|

http://www.pgvn-haitrieuam.org
KINH LUẬN DO H̉A THƯỢNG
THÍCH TỪ THÔNG
BIÊN SOẠN
|
HOME | BÁT NHĂ |
CHỨNG ĐẠO CA | DUY MA
CẬT | DUY THỨC HỌC | ĐẠI BÁT NIẾT BÀN
| ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG NGHĨA |
NHƯ LAI VIÊN GIÁC | PHÁP
HOA |

THỦ
LĂNG NGHIÊM
KINH
TRỰC
CHỈ ĐỀ CƯƠNG
TRỌN
BỘ
GIÁO
ÁN TRUNG CAO CẤP PHẬT HỌC
M
ỤC L
ỤC
Lời nói đầu
(Trang số là theo
trong sách của thầy)
CHƯƠNG THỨ NHẤT
CHƯƠNG THỨ HAI
CHƯƠNG THỨ BA
1. Sắc ấm
2. Thọ ấm
3. Tưởng ấm
4. Hành ấm
5. Thức ấm
-
Sáu nhập là hiện tượng biểu hiện từ Như Lai Tàng. (trang 106)
1. Nhăn nhập
2. Nhĩ nhập
3. Tỷ nhập
4. Thiệt nhập
5. Thân nhập
6. Ư nhập
-
Mười hai xứ là hiện tượng biểu hiện từ Như Lai
Tàng.(trang 110)
1. Sắc và kiến
2. Thanh và thính
3. Hương và khứu
4. Vị và thường
5. Xúc và thân
6. Pháp và lư
-
Mười tám giới là hiện tượng biểu hiện từ Như Lai
Tàng.(trang 114)
1. Nhăn thức giới.
2. Nhĩ thức giới
3. Tỷ thức giới
4. Thiệt thức giới
5. Thân thức giới
6. Ư thức giới
-
Bảy đại là hiện tượng biểu hiện từ Như Lai
Tàng.(trang 123)
1. Địa đại hoàn nguyên
2. Thủy đại hoàn nguyên
3. Hỏa đại hoàn nguyên
4. Phong đại hoàn nguyên
5. Không đại hoàn nguyên
6. Kiến đại hoàn nguyên
7. Thức đại hoàn nguyên
CHƯƠNG IV
CHƯƠNG V
CHƯƠNG VI
Do nhĩ căn được viên thông.
(trang 253)
* Phật khai thị về ba môn vô lậu học và bốn điều cơ bản xuất trần.
- Ba môn vô lậu học(trang 286)
- Bốn điều cơ bản xuất trần (trang 289)
CHƯƠNG VII
I. Phât khai thị về hiệu
năng của Mật giáo (trang 297)
II. Phật tuyên nói Thủ Lăng Nghiêm tâm chú. (trang 304)
III. Sự ích lợi của Thủ Lăng Nghiêm chú với mọi giai tầng xă hội. (trang
311)
IV. Hỏi về cấp bậc và địa vị trên đường tu chứng. (trang 314)
V. Đức Phật chỉ rơ hai nguyên nhân điên đảo vọng chấp về thế giới và chúng
sinh trước khi giải đáp vấn đề địa vị trên đường tu chứng (trang 314)
CHƯƠNG VIII
I. Phật dạy ba món tiệm
thứ. (trang 325)
II. Các địa vị trong tiến tŕnh tu chứng. (trang 329)
III. Kinh Thủ Lăng Nghiêm có nhiều tên
gọi.(trang 342)
IV. Những mối nghi ngờ sâu sắc có tính phổ biến được Phật dạy
bảo.(trang
342)
V. Do những tập nhân bất thiện tự chiêu cảm các ác quả khổ
đau.(trang 350)
VI. Sáu thứ khổ báo là kết quả của bất thiện nghiệp phát xuất từ lục căn
và lục thức của con người. (trang 353)
VII. Nói về các dư báo sau khi ra khỏi địa ngục.
(trang 360)
VIII. Mười thứ Tiên do tu Dị nhân kết thành dị quả. (trang 364)
IX. Trời Dục giới (trang 366)
CHƯƠNG IX
I. Trời sắc giới(trang 369)
II. Trời vô sắc giới (trang 373)
III. Bốn loài A Tu La (trang 375)
IV. Tu hành chỉ là một phương tiện để diệt vọng qui chơn. (trang 376)
V. Trên bước đường tu phải cảnh giác các hiện tượng khuấy nhiễu của
ma.trang 381)
VI. Những hiện tượng thuộc phạm vi Sắc ấm
(trang 382)
VII. Những hiện tượng thuộc phạm vi Thọ ấm
(trang 386)
VIII. Những hiện tượng thuộc phạm vi Tưởng ấm
(trang 392)
CHƯƠNG X
I. Những nhận thức sai lầm
thuộc phạm vi Hành ấm (trang 405)
II. Những nhận thức sai lầm thuộc phạm vi Thức ấm (trang 415)
III. Phần lưu thông (trang 426)
QUẢ VÔ THƯỢNG NIẾT BÀN của
Như Lai chỉ là kết quả của quá tŕnh đấu tranh với dục vọng và chiến thắng
hoàn toàn bọn giặc cướp phiền năo vô minh.
I. Muốn hiểu Niết bàn trước hết cần điều chỉnh những quan niệm ngộ nhận về
Niết bàn.(trang 430)
II. Hiểu đúng nghĩa Niết bàn mới t́m thấy và biết được Niết bàn. (trang
431)
III. Niết bàn không phải là cảnh giới để dành cho một hạng người. (trang
437)
LỜI
NÓI ĐẦU
Băng 1
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm là một bộ kinh thuộc hệ tư tưởng thượng thừa liễu nghĩa.
Từ xưa nhẫn nay, khắp chốn ṭng lâm, những hàng long tượng trong giới truy
lưu đều xem Thủ Lăng Nghiêm kinh là một trong những bộ kinh then chốt
trong nền giáo lư Phật. Bộ kinh này có mặt ở Trung Quốc từ đời nhà Đường
(618-907). Ngài Bát Lạt Mật Đế và Di Già Thích Ca dịch từ Phạn văn ra Hán
văn.
Măi đến đời nhà Minh (1366-1661) tư tưởng
Thủ Lăng Nghiêm, được các giới truy lưu, những hàng long tượng để tâm
nghiên cứu rầm rộ một th́. Các tiền bối ra sức phát huy diệu lư của kinh.
