I) Leonis,” 13 Jun. 449
DS 293/143/
[113]
Otto Semmelroth, art. “Mediatorship,” trong Sacramentum Mundi, Burns and Oates
1969
[114]
Xem K. Rahner, Pour la théologie du symbole, pp. 27tt.
[115]
Khi Ngôi Lời nhập thể, các thiên thần hiểu
hơn về Thiên Chúa. Mầu nhiệm Thiên Chúa nhập thể
đă được dấu kín từ đời đời,
chỉ được tỏ ra vào thời điểm của
nó. Cf. Ep 1:3tt.
[116]
Nhập thể theo Kitô giáo không là một hóa thân (avatar)
trong Ấn giáo.
[117]
Điều này vẫn đúng trước khi Chúa Giêsu
được sinh ra v́ biến cố Giêsu Kitô đă là
nguyên nhân cứu cánh trong việc tạo dựng của
Thiên Chúa.
[118]
W. Bulst, “Israel als signum levatum in Nationes...” trong Zeitschrift
fuer Katholische Theologie 74 (1952), pp. 167-204
[119]
Đức Giêsu thiết lập Giáo Hội: Ngài đă chọn
và gọi nhóm mười hai (Mc 3:13tt; 6:7tt), cho nhóm 12 ngồi
trên ṭa xét xử 12 chi tộc Israel (Mt 19:28), trao quyền
ch́a khóa cho các tông đồ và đặc biệt cho
Phêrô (Ga 20:22-23; Mt 16:16tt).
Giáo Hội là dấu chỉ của
Đức Kitô: xem K. Rahner, Eglise et sacrements, p. 24tt.
[120]
K. Rahner, Eglise et sacrements, p. 25
[121]
K. Rahner, Eglise et sacrements, p. 24
[122]
K. Rahner, Piété personnelle et piété sacramentelle,
trong ET., t.II, DDB. 1960, p. 133
[123]
Xem A. Drexel, Bí Tích Đại Cương, p. 14
[124]
A. Drexel, op. cit., p. 10
[125]
Ibidem, p. 10-11
[126]
Ibidem, p. 11
[127]
Ibidem, pp. 11-12
[128]
A. Drexel, Bí Tích Đại Cương, pp. 12-13
[129]
Augustin, Epist., 138, 1 PL.33, 527: Sacramentum est sacrae rei signum.
Từ Augustin đến
thế kỷ XII đều cho rằng: bí tích là h́nh thức
hữu h́nh của ơn thánh vô h́nh. Xem A. Drexel, op. cit, p.
13
[130]
Pierre Lombard, IV Sent., d.1, n.2
Cf. A. Drexel, op. cit, pp. 13-14
[131]
A. ADrexel. op. cit, p. 14
[132]
Leonardo Boff, art. “Le sacrement de mariage,” trong CONCILIUM 87 (1973),
trang 23: “Le sacrement est la forme visible de la grâce invisible, et
capable d'opérer le salut (Trento, DS 1639).”
Sách Giáo Lư công đồng
Trentô, phần 2, chương 1, số 11: “Bí tích là một sự
khả giác nhờ được Thiên Chúa thiết lập
mà có khả năng biểu thị và sinh ra sự thánh
thiện và sự công chính.” Xem A. Drexel, op. cit, p. 20.
[133]
A. Drexel, op. cit, pp. 20-21.
[134]
Xem K. Rahner, Pour la théologie du symbole, pp. 34-35. “Sacramenta efficiunt
quod significant et significant quod efficiunt.
[135]
DS 1604. 1864. 2536
[136]
Xem K. Rahner, Pour la théologie du symbole, pp. 34-35. “Sacramenta efficiunt
quod significant et significant quod efficiunt.
[137]
P. Foulquié & Raymond Saint-Jean, Dictionnaire de la
langue philosophique, chữ religion.
Tự điển Petit
Larousse, Paris 1952, chữ “religion.”
[138]
Fernand Chapey, trong Introduction của P. Tillich, Aux frontières
de la religion et de la science, p. 21-23.
[139]
H. Maurier, Essai d'une théologie du paganisme, pp. 84-85 trích dẫn
M. Éliade, Mythes, rêves et mystères, p. 167.
H. Maurier cho rằng việc
nhập thể nơi Đức Giêsu là thần hiển tối
cao.