Mỗi Ngài chú giải, sở thích, sáng tác theo sở kiến, sở ngộ của ḿnh. Có
những vị phát huy cái thâm cái diệu tàng ẩn trong kinh làm cho sáng tỏ rơ
ràng đem lại cho Phật Tử hậu lai nhiều lợi lạc. Cũng có những vị sớ giải
mơ màng, gieo vào ḷng người con Phật những tư tưởng huyễn hoặc hoang
đường, vô phương lư giải. Do vậy, những bậc thạc đức chân tu cùng thời,
Ngài Thích Truyền Đăng phải viết ra hai quyển, nhan đề: Lăng Nghiêm
viên thông sớ tiền mao. Nội dung để báo động trong giới truy lưu về sự
sai lầm của những nhà sớ giải vô t́nh đă gieo vào ḷng người con Phật tư
tưởng mê tín dị đoan, con đường giải thoát giác ngộ mơ hồ không hy vọng có
ngày hiện thực. Trong lời tựa của bộ "Thủ Lăng Nghiêm chính mạch" th́ Ngài
Chơn Giám cũng than phiền tương tợ !…
Ở Việt Nam ta, từ những thập niên 30 về
sau, phong trào chấn hưng Phật giáo, các trường cao cấp Phật học đều dùng
bộ Thủ Lăng Nghiêm trực chỉ của Ngài Hàm Thị mà giảng dạy
trong giáo tŕnh.
Qua quá tŕnh tu học và nghiên cứu, bỉ
nhân tôi, thấy phần "Trực Chỉ" của bộ kinh này, đại cương mà nhận
xét, có nhiều ư thú thâm sâu, cũng có thể làm kim chỉ nam cho giới truy
lưu dùi mài, tư duy và tu dưỡng có đem lại được những điều bổ ích. Dù vậy,
sự bổ ích đó chỉ nghiêng nặng cho giới truy lưu, cho những người dồi dào
đức tin đối với Tôn giáo của ḿnh, đức tin đó được khép kín trong chốn
ṭng lâm "thanh tịnh" cổ kính "u nhàn".
Cái tầm nhận thức của Tăng tín đồ Phật tử
trong xă hội Xă Hội Chủ Nghĩa ngày nay đ̣i hỏi nền giáo lư Phật giáo phải
khế cơ, khế lư; nghĩa là phải được cụ thể hóa rơ ràng hơn. Phải biến nền
giáo lư đó thành một thứ chất dinh dưỡng đem lại cho con người sự bồi bổ,
sự ích lợi cho bản thân, cho gia đ́nh, cho xă hội và đáp ứng yêu cầu tri
thức của người đệ tử Phật ngang bằng tầm cỡ của thời đại. Bởi v́, xă hội
loài người, vật chất cũng như tinh thần luôn luôn trong tiến tŕnh vận
động và chuyển hóa, mà cái ǵ không tiến tức đă lùi.
Sau 11 năm, ngày miền Nam hoàn toàn giải
phóng, cuộc diện đất nước Việt Nam hoàn toàn đổi mới. Mới về chính trị,
kinh tế, xă hội, văn hóa, tất nhiên phải mới cả tư tưởng. Nói đến sự kiện
này, tôi thành thật không giấu giếm rằng: Tôi rất may mắn, có phúc duyên,
tôi được kịp thời và đúng lúc, ḥa ḿnh vào xă hội mới để học tập. Tôi t́m
học những cái hay cái mới để bồi dưỡng cho kiến thức của ḿnh. Và sự thật,
thời gian qua đem lại cho tôi một kết quả rất bằng ḷng, và bằng ḷng thật
sự, bằng ḷng trọn vẹn. Tôi vận dụng những kiến thức của thời đại, dung
ḥa vào cái vốn liếng Phật học sẵn có của ḿnh. Tôi thấy vô cùng sáng tỏ.
Rồi v́ đàn em hậu tiến trong giới truy lưu vận dụng vào kinh điển trong
giáo tŕnh mà ḿnh đă có, tôi viết thành những giáo án Phật học. Việc làm
này tôi chưa dám nói là hoàn bị mọi mặt yêu cầu, nhưng sự thật trước mắt
là người học có cái nh́n chính xác hơn đối với lời kinh, ư Phật. Và tự
ḿnh gỡ bỏ cho ḿnh những cặp kính ảm đạm mơ hồ, nh́n đâu cũng thấy toàn
bộ một màu buồn tẻ hoang đường, huyễn hoặc, siêu h́nh vô phương lư luận.
Tai họa của sự nhận thức sai lầm chơn lư, nó nuôi dưỡng trong con người
một tâm hồn yếu đuối, làm cho con người mất hết sức tự tin; con người
không tin khả năng thành Phật của ḿnh, không tin nổi rằng: ḿnh vốn có
Phật tánh. Con người đă mất khả năng tự tin th́ suốt cuộc đời mệnh danh là
đệ tử Phật nhưng "linh hồn" th́ đă gởi gấm cho "đấng siêu nhiên" nào đó ở
một thế giới xa xăm ngoài tầm lư luận của trí thức con người. Đó là cái
buồn chung cho trong hàng đệ tử Phật lạc lối ngày nay.
Học kinh Thủ Lăng Nghiêm, con người sẽ xác
định được vị trí của ḿnh đối với quả vị Bồ Đề Niết Bàn vô thượng.
Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni của chúng ta sống bằng "Chơn tâm thường
trú" sinh hoạt trong "Thể tánh tịnh minh". Mà tất cả mọi người đệ tử Phật
trong chúng ta đều có "Chơn tâm thường trú" và "Thể tánh tịnh minh" ấy.
Chỉ khác nhau ở chỗ:
C̣n phiền năo khách trần hay phủi hết
phiền năo khách trần vậy thôi.
Cái từ Trực Chỉ trong giáo án "Thủ Lăng
Nghiêm Trực Chỉ Đề Cương" nầy không lệ thuộc, không tương quan ǵ với ư tứ
của Ngài Hàm Thị ở thời Minh xa xưa bên Trung Quốc. Mà phần trực chỉ nầy,
thể hiện từ quá tŕnh học tập trong thời đại mới với những tư tưởng mà tôi
rất bằng ḷng như đă nói ở trên.
Để trắc nghiệm sự bằng ḷng của ḿnh xem
có chủ quan không, tôi đem cái nhận thức mới, vận dụng qua nền giáo lư
thậm thâm của Phật, tôi giảng dạy cho Tăng Ni trường Phật học Cao cấp cơ
sở I ở Thủ đô Hà Nội, từ năm 1981 đến 1985. Lắng nghe dư luận: Kết quả tốt.
Tôi đang thí nghiệm tư tưởng đó ở Trường Phật học Cao cấp cơ sở II ở Thành
phố Hồ Chí Minh từ năm 1985 đến nay.
Lắng nghe, có kết quả tốt. Tôi giảng cho
Tăng Ni và tín đồ Phật tử ở nhiều giảng đường khá đông đảo ở thành phố Hồ
Chí Minh trong nhiều năm liên tục. Lắng nghe, đều kết quả tốt.
Nay tôi viết giáo án "Thủ Lăng Nghiêm Trực
Chỉ Đề Cương" nầy nhằm phục vụ cho đối tượng Tăng Ni sinh Phật học cao cấp.