[140]
Phần lớn trong mục này được lấy lại
trong
G. Phạm Thanh Liêm, Thần học
các tôn giáo ngoài Kitô, pp. 3-6.
[141]
H. R. Schlette, Towards a theology of religions, p. 25, ghi chú 9.
[142]
Xem M. Heinrichs, Théologie catholique et pensée asiatique, p. 79.
[143]
H. Kraemer, Religion and Christian faith, Londres 1956, pp. 54-56 trích bởi
G. Thils, Propos et problèmes de la théologie des religions non chrétiennes,
pp. 44-45.
[144]
PG. 1, 1466 cf. M. Heinrichs, op. cit., p. 79 ghi chú 11.
[145]
F. Cayré, Précis de patrologie, t.I, p. 124.
cf. G. Thils, Propos et problèmes
de la théologie des religions non chrétiennes, p. 140.
[146]
Augustinus, De doctrina christiana, l.II, c.40, n. 60 PL.34, col.65 cf. G.
Thils, op. cit., p. 43.
[147]
Fulgence De Ruspe, De fide ad Petrum, 38. 39
trích bởi Y. Congar, Vaste
monde ma paroisse (vérite et dimension du salut), p. 111
[148]
Thomas, S.T., IIa-IIae, q.10, a.11 cf. G. Thils, op. cit., p. 41.
[149]
Thomas, S.T., Ia-IIae, q.18, a.4, ad 3 cf. G. Thils, op. cit, p. 42.
[150]
H. Kraemer, op. cit., pp. 67-68 trích bởi G. Thils, op. cit., p. 45
[151]
G. Thils, op. cit., p. 42 trích dẫn P. Aubry, Les chinois chez
eux, DDB 1889
[152]
J. Witte, Die Christusbotschaft und die Religionen, Gottingen 1963, p. 75
[153]
Jacques Dournes trong UNAM SANCTAM 61, trang 84. Nhưng theo H. R.
Schlette, thần học truyền giáo không chỉ đạo
thần học về các tôn giáo ngoài Kitô mà đúng ra phải
ngược lại v́ thần học truyền giáo chỉ
xuất hiện ở một thời điểm của
lịch sử cứu độ (H.R. Schlette, op. cit., p. 26)
[154]
H. Kraemer, Foi chrétienne et les religions non-chrétinnes, Neuchatel
1956, pp. 76-77 trích bởi G. Thils, op. cit., pp. 46-47.
[155]
Đạo Hồi với Mahomet đă phá hủy nhiều lư
thuyết tích cực về tôn giáo, chẳng hạn lập
trường coi các tôn giáo như là chuẩn bị cho việc
con người đón nhận tin mừng Đức
Giêsu Kitô.
Đạo Hồi xuất hiện
khá trễ trong lịch sử (Mahomet sinh khoảng
năm 570 tại La Mecque) và đă phá hủy nhiều thánh
đường và cộng đoàn Kitô giáo tại
phương Đông. Đạo Hồi coi Đức Giêsu
chỉ là một tiên tri và thời của Đức
Giêsu đă chấm dứt, Mahomet khai trương kỷ
nguyên sau cùng.
V́ chủ trương như
vậy, nên phần nào sự kiện đạo Hồi
cũng làm lung lay quan niệm coi các tôn giáo ngoài Kitô là công
tŕnh của logos spermatikos, hoặc quan niệm coi các tôn
giáo ngoài Kitô có điểm tới là Kitô giáo.
Xem M. Heinrichs, op. cit., p. 81.
H. Lammens, Mahomet fut- il sincère,
trong RECH. SCIENCCES RELIG., 2 (1911), pp. 25-53.140-166 trích bởi
G. Thils, op. cit., p. 42.
[156]
Lập trường này dựa vào quan điểm về
công chính hóa, ân sủng và nguyên tội của Luther cùng những
người Tin lành.
H. R. Schlette cho rằng
không có khẳng định nào của Kinh Thánh nâng đỡ
cho quan điểm này. Cf. H. R. Schlette, op. cit., p. 29.
Theo K. Rahner, lịch sử của
các tôn giáo không chỉ là thành quả của lư trí và của
tội, nhưng cũng c̣n là hoa trái của ân sủng nữa.
Cf. K. Rahner, art. “La nature et la grâce,” trong Questions théologiques
aujourd’hui, t.II, DDB 1963, p. 33.