Hiện nay th́ tôi đang giảng cho Tăng Ni sinh năm thứ 3 trường Phật học cao
cấp cơ sở II tại thành phố Hồ Chí Minh. Dù vậy, tŕnh độ của người Phật tử
trí thức ngày nay, có rất nhiều người hâm mộ nghiên cứu học tập tư tưởng
liễu nghĩa thượng thừa thâm diệu của kinh Thủ Lăng Nghiêm nầy.
Đă là giáo án, tất nhiên c̣n phải triển
khai hướng dẫn rộng thêm nhiều mặt.
Đă là đề cương th́ không thể đ̣i hỏi ở đây
những chi tiết quá rộng răi ở kinh văn nguyên chất.
Tuy nhiên, Thủ Lăng Nghiêm Trực Chỉ Đề
Cương tương đối đủ sức giúp cho người đọc nắm lấy cái bâu của áo, xách lên
cái giềng của lưới, nghĩa là có thể tiếp thụ được cái ư thú thâm diệu, tư
tưởng cốt tủy của lời kinh. Dù vậy, sự nhận thức và tiếp thu đến mức độ
nào việc đó c̣n tùy thuộc một phần ở con người nữa; cũng như trông một
viên ngọc kim cương, chắc chắn ai cũng thấy biết được sắc màu của viên
ngọc, nhưng đánh giá đúng trọn vẹn màu sắc hay không c̣n tùy ở sự có biết
thay đổi hướng đứng hay không để nh́n viên ngọc của chính ḿnh.
Việc phê phán khen chê, tôi đă có dự trù
và sẵn sàng hoan hỉ tiếp thu. Trong kinh Niết Bàn, đức Phật kể câu chuyện
năm chàng mù sờ voi… Rồi họ ấu đả với nhau, v́ trong đó, không có anh nào
cho rằng ḿnh không biết rơ con voi thật. Con voi như cây cột, con voi như
cái quạt mo, vẫn chưa phải vô lư, kia mà !
Này ! Các bạn ơi ! Tôi đă thấy được con
voi thật ! Nó thường phe phẩy hai tai, nó dẫm tới dẫm lui và tỏ vẻ thèm
thuồng, muốn xin những lóng mía của khách nhàn du trong "vườn bách thú" ấy.
Viết tại Huỳnh Mai Tịnh Thất
Mùa thu năm Bính Dần
Ngày 23 tháng 09 năm 1986
Pháp Sư: THÍCH TỪ THÔNG
Top
CHƯƠNG THỨ NHẤT
TỔNG KHỞI
Băng 2
ĐỀ KINH
Thủ Lăng Nghiêm,
Trung Hoa dịch: Nhất Thiết Sự Cứu Cánh Kiên Cố. Đó là tên một đại
Thiền định. Hành giả thành tựu được thứ Đại Thiền định này sẽ có sức trí
tuệ giác ngộ Cứu Cánh, một nghị lực Kiên Cố đối với hiện
tượng vạn hữu, với Nhất Thiết Sự trên cơi đời này.
Đề kinh nầy nói đầy đủ th́ có 19 chử:
Đại Phật Đảnh, Như Lai Mật Nhơn, Tu Chứng Liễu Nghĩa, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh
Thủ Lăng Nghiêm.
Thủ Lăng Nghiêm là tên gọi tắt qua cái từ
trọng tâm 19 chữ của đề kinh.
Đề kinh này gồm cả Nhơn, Pháp và Dụ. Đại
Phật Đảnh là dụ. Như Lai Mật Nhơn là nhơn, Thủ Lăng Nghiêm là Pháp vậy.
Định Thủ Lăng Nghiêm rất sâu nhiệm, dùng
tâm phan duyên thường t́nh mà nhận thức, th́ khó mà thể nhận được định nầy.
Ví như đem nhục nhăn nh́n Phật đảnh không sao thấy được trọn vẹn.
Tất cả Như Lai trong mười phương có Bồ Đề
Niết Bàn đều do thành tựu đại định Thủ Lăng Nghiêm. Định Thủ Lăng Nghiêm
là cái nhân kín nhiệm của tất cả Như Lai, cho nên gọi là Như Lai mật nhân.
Nói một cách khác: Thành tựu định nầy đồng nghĩa với thể nhập Phật tri
kiến, Như Lai Viên Giác Diệu Tâm.
Tu chứng định Thủ Lăng Nghiêm là tu chứng
liễu nghĩa khác với kinh điển dạy tu chứng bất liễu nghĩa của Nhị thừa. Tu
chứng ở đây là tu chứng đến Bảo sở, không như sự tu chứng tạm nghỉ ở Hóa
thành.
Thành tựu định Thủ Lăng Nghiêm cũng tức là
thành tựu vạn hạnh của chư Bồ Tát. Nói ngược lại: Bồ Tát thể hiện lục độ
vạn hạnh được viên măn là khi Bồ Tát đă có định Thủ Lăng Nghiêm.
Đối tượng cứu cánh của Kinh Thủ Lăng
Nghiêm là: Chơn Tâm Thường Trú, Thể Tánh Tịnh Minh.
Công dụng của Thủ Lăng Nghiêm là hàng phục
phiền năo trần lao để trở về Chơn Tâm Thường Trú, Thể Tánh Tịnh Minh ấy.
Mục đích cứu cánh của Thủ Lăng Nghiêm là
giải thoát giác ngộ đưa con người từ phàm phu đến địa vị Vô thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác.
Hiểu rơ ư nghĩa của 19 chữ đề kinh là đă
nắm được cái tông chỉ then chốt của toàn bộ kinh rồi vậy.
*****Top
NHƠN DUYÊN VÀ THỜI ĐIỂM
PHẬT NÓI
KINH THỦ LĂNG NGHIÊM
Tạng kinh và công tŕnh kiết tập tạng kinh
là do ông A-Nan thực hiện. A-Nan là một thị giả tận tụy luôn luôn thân cận
tùy tùng Phật, cho nên được nghe tất cả kinh Phật nói trong mọi thời gian.
Ông có thiên tư xuất chúng, được Phật khen là đệ nhất đa văn, ông cũng có
một kư ức vượt người thường, ghi nhớ trọn vẹn lời Phật không quên sót. Bốn
chữ: Tôi Nghe Như Vầy ở đầu mỗi bộ kinh là lời của ông A-Nan ghi
theo di chúc của Phật, nhằm xác minh sự trần thuật của ḿnh, rằng kinh nầy
là chính ông nghe Phật nói, chớ không phải ông tự ư đặt ra.
Phật nói kinh Thủ Lăng Nghiêm tại tịnh xá
Kỳ Hoàn, trong thành Thất La Phiệt. Chúng tỳ kheo thường tùy tùng Phật có
1.250 người đều là bậc vô lậu đại A-La-Hán. Đứng đầu trong chúng có các
ông Đại Trí Xá Lợi Phật, Đại Mục Kiền Liên, Đại Câu Si La, Phú Lâu Na, Di
Đa La Ni Tử, Tu Bồ Đề và ông Ưu Ba Ly. Ngoài ra c̣n có hàng Bích Chi Phật,
Vô Học và những hàng sơ tâm đồng đến chỗ Phật rất đông.
Bấy giờ vào những ngày măn hạ và tự tứ của
chúng tăng, v́ vậy Bồ Tát trong mười phương cũng đến cầu Phật giải quyết
những mối tâm nghi trên đường tu tập. Đứng đầu số chúng Bồ Tát là Bồ Tát
Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử.
Nhằm kết duyên với chúng sanh, làm phước
điền cho tín thí, trong những ngày nầy Phật và đại chúng phải chia từng
nhóm đi chứng trai ở các nhà thí chủ thỉnh mời. Duy có ông A-Nan đă được
mời riêng, đi xa chưa về nên không kịp dự vào hàng tăng chúng.
Trên đường về một ḿnh không có thượng tọa
cùng đi, ông A-Nan thứ lớp khất thực đúng phép hóa trai, ḷng những mong
được một đàn việt cúng dường, không luận giàu nghèo sang hèn, địa vị giai
cấp mà chỉ nhằm làm ruộng phước cho họ gieo hạt Bồ Đề, trồng cây Chánh
giác ở tương lai. Ông không muốn rơi vào ư niệm cực đoan mà ông Đại Ca
Diếp và ông Tu Bồ Đề từng bị Phật quở: Là Sa môn mà tâm không b́nh đẳng,
c̣n phân biệt… Xả phú thủ bần…
Một bất trắc xảy đến không ngờ, khi ông
A-Nan đi qua nhà nàng Ma-Đăng-Già, một cô gái làng chơi. Ma-Đăng-Già dùng
tà chú Tiên Phạm Thiên của đạo Sat́cala bắt ông vào pḥng riêng dụng ư
lẳng lơ, diễn tṛ má dựa vai kề, nâng niu âu yếm, làm cho ông A-Nan gần
mất giới thể.
Phật biết ông A-Nan đang mắc nạn Ma-Đăng-Già
đến hồi nguy cấp. Khác với mọi lần thọ trai xong ở Hoàng Cung của vua Ba
Tư Nặc, Phật liền trở về tịnh xá Kỳ Hoàn. Sự kiện lạ thường nầy làm cho
vua, quan, trưởng giả và cư sĩ rất đông cùng theo Phật về tịnh xá, hy vọng
được Phật dạy cho những pháp yếu mới lạ nào chăng !
Bấy giờ tướng vô kiến đảnh của Phật, phát
ra một vầng sáng rực rỡ không gian trong ánh sáng báu có đức Hóa Phật
ngự ṭa sen báu ngh́n cánh, tuyên nói thần chú Thủ Lăng Nghiêm.
"Án A Na Lệ. Tỳ Xá Đề. Bệ Ra Bạt Xà Ra Đà
Rị. Bàn Đà Bàn Đà Nễ. Bạt Xà Ra, Bàn Ni Phấn, Hổ Hồng Độ Rô Ung Phấn, Tóa
Bà Ha".
Phật bảo Bồ Tát Văn Thù đem chú đó diệt
trừ tà chú của Ma-Đăng-Già. Đồng thời Bồ Tát Văn Thù cũng đưa ông A-Nan và
nàng Ma-Đăng-Già cùng về tịnh xá chỗ Phật ở.
… Ông A-Nan khóc lóc, trách ḿnh: Từ vô
thỉ đến nay, chỉ chuyên lo học rộng nhớ nhiều, mà đạo lực không tự cứu
được ḿnh, trong cơn vô minh bất giác… Ông tha thiết cầu xin Phật dạy cho
ông pháp Chỉ, Quán và Thiền Na là những phương tiện đầu tiên mà các
Như Lai tu hành thành tựu Bồ Đề, Niết Bàn của mười phương chư Phật.
Bấy giờ cùng có hằng hà sa Bồ Tát, Bích
Chi, Vô Học và Đại A La Hán, những người Hữu học, đều ngồi chỗ của ḿnh
cùng yên lặng nghe lời Phật dạy.
TRỰC CHỈ
Phát tâm tu hành t́m đường giải thoát giác
ngộ, văn tư tu là điều rất cần, nhưng nếu chỉ có đa văn, là một học giả
th́ không đủ đảm bảo an toàn khi vô minh phiền năo xâm phạm.
Tà pháp tuy có nguy hiểm, nhưng rồi sẽ bị
diệt vong. Chánh sẽ thắng tà. Ánh sáng sẽ quét sạch bóng tối.
Tiên Phạm Thiên là tà chú của đạo Sat́cala,
diệt trừ tà huyễn,
Như Lai dùng
Hóa Phật
của Vô thượng Chánh Biến Tri Giác nói chú Thủ Lăng Nghiêm để diệt trừ. Đây
là ư nghĩa: "Dĩ huyễn Tu huyễn" "Tri huyễn tức ly" ở kinh Viên Giác, Phật
dạy đồng với ư ở đoạn kinh nầy.
Ma Đăng Già biểu trưng nhiều dục vọng,
nặng luyến ái đam mê. Đại Trí Văn Thù biểu trưng vô phân biệt trí, thứ trí
nh́n hiện tượng vạn pháp bằng cái tướng
Như Thị
của chính nó. Đại Trí Văn Thù đem chú Thủ Lăng Nghiêm hóa giải chú Tiên
Phạm Thiên của Ma Đăng Già, có ư nghĩa là: T́nh cảm đen tối th́ hăy đem lư
trí rực sáng mà rọi vào. Sáng đến th́ tối phải đi.
Ông A-Nan gần mất
giới thể,
nói lên hiện tượng bất giác vô minh chợt đến bất ngờ rất là nguy hiểm. Đại
Trí Văn Thù đem chú đến hóa giải được an toàn cho ông A-Nan, điều đó có
nghĩa là: Trí huệ sáng đến th́ vô minh tan đi. Giác sanh th́ mê diệt.
Phật Thích Ca bất động, ngồi nơi tịnh xá
Kỳ Hoàn cùng đại chúng, chờ sự chiến thắng ma quân mà không sử dụng sức
lực và một thứ khí giới nào. Qua sự kiện đó, người Phật tử phải học: Muốn
phá yêu thuật, đánh đuổi ma quân diệt giặc vô minh, phải sử dụng trí lực
mà không dùng thể lực, phải vận dụng tâm thanh tịnh mà không thể dùng sức
lực của bắp thịt chân tay để đối phó trong trường hợp này.
Do lẽ đó, nội dung kinh Thủ Lăng Nghiêm
rất quan trọng ở sự nhận thức:
Chơn Tâm Thường Trú, Thể Tánh Tịnh Minh
sẵn có trong tất cả mọi người.
Đọc, học kinh Thủ Lăng Nghiêm mà không lư
giải, không nhận thức được vấn đề
Chơn Tâm Thường Trú, Thể Tánh Tịnh Minh,
cũng tức là không biết được đại định Thủ Lăng Nghiêm là ǵ !