[157]
La Combe Olivier, Râmânuja, Approches de l'Inde, trong CAHIER DU SUD 1949 Ma
Mystique naturelle et l'Inde, trong
REVUE THOMAISTE 1951.
R. C. Zaehner, Hindu and Muslim
mysticism, London: Athlone Press, 1957
Mysticism
sacred and profane, Oxford: Clarendon Press, 1957.
L. Massignon, La passion de Al-Hallâj,
martyr mystique de l'Islam, 2 vol., Paris 1922.
[158]
Mục này phần lớn lấy lại trong G. Phạm
Thanh Liêm, Thần học các tôn giáo ngoài Kitô, Đà Lạt:
bđm, 1982, pp. 7-30.
[159]
Irénée, Adversus Haereses, 4, 28, 2 PG.7, 1062
trích bởi G. Thils, op. cit., p.
65.
[160]
Clément D’Alexandrie, Stromates, I, 5 PG.8, 717-720 trích bởi
G. Thils, op. cit., p. 66
[161]
Clément D’Alexandrie, Stromates, VII, 2 PG.9, 409-410 trích bởi G.
Thils, op. cit., p. 66
[162]
Clément D'Alexandrie, Stromates, VI, 3 PG.9, 262 sq., trích bởi M.
Heinrichs, op. cit, p. 106
[163]
St. Bernard, Tractatus de Baptismo, cap.1, n.4 PL.182, 1034, trích bởi G.
Thils, op. cit., p. 73
[164]
G. Thils, op. cit., p. 50. Cf. Br. Decker, Nikolaus van Cues und
Friede unter den Religionen, trong J. Koch, Studien und Texte zur
Geistesgeschichte des Mittesalters, t.III, Lieden-Cologne 1953
[165]
Nikolaus Von Kues, Ueber den Frieden in Glauben, Leipzig 1943, p.
91, trích bởi M. Heinrichs, op. cit., p. 81 ghi chú 17
[166]
R. Guardini, Der Herr, Wurzburg 1949, p. 355, trích bởi M. Heinrichs, op.
cit., p. 106
[167]
PIÔ XII, Diễn từ cho các cô đỡ, ngày 29.10.1951,
DC.1951, col.1480, trích bởi Y. Congar, Vaste monde ma
paroisse, trang 141, FV.27
[168]
Xem Y. Congar, op. cit., p. 40, note 1
[169]
Th. Ohm, Die Liebe zu Gott in den nichtchristlichen Religionen.
Die Tatsachen der Religionensgeschichte und die christliche Theologie,
Krailing Vor Munchen 1950, p. 442 cf. Y. Congar, op. cit., p. 141
[170]
K. Rahner, art. “Mensch,” trong Lex. F. Und K., col. 292 trích bởi Étienne
Cornélis, Valeurs chrétiennes des religions non-chrétinenes, trang 46.
[171]
H. R. Schlette, Towards a Theology of Religions, p. 78-81.
Hiển nhiên chúng ta phải hiểu,
các tôn giáo ngoài Kitô- xét như những hành động phượng
tự của con người dưới tác động
của ân sủng được biểu lộ cách xă hội-
là điều Thiên Chúa muốn, và như vậy con
người được cứu qua những hành động
phượng tự đó. Nhưng nếu tôn giáo hiện tại,
xét như một hệ thống tự coi ḿnh là đủ (autosuffisant)
và đóng kín với Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, th́ không
thể coi là điều Thiên Chúa muốn được.
[172]
Những điều được tóm về lập
trường của H. R. Schlette, xem đặc biệt H.
R. Schlette, op. cit., pp. 30, 36-37.67.70-72.74.76-81
[173]
A. M. Wensinck, The Muslim Creed, 2nd. édition, London: Cass, 1965, p.
189, trích bởi G. Parrinder, art. “Revelation in other
Scriptures,” trong STUDIA MISSIONALIA, vol.20, pp. 101-102: “Coran là Lời
Thiên Chúa, được viết trong sách, được
ǵn giữ trong trí nhớ, được lập lại bằng
lưỡi, được mặc khải cho vị
tiên tri. Những lời loan báo, việc sao chép, việc
đọc lại kinh Coran của chúng ta là được
tạo thành, c̣n Coran th́ không được tạo thành.”