Tụng kinh giả minh Phật chi lư: Học kinh
cốt t́m hiểu trong đó Phật dạy những ǵ. Phật tử chúng ta hăy ư thức mà
lưu tâm.
*****Top
CHƯƠNG THỨ HAI
GẠN
HỎI CÁI TÂM
TÂM LÀ CĂN BẢN CỦA BỒ ĐỀ
NIẾT BÀN
VÀ CŨNG LÀ CĂN BẢN CỦA
LUÂN CHUYỂN SANH TỬ
Băng 3
Khi gạn hỏi cái tâm, lần đầu tiên ông
A-Nan thưa với Phật: Rằng tâm là sự hiểu biết của ông, là cái sanh ra sự
ưa thích và ham muốn ở trong ông. Như khi mắt ông nh́n thấy 32 tướng tốt
của Phật và từ đó ông phát tâm xuất gia theo Phật tu hành mong được xuất
ly sanh tử…
Nhằm để mở mang cho sự nghị luận, khai thị
thâm nghĩa Thủ Lăng Nghiêm, đức Phật bảo:
_ A Nan ! Ông nên biết, hết thảy chúng
sanh vô thỉ đến nay sống chết tương tục đều do không biết CHƠN TÂM THƯỜNG
TRÚ, THỂ TÁNH TỊNH MINH, hàng ngày chỉ dùng các vọng tưởng; mà vọng tưởng
th́ không chơn, v́ vậy nên mới có luân hồi.
_ A Nan ! Như lời ông nói: Do tâm và con
mắt mà có sự ưa muốn, nhưng nếu không biết tâm và con mắt ở đâu th́ không
thể hàng phục trần lao, ví như ông vua một nước bị giặc xâm lăng phát binh
đánh dẹp, th́ binh ấy cần phải biết giặc ở chỗ nào mới mong dẹp được. Hiện
nay ông c̣n mắc phải luân hồi là lỗi tại tâm và con mắt của ông. Vậy ông
hăy chín chắn t́m xem tâm và con mắt của ông hiện ở chỗ nào ?
TRỰC CHỈ
Trước khi chỉ dạy phương pháp tu CHỈ, QUÁN
và THIỀN NA, theo lời thưa thỉnh của ông A-Nan, đức Phật gạn hỏi về cái
tâm. Gạn hỏi ông A-Nan, được xem như gạn hỏi tất cả những ai có ḷng sùng
tín đức Phật, học tu theo nền giáo lư Phật. Bởi v́ mọi người sùng tín đạo
Phật đều tôn trọng cái tâm, mặc dù chưa được hiểu kỹ về nó. Người ta
ngưỡng vọng đặt trọn niềm tin ở tâm: Rằng "tội phúc do tâm; vui khổ do tâm"
Niết Bàn địa ngục do tâm… Đến như những người chưa biết đạo Phật là ǵ,
người ta vẫn quan niệm: Lương tâm, lương tri là căn bản đạo đức của con
người, nó không thể không có trong cuộc sống của xă hội loài người.
Đối với nền giáo lư Phật, tâm là vấn đề
then chốt.
Kinh tâm địa quán nói:
"Trong tam
giới, tâm là chủ
”Người hay quán tâm sẽ có giải thoát
”Người không quán tâm chắc chắn trầm luân
”Tâm chúng sanh cũng như đại địa.
”Ngũ cốc ngũ quả từ đại địa sanh
”Tứ Thánh lục phàm đều do tâm sanh
”Cho nên gọi tâm là "tâm địa"
Kinh Hoa Nghiêm nói:
"Nếu ai muốn rơ biết
“Ba đời mười phương Phật
“Nên quán tánh pháp giới
“Tất cả do tâm tạo
----------------------------
“Tâm như chàng họa sĩ
“Vẽ hết thảy ngũ ấm
“Tất cả pháp thế gian
“Không pháp nào không tạo
“Tâm và Phật cũng thế
“Phật, chúng sanh cũng vậy
“Tâm, Phật và chúng sanh
“Tên th́ ba mà thể th́ một."
Thực vậy, tâm là một vấn đề không đơn giản.
Không như cái hiểu thông thường của nhiều người quan niệm. Nếu không phải
đệ tử Phật dùi mài trong giáo lư, thiền quán để tư duy th́ người ta khó có
thể hiểu được thế nào là:
_ Chơn tâm
_ Vọng tâm
_ Tích tập tâm
_ Tập khởi tâm
_ Duyên lự tâm
_ Tích tụ tinh yếu tâm
_ Nhục đoàn tâm
_ Tâm Vương
_ Tâm Sở…
Cho nên muốn hiểu đượcv tâm, cần có quá
tŕnh học Phật và dụng công tu tập tư duy. Tâm là căn bản của Bồ Đề, Niết
Bàn nếu khéo vận dụng sống theo con đường chánh pháp; trái lại tâm là
nguồn gốc của luân hồi sanh tử; nếu "đánh mất" hoặc không phát hiện được
cái chơn tâm thường trú sẵn có của ḿnh.
Đạo Phật, cũng như nền giáo lư Phật, xem
trọng, rất trọng giá trị của tâm trong nghĩa tâm tánh của con người. Muốn
sử dụng tốt cái tâm đó cần phải dụng công tu tập giới, định, tuệ để thân
chứng. Nói đến sự tu tập phải đúng chánh pháp, không khéo ư những mong vẻ
cọp, nhưng kết quả lại là con chó vện khẳng khiu ! Bởi v́ người ta rất dễ
lầm tâm… Sự thấy nghe hiểu biết, sự ưa muốn, sự ghét thương… Những tác
dụng tâm lư đó, nó không rời tâm, nhưng nó không phải chơn tâm, nó là vọng
tưởng, là cái bóng dáng c̣n sót lại của tiền trần, của "ngũ câu ư thức" (là
pháp trần vậy).
Người khéo biết tu tập sẽ có được chân tâm
thường trú hiện ở cơi đời nầy. Phật chỉ là một người, nhưng có khác với
nhiều người ở chỗ: Phật sống bằng chơn tâm thường trú ấy. Thế cho nên biết
rằng: Chơn tâm thường trú không phải là cái ǵ xa rời thực tế. Nó là cái
dữ kiện căn bản đem lại sự giải thoát giác ngộ cho con người khi người đó
biết sử dụng đến, phát hiện ra
Chơn Tâm Thường Trú Của Ḿnh.
*****Top
ÔNG A-NAN CHO RẰNG
TÂM Ở TRONG THÂN
Ông A-Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Không riêng
ǵ tôi mà tất cả mọi người trên thế gian đều cho cái tâm hiểu biết ở trong
thân, c̣n con mắt th́ ở trên mặt.
Phật bảo: A-Nan ! Ông nói rằng tâm hiểu
biết ở trong thân là không có lư. A-Nan ! Nay tôi hỏi ông: Phỏng có chúng
sanh nào ngồi trong giảng đường nầy mà không thấy không biết Như Lai và
đại chúng mà lại thấy biết mọi vật bên ngoài giảng đường không ?
_ Bạch Thế Tôn ! Không thể có sự việc như
thế được. Nếu ngồi trong giảng đường, trước hết phải thấy biết trong giảng
đường, rồi sau nh́n ra cửa mới thấy biết cảnh vật bên ngoài.
_ Thật vậy, A-Nan ! Ở trong giảng đường,
trước hết phải thấy bên trong, nh́n ra cửa mới thấy biết hoa lá vườn rừng,
sự vật bên ngoài. Nhưng theo lời ông nói: Cái tâm hiểu biết ở trong thân
th́ lẽ ra khi người bị bệnh thổ huyết, cái tâm phải biết gốc bệnh xuất
huyết do tỳ, phế hay viêm loét dạ dày. Nầy, A-Nan ! Mọi người trên thế
gian không một ai biết được gốc bệnh của ḿnh như vậy.
A-Nan ! Người ngồi trong giảng đường mà
không thấy biết Như Lai và đại chúng, lại thấy biết mọi việc bên ngoài đă
là vô lư th́ cái tâm hiểu biết ở trong thân mà không hiểu biết thương tật
của tâm cang tỳ phế thận, lại biết rơ hết trần cảnh bên ngoài, hai sự kiện
này đều vô lư như nhau !
Thế cho nên ông nói Tâm Ở Trong Thân
là không đúng lư.
*****Top
Ông A-Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Vừa nghe
lời Phật dạy, tôi nghĩ ra rằng: Tâm tôi thiệt ở ngoài thân. Bởi v́ tất cả
mọi người không ai thấy biết bên trong thân, ví như ngọn đèn để ở ngoài
pḥng th́ chỉ sáng bên ngoài mà không thể sáng bên trong pḥng được. Bạch
Thế Tôn ! Nghĩa nầy thật quá rơ ràng chắc không c̣n lầm nữa !
Phật bảo: A-Nan ! Vừa rồi tôi và đại chúng
cùng đi khất thực trong thành Thất La Phiệt, nay đă về rừng Kỳ Đà. Vậy ông
hăy xem trong các hàng tỳ kheo, khi một người ăn, các người khác có no
không ?
_ Bạch Thế Tôn ! Không. Dù các tỳ kheo là
A La Hán, nhưng thân thể khác nhau, không thể người nầy ăn mà người khác
no được.
_ Cũng vậy, A-Nan ! Nếu cái tâm hiểu biết
của ông ở ngoài thân th́ thân và tâm riêng cách, tất không dính líu ǵ
nhau. Vậy cái ǵ tâm biết th́ thân không thể biết, cái ǵ thân biết th́
tâm không thể biết. Thế mà, này A-Nan ! Khi tôi đưa tay tôi lên cho ông
xem, mắt ông vừa thấy th́ tâm ông liền biết. Thân tâm biết cùng một lúc
với nhau, th́ sao lại bảo là tâm ở ngoài thân cho được.
Vậy nên biết rằng: Ông nói tâm hiểu biết ở
ngoài thân, hẳn là không phải vậy.
*****Top
ÔNG A-NAN CHO RẰNG
TÂM NÚP SAU CON MẮT
Ông A-Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Như lời
Phật dạy: V́ không biết trong, cho nên tâm không phải ở trong thân. V́
thân tâm cùng biết nên không phải tâm ở ngoài thân. Nay tôi suy nghĩ: Cái
tâm hiểu biết đă không biết bên trong mà lại nhận biết rơ sự vật bên ngoài,
vậy là nó núp sau con mắt, ví như người lấy chén thủy tinh úp vào hai con
mắt, con mắt dù có vật úp vào, nhưng không làm ngăn ngại sự thấy. Và v́
tâm núp sau con mắt nên khi mắt thấy th́ tâm liền phân biệt. Sở dĩ tâm
không biết tạng phủ trong thân, v́ nó không ở trong thân; nhưng tâm lại
nhận biết cảnh vật bên ngoài, v́ nó ở trên cái mặt.
Phật bảo: A-Nan ! Ông nên nhớ rằng: Con
mắt núp sau chén thủy tinh như lời ông nói, th́ khi trông thấy núi sông
cảnh vật, đồng thời cũng trông thấy chén thủy tinh. Nếu tâm núp sau con
mắt, th́ khi nhận thấy núi sông cảnh vật lúc đó cũng phải nhận thấy con
mắt. Nầy, A-Nan ! Thực tế không phải vậy, khi ông nhận biết núi sông cảnh
vật, tâm ông không nhận biết được con mắt của ông.
Do đó, biết rằng: Ông nói cái tâm núp sau
con mắt, như con mắt núp sau chén thủy tinh là không hợp lư.
*****Top
ÔNG
A-NAN CHO RẰNG NHẮM MẮT
THẤY TỐI LÀ TÂM THẤY TRONG THÂN
Ông A-Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Giờ đây tôi
suy nghĩ thế nầy: Thân thể con người trong có ngũ tạng lục phủ, ngoài có
thất khiếu cửu huyệt. Tạng phủ có tánh che ngăn nên tối, khiếu huyệt có
tánh rỗng không nên sáng. Nay tôi xin thưa với Phật rằng: Nhắm mắt thấy
tối, tôi gọi là tâm thấy biết bên trong thân; mở mắt thấy sáng, gọi là tâm
thấy biết bên ngoài.
Phật bảo: A-Nan ! Đă gọi là thấy th́ cái
bị thấy phải "đối" ở trước mắt. Không "đối" trước mắt th́ cái nghĩa thấy
không c̣n.
Nếu cái tối đă đối trước mắt mà cứ cho là
thấy biết trong thân, vậy khi ở trong một pḥng tối, không có ánh sáng,
bấy giờ cái ǵ có ở trong pḥng tối ấy đều là tạng phủ của ông cả hay sao
?
Vả lại khi nhắm mắt thấy tối, ông cho là
thấy bên trong thân, vậy khi mở mắt thấy sáng, sao ông không thấy cái mặt
?
Đă không thấy mặt th́ không thể nói con
mắt đối vào trong mà thấy. C̣n như thấy được mắt th́ cái tâm và con mắt ắt
đă lơ lững giữa hư không rồi, c̣n tương quan ǵ đến ông nữa ?
Vậy nên biết rằng: Nhắm mắt thấy tối là
thấy trong thân, chỉ là một ngụy thuyết không thành lập được.
*****Top
ÔNG
A-NAN CHO RẰNG SỰ SUY NGHĨ
HỢP VỚI CHỖ NÀO TH̀ TÂM LIỀN CÓ Ở CHỖ ĐÓ
Ông A-Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Tôi thường
nghe Phật dạy tứ chúng: Rằng tâm sanh nên các pháp sanh, các pháp sanh nên
tâm sanh. Nay tôi suy nghĩ th́ sự suy nghĩ đó là tâm của tôi. Nó hợp với
chỗ nào, tâm liền có ở chỗ đó, nó không ở trong, ở ngoài hay ở chặng giữa.