É. Cornélis, Valeurs chrétiennes des
Religions non-chrétiennes, p. 31, trích bởi G. Thils, op. cit., p. 109
[174]
Xin đọc thêm về vấn đề này trong G. Phạm
Thanh Liêm, Thần học các tôn giáo ngoài Kitô, pp. 21-25
[175]
Xem G. Phạm Thanh Liêm, op. cit., p. 21-25
[176]
Xem Lời đầu Liminaire trong quyển Symbole, trong bộ
RECHERCHES ET DÉBATS XII (1959), pp. 7-9: biểu tượng là dấu
chỉ của thực tại vô h́nh.
L. Leahy, Philosophie de l'homme, p.
II/6: dấu chỉ là thực tại khả giác mang ư
nghĩa.
[177]
M-M. Davy, “Les symboles et l'histoire,” p. 32
[178]
Nếu cục đá, cái cây này, và lịch sử này
đă là phương tiện thần hiển (hierophanie).
[179]
P. Tillich, Aux frontières de la religion et de la science, p. 169
Liminaire trong Le Symbole, RECHERCHES
ET DÉBATS (1959), p. 8
Thực ra, mọi ngôn ngữ
diễn tả “thực tại hoàn toàn khác” đểu là
ngôn ngữ biểu tượng, có tính biểu tượng.
[180]
Phần Liminaire trong Le Symbole, Ibid., p. 8
[181]
Xem J. TROUILLARD, “Symbole et distance,” p. 42
[182]
Xem Louis Millet, “Le pouvoir du symbole,” p. 19-20
P. TILLICH, op. cit., p. 162-163
[183]
DS 1-5, 6 tt.
[184]
H. Maurier, Essai d'une théologie du paganisme, p. 85-86.
M. Éliade, Le sacré et le profane, p.
15
[185]
Fernand, trong “Introduction” cho P.Tillich, op. cit., pp. 21-22
[186]
M-M. Davy, art. cit., trong Le Symbole, p. 34
Fernand, “Introduction” cho P. Tillich,
op. cit., pp. 21-22
[187]
Xem mục ư kiến về các tôn giáo ngoài Kitô, ở trên,
trang 30-43.
Ngay cả khi chúng ta nghe ai mà
không nói lời nào, chúng ta vẫn không ngừng nói với
chính chúng ta. Bởi v́ bài dạy của giáo sư, bài giảng
của vị giảng thuyết, lời nói của
xướng ngôn viên cũng gợi lên trong chúng ta những suy
nghĩ, chấp nhận, nghi vấn, bài bác, diễu cợt
và ngay cả những châm biếm chua cay. V́ không thể
nói lên lời, chúng ta đành nói một ḿnh với chúng ta.
Đó là hiện tượng ngôn ngữ nội tâm.
Khi đọc một tác phẩm,
chúng ta không ngừng đối thoại với tác giả,
tuy không nói nên lời nhưng vẫn mănh liệt.
L. Leahy, Philosophy de l'home, p. II/2
[188]
St. Ignace, Exercises Spirituels, bản dịch của Francois
Courel, n. 330, p. 174
[189]
Điều này chúng ta cũng đă t́m hiểu ở trên,
đặc biệt mục về cơ cấu con người
đ̣i dấu chỉ. Ân sủng- xét như t́nh yêu- cần
được biểu lộ qua những dấu chỉ
khả giác đối với con người. V́ nếu
không được biểu lộ qua dấu chỉ khả
giác, con người không thể biết, không thể đáp
trả, và như vậy không được cứu
độ. Điều này trái với ư định của
Thiên Chúa.
[190]
Các bí tích trong Kitô giáo là những biểu tượng thực,
vừa khác lại vừa giống với những biểu
tượng khác trong Kitô giáo.
[191]
Vocabulaire de théologie biblique, ed. X. Léon Dufour, art. “Foi,” col.389
E. C. Blackman, art.
“Faith-Faithfulness” trong INTERPRETER' S DICTIONARY OF THE BIBLE, vol.
II, pp. 222-223
[192]
G. Dominici, Notes de théologie morale- Vertus théologales, pp. 15.17
[193]
G. Dominici, op. cit., p.10
G. Marcel, Foi et la réalité, pp. 95-
100
G. Marcel cho rằng có sự
khác nhau sâu xa giữa ư kiến, xác tín, và đức tin.
Cf. G. Marcel, op. cit., pp. 93.96-97.