Phật bảo A-Nan ! Ông cho sự suy nghĩ là
tâm, sự suy nghĩ hợp chỗ nào, tâm liền ở chỗ đó. Nay tôi hỏi ông: Cái tâm
có suy nghĩ ḥa hợp sanh ra, vậy nó có tự thể hay không ? Nếu nó không tự
thể th́ không thể hợp được với cái ǵ. Cũng như giới thứ 19 và trần thứ 7
th́ làm ǵ có chuyện hợp nhau ? Bảo rằng nó có tự thể, vậy ông thử thí
nghiệm: Lấy tay găi vai, rồi để ư xem cái tâm "biết đă ngứa", nó từ trong
thân ông ra hay từ bên ngoài chạy vào ? Nếu từ trong thân ra th́ nó phải
biết ngũ tạng lục phủ trong thân ông, nếu từ ngoài vào th́ trước hết nó
phải thấy biết cái mặt.
Vả lại, tự thể ấy là một hay là nhiều ? Nó
khắp thân hay chẳng khắp thân ?
Nếu tự thể có một, khi lấy tay găi một chỗ,
lẽ ra khắp ḿnh đều đă ngứa. Nếu biết đă ngứa khắp ḿnh th́ lại không c̣n
biết găi chỗ nào! C̣n như nhiều tự thể th́ hóa ra của nhiều người, c̣n
biết tự thể nào là thể của ông ?
Bảo rằng tự thể khắp ḿnh th́ không c̣n
biết được chỗ găi…
Bảo rằng không khắp ḿnh, tại sao khi đầu
chạm xà nhà, dưới chân đạp đinh lại cùng một lúc biết đau ?
Do vậy, bảo rằng: Sự suy nghĩ hợp chỗ nào,
tâm ở chỗ đó là không có lư.
*****Top
Ông A-Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Tôi nhớ lại
có lần nghe Phật dạy Bồ Tát Văn Thù về nghĩa thật tướng: Rằng tâm không ở
trong cũng không ở ngoài. Nay tôi suy nghĩ: Nếu tâm ở trong thân sao lại
không biết bên trong, tâm nếu ở ngoài thân sao thân tâm đồng biết. Tâm
không biết bên trong nên không thể nói ở trong thân. Thân và tâm đồng biết
nên không thể nói tâm ở ngoài thân. Do lẽ đó, tôi phát minh rằng: Tâm ở
chặng giữa.
Phật bảo: A-Nan ! Ông nói chặng giữa, thật
khó mà nêu một chặng giữa nhất định. Giữa thân hay giữa cảnh ? Nếu giữa
thân th́ đồng như tâm ở trong thân. Bảo rằng: giữa cảnh th́ làm sao nêu
cái giữa ra được ? Ví như có người lấy một cành cây cắm nêu làm một chỗ
giữa, nhưng giữa thế nào được ? Nếu người đứng ở phương Đông th́ thấy cây
nêu ở phía Tây; đứng ở phương Nam lại thấy cây nêu thuộc về hướng Bắc. Cái
giữa đă lẫn lộn như thế, th́ cái tâm ở chặng giữa rắc rối bời rời th́ làm
thế nào nhận biết được sự vật cho chính xác ?
Ông A-Nan thưa: Tôi nói chặng giữa là giữa
nhăn căn và sắc trần, nhăn thức sanh ra ở chặng giữa ấy.
Phật bảo: Nếu tâm ông ở giữa nhăn căn và
sắc trần, vậy cái tâm giữa ấy có gồm cả hai hay không gồm cả hai ? Nếu gồm
cả hai th́ vật và tâm xen lộn lẫn nhau, c̣n biết cái ǵ là tâm cái ǵ là
vật ? Và đă lộn lạo với nhau th́ không có cái giữa. C̣n như không gồm cả
hai bên th́ là một. Đă là một bên th́ cái chặng giữa ông định đặt nó vào
đâu ?
V́ vậy, biết rằng: Ông nói tâm ở chặng
giữa là một điều không hợp lư.
*****Top
ÔNG A-NAN CHO RẰNG TÂM LÀ
CÁI KHÔNG DÍNH DÁNG VÀO ĐÂU CẢ
Ông A-Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Tôi nhớ
trước đây có lần Phật chuyển pháp luân cùng bốn đại đệ tử: Mục Kiền Liên,
Tu Bồ Đề, Phú Lâu Na và Xá Lợi Phất, khi đó Phật dạy: Cái tâm tánh hiểu
biết nó không ở trong, không ở ngoài, không có chặng giữa và không chỗ trụ,
tất cả không dính dáng.
Bạch Thế Tôn ! Nay tôi lấy cái không dính
dáng ấy gọi là tâm có được không ?
Phật bảo: A-Nan ! Ông nói cái tâm hiểu
biết của ông không dính dáng, vậy tôi hỏi ông: Biển cả, đất liền, núi rừng,
hoa, cỏ… nói chung mọi sự vật hiện tượng trên thế gian mà ông cho là không
dính dáng, chúng có hay là không có ? Nếu chúng là không, th́ ông khỏi đề
cập: Rằng dính dáng hay không dính dáng. Bởi v́ có ai dính với chuyện lông
rùa sừng thỏ bao giờ ! Nếu đă có cái "không dính dáng" th́ không thể nói
sự vật hiện tượng là không. Đă không phải không th́ có tướng. Đă có tướng
th́ có dính dáng, làm sao không dính dáng được ?
Vậy nên biết rằng: Ông nói cái không dính
dáng là tâm, lại càng không hợp lư.
TRỰC CHỈ
Cho rằng tâm ở trong thân, đó là sự hiểu
biết thông thường mọi người cùng hiểu giản đơn như vậy. Cho rằng tâm ở
ngoài thân là một ư nghĩ táo bạo lạ thường chẳng mấy ai đồng t́nh, c̣n có
thể bị cho là ngờ nghệch ! Cho rằng tâm núp sau con mắt, như con mắt núp
sau chén thủy tinh… Rằng tâm bị tạng phủ che th́ tối, khiếu huyệt mở th́
sáng… thực chất là chủ trương tâm ở trong thân bằng h́nh thức lư luận khác.
Bảo rằng cái suy nghĩ là tâm, thực chất là trở lại chấp: Tâm ở ngoài thân
vậy. Rằng tâm ở chặng giữa điều này nói lên sự bí lối, chạy càng !… Bảo
rằng: Tâm là cái không dính dáng, càng chứng tỏ lư cùng trí kiệt, chỉ hy
vọng chút ánh sáng mơ màng ở cuối đường hầm lư giải.
Ông A Nan được Phật khen là đa văn đệ nhất,
vậy mà qua bảy chỗ gạn hỏi cái tâm, lư đă cùng, trí đă kiệt, vẫn chưa xác
định được tâm là cái ǵ và hiện ở đâu. Là đệ tử Phật, ai nghe mà chẳng băn
khoăn soát lại tâm ḿnh, ai mà chẳng quạt tim mọc óc.