[194]
G. Marcel, Ibidem
[195]
G. Dominici, op. cit., p. 45.46.50
[196]
Những người không nhận biết Thiên Chúa, và đặc
biệt những người chủ trương vô thần
thường dựa vào ư niệm nào đó về Thiên
Chúa và với lư luận họ khẳng định “niềm
tin vô thần” của họ; chẳng hạn họ lư luận: nếu
Thiên Chúa hiện hữu th́ Ngài có những phẩm tính này phẩm
tính nọ, và nếu vậy th́ phải như vầy
như vầy, nhưng thực tế th́ không có như vậy,
vậy không có Thiên Chúa.
Cf. G. Marcel, Foi et réalité, Aubier
1967, FV 38, p. 91. Chẳng hạn nếu Thiên Chúa nhân lành và
toàn năng th́ tại sao có sự dữ? Mà chúng ta thấy sự
dữ hiện diện đầy tràn, vậy Thiên Chúa
không hiện hữu.
Nếu Thiên Chúa toàn tri th́ con
người đâu có tự do!
[197]
Xem Robert Coffy, Dieu des athées, France: Chronique social de France
[198]
Kinh Nguyện Thánh Thể IV trong Sách Lễ Giáo Dân, Sài G̣n
1972, trg. 1415
[199]
H. De Lubac, Dieu se dit dans l'histoire, p.85
[200]
Roqueplo, La foi d' un mal croyant, Paris: Cerf, 1969, p. 169;
J. Mouroux, Je crois en Toi, Paris:
Cerf, 1968, p. 25tt trích bởi G. Dominici, op. cit., p. 9
[201]
Facienti quod in se est, Deus non denegat gratiam; trích bởi G.
Thils, op. cit., p. 16
[202]
E. Schillebeeckx, Le Christ- sacrement de la rencontre de Dieu, p. 160
[203]
Cf. A. Drexel, op. cit., p. 128
[204]
G. Dominici, op. cit., pp. 47-48; Cf. J. Maritain, Neuf lecons sur
les notions premières de la philosophie morale, pp. 119-121.
J. Maritain, L'opzione fondamentale
della vita morale e la grazia, GREGORIANUM 41 (1960), pp. 601-603.
J. De Finance, Ethica generalis, Roma:
PUG 1959, pp. 155-162
[205]
G. Dominici, op. cit., pp. 49-50
[206]
Trong D.C. 1951 col.1480 trích bởi Y. Congar, op. cit., p. 141
[207]
Nơi các Kitô hữu đầu tiên, lời tuyên xưng “Tôi
tin một Thiên Chúa là Cha toàn năng, và Đức Giêsu Kitô
Con Một Thiên Chúa” được gọi là các biểu
tượng đức tin (biểu tín).
Xem DS 1-5.6tt
[208]
RECHERCHES ET DÉBATS (1969), Le Symbole, trg. 8
[209]
J. Trouillard, art. “Symbole et distance” Le Symbole, trang 40-41
[210]
P. Tillich, Aux frontières de la religion et de la science, pp. 19-20
[211]
Fernand Chapey trong P. Tillich, op. cit., p, 22
[212]
P. Tillich, op. cit., p. 162-163
Đức Kitô cũng là biểu
tượng lịch sử.
[213]
Huyền Chân, Đạo Phật, trg. 16
[214]
Huyền Chân, op. cit., trg. 45
[215]
Naràda M. T., Buddha and his teachings, bản dịch của Phạm
Kim Khánh, Đức Phật và Phật pháp, trg. 289-290
[216]
Cf. L. Monden, Le miracle- signe du salut, p. 121
[217]
É. Cornélis, Valeurs chrétiennes des religions non- chrétiennes, p. 58
[218]
Raymond Panikkar, “Confrontation between Hinduism and Christ,” trong LOGOS
X (June 1969), p. 48, 43.
Paradkar, Christian Encounter, p. 33,
trích bởi Asandas Balchand, SJ, The salvific value of non- christian
religions according to Asian Christian Theologians Writings in Asian
Published Theological Journals 1965-1970, Manila: EAPI 1973, p. 37
[219]
Cf. E. Schillebeeckz, Le Christ- sacrement de la rencontre de Dieu, Cf. A.
Drexel, Bí tích đại cương.
[220]
K. Rahner, Pour la thélogie du symbole, p. 34-35
[221]
K. Rahner, Parole et Eucharistie, p. 74
[222]
K. Rahner, op. cit., pp. 67-68
[223]
A. Drexel, Bí tích đại cương, trg. 62, trích dẫn
Gabriel Biel, In 4 S., d. 3, q. unica, a. 2
St. Thomas, S.T., III, 62,
St. Thomas, 4 S, d.1, q.2, a. 6
St. Augustin, In Jon. tract., 80, 3
PL.35, 1840
[224]
Với bí tích thánh tẩy, chúng ta thấy rơ điều này;
nhưng c̣n với các bí tích khác? Một điều chúng
ta lưu ư: người Công Giáo tin có bảy bí tích, nhưng
anh em Tin Lành không tin truyền chức và xức dầu là bí
tích! Anh em Chính Thống coi bí tích Rửa tội và bí tích
Thêm sức là một! Những bất đồng giữa
Chính thống giáo, Công Giáo và Tin Lành, là số bí tích; và hàm
chứa vấn đề: Đức Kitô có thiết lập những
bí tích mà các giáo phái khác nhau- đều là Kitô giáo- không tin nhận
không?! Vấn đề này chúng ta không bàn đến trong phạm
vi bài này.
[225]
Giáo Lư Công Giáo, Sài G̣n: Tân Định Thiện Bản, 1967, số
150, trg. 60.
Sách Bổn dạy những lẽ
đạo cần cho được rỗi linh hồn,
Địa Phận Hà Nội- Hiện Tại 1957, phần
II, đoạn V, điều 2, trg. 76
[226]
B. Poshmann, Pénitance et onction des malades, p. 168
[227]
Duns Scott, Ox., IV, dist.17, q.1, n.11 cf.B. Poshmann, op. cit., p. 63
[228]
DUNS SCOTT, Ox., IV, dist.14, q. 4, n. 6 cf. B. POSHMANN, op. cit., p.163
[229]
Ibidem, n. 7
[230]
K. Rahner, Piété personnelle et piété sacramentelle, trg. 120
K. Rahner, Parole et Eucharistie, p. 83
[231]
Ibidem, trg. 83
[232]
K. Rahner, Piété personnelle et piété sacramentelle, p. 124
[233]
Đây là quan niệm của thánh Thomas d'Aquin
K. Rahner, op. cit., p. 125
[234]
V́ ân sủng cũng có tính cách nhập thể, biểu lộ
qua thân xác.
[235]
K. Rahner, op. cit., pp. 135.138-139.141-142
[236] Xem
K. Rahner, Eglise et Sacrements, p. 38-39.
[237]
Không hàm ư loại trừ việc lănh bí tích.
[238]
Innocentius III, Ep. “Maiores Ecclesiae causas” ad Ymbertum archiep.
Arelat., exeunte a.1201; DS 780/410/
E. Schillebeeckx, op. cit., p.160
[239]
DS 780
[240]
DS 1310.1348.1602
[241]
Vatican II, Sắc lệnh Truyền giáo, số 1
[242]
Vatican II, Tuyên ngôn về liên lạc của Giáo Hội với
các tôn giáo ngoài Kitô, số 2
[243]
Theo thiển kiến, khái niệm Đạo nơi đạo
Lăo là một biểu tượng có thể Kitô hóa:
“Đạo khả Đạo phi thường Đạo.
Danh khả phi thường Danh.” Cf. Lăo Tử, Đạo
Đức Kinh, IA, trg. 37
[244]
Cf. K. Rahner, La nature et la grâce, p. 33
[245]
K. Rahner cho rằng ân sủng là chính Thiên Chúa và không thể hiểu
ân sủng bằng phạm trù “sự vật” dù rằng lịch
sử triết học và thần học có diễn tả
ân sủng như một thực tại, như một tính
chất, như một tùy thể, như một t́nh trạng.
Sở dĩ lịch sử
triết học và thần học phải dùng phạm trù hữu
thể để nói về ân sủng, bởi v́ có ǵ “thực”
hơn t́nh yêu Thiên Chúa, có ǵ có thể biến đổi
con người hữu hiệu bằng t́nh yêu Thiên Chúa, và bởi
v́ chúng ta phải diễn tả những thực tại cao
siêu bằng những hạn từ trừu tượng, nên
phải trong tinh thần đó chúng ta mới hiểu
được những ǵ triết học và thần học
thời trung cổ nói về ân sủng. Xem K. Rahner,
Ibid., p. 28-29.32.
Cf. CH. Baumgartner, La grâce du
christ, Belgium: Desclée, 1963, p. 164-166