Thật vậy, thuyền đi th́ thấy bờ chạy, mây
bay người ta thấy trăng xê dịch, mắt giật nh́n mặt nước thấy rung rinh.
Thuyền chưa đậu, mây chưa tan, mắt chưa hết giật mà muốn cho bờ đừng chạy,
trăng đừng xê dịch, mặt nước đừng rung rinh, hăy c̣n không thể được, huống
hồ đem cái ư thức sanh diệt vọng tưởng, bóng dáng tiền trần mà suy lường
thường trú chơn tâm, th́ làm sao hội nhập được ư ?
Ông A Nan luận tâm sai lầm là phải, v́ ông
chưa tu học Xa ma tha… cho nên nông nổi, vướng vào tà thuật của Ma Đăng
Già. C̣n Phật tử chúng ta, không chuyên cần học hỏi giáo lư, chẳng dụng ư
tinh tấn tư duy mà thích luận đàm, nầy tâm, kia vật, đây vọng, đó chơn của
vấn đề vật tâm, th́ phỏng có nói… bậy đi nữa, tưởng cũng nên tha thứ,
không có ǵ đáng trách !
Cái kho tàng bí mật ! Thường trú chơn tâm,
đức Phật chưa vội mở cửa ở đây, cho nên ông A Nan chưa sao hiểu được, mà
phải nhiều lần tha thiết cầu xin
Phật chỉ dạy sau nầy. Bởi lẽ, một kiến
thức về kỹ thuật khoa học, trong môi trường sinh hoạt vật chất thế gian,
muốn hiểu nó phải có quá tŕnh học hỏi, tư duy chuyên môn nghiên cứu. Ở
đây ngoài điều kiện văn tư ra, c̣n đ̣i hỏi nhiều ở vấn đề thể nghiệm, tu
tập, thực hành, trong lănh vực tu chứng của đạo Phật nữa.
Cái tâm mà ông A Nan
thưa tŕnh lên Phật qua bảy chỗ; đó mới chỉ thuộc phạm vi ư thức mà thôi.
Đối với bát thức tâm vương, với thường trú chơn tâm, c̣n phải tiến lên
những bước khá dài mới có cơ may gặp gỡ !
*****Top
Băng # 4
và Băng 5
LUÂN
HỒI SANH TỬ KHÔNG PHẢI LÀ
HIỆN TƯỢNG HỌA GỞI TAI BAY.
BỒ ĐỀ NIẾT BÀN KHÔNG PHẢI CẢNH GIỚI
SIÊU
NHIÊN DO ĐẤNG SIÊU NHÂN NÀO BAN TẶNG
Phật bảo: A Nan
! Rằng tất cả chúng sanh vô thỉ đến nay, điên đảo nhiều cách, giống nghiệp
tự nhiên gắn bó với nhau như chùm nho chen chúc trái. Những người tu hành
không thành vô thượng Bồ Đề mà lại thành ngoại đạo, chư thiên, ma vương
hoặc Thanh Văn, Duyên Giác đều do không biết hai thứ căn bản cho nên tu
tập sai lầm, chẳng khác nào nấu cát mong được thành cơm, dù trải qua nhiều
kiếp như vi trần, rốt cuộc vẫn không kết quả.
Những ǵ là hai thứ căn bản ?
Một, là căn bản sanh tử vô thỉ. Như ông
hiện nay và tất cả chúng sanh cũng thế, hằng ngày sử dụng cái tâm phan
duyên mà lầm cho là tự tánh của chính ḿnh.
Hai, là căn bản Bồ Đề, Niết Bản vô thỉ.
Như ông hiện nay, cái tánh thanh tịnh bản minh vốn có, nó nhậm vận tùy
duyên, nhưng ông và tất cả chúng sanh lại bỏ sót mất đi, cho nên tuy cả
ngày sống ở trong tánh thanh tịnh bản minh mà không hay không biết. Đành
oan uổng lặn lội trong lục đạo chuyển luân !
*****Top
Phật bảo: A Nan
! Ông muốn biết đường tu Xa ma tha để ra khỏi sống chết, ông hăy trả lời
tôi.
Phật liền đưa cánh tay co năm ngón bảo A
Nan rằng: Ông có thấy ǵ không ?
Ông A Nan thưa: Tôi thấy Như Lai đưa cánh
tay và co ngón tay lại thành cái nắm tay, nó phản ánh tác động vào tâm và
con mắt của tôi. Tôi và đại chúng đều do con mắt mà thấy.
Phật bảo: A Nan
! Ông trả lời với tôi: Rằng: Như Lai co ngón tay làm thành nắm tay, phản
ánh tác động vào tâm và con mắt của ông. Con mắt của ông th́ thấy việc đó
tất nhiên. C̣n ông lấy cái ǵ làm tâm để nhận biết cái nắm tay tôi ?
_ Bạch Thế Tôn: Như Lai gạn hỏi tâm tôi,
tôi dùng tâm suy nghĩ để trả lời Phật, th́ rơ là cái suy nghĩ ấy là tâm
tôi vậy.
*****Top
TÂM TH̀ PHẢI CÓ THỂ TÁNH,
KHÔNG THỂ TÁNH KHÔNG PHẢI LÀ TÂM
Phật bảo: Sai rồi ! A Nan ! Cái suy nghĩ
ấy không phải là tâm của ông.
Trong dáng vẻ kinh ngạc, ông A Nan đứng
dậy chắp tay thưa:
_ Bạch Thế Tôn ! Cái suy nghĩ ấy không
phải tâm tôi th́ gọi nó là cái ǵ ?
Phật bảo: Đó là cái tưởng tượng tướng hư
vọng của tiền trần. Chính cái đó làm mê lầm chân tánh của ông. Từ vô thỉ
đến nay, ông nhận tên giặc ấy làm con, bỏ mất tâm tánh bản lai thường trú,
nên phải chịu luân hồi.
Ông A Nan thưa: Tôi là em của Phật, v́ tâm
yêu thương Phật nên mới xuất gia. Tôi cúng dường chư Phật mười phương,
phụng sự thiện tri thức, phát tâm đại dũng mănh, làm tất cả pháp sự khó
làm, đều dùng cái tâm ấy. Giả sử có hủy báng Phật pháp, đoạn diệt thiện
căn, bất tín tam bảo cũng đều dùng đến cái tâm ấy. Nay Phật phát minh cái
suy nghĩ đó không phải là tâm, th́ tôi thành ra không có tâm, như gỗ, như
đất. Bởi v́, ngoài cái suy nghĩ nhận biết ấy ra, tôi không c̣n có ǵ nữa !
Sao Như Lai lại bảo cái đó không phải là tâm ? Tôi kinh sợ quá ! Và cả đại
chúng nầy không ai là không hoang mang giao động ! Xin Phật rủ ḷng từ chỉ
dạy cho chúng tôi những điều chưa liễu ngộ ?
Bấy giờ Thế Tôn rời sư tử ṭa, xoa đầu ông
A Nan và bảo:
_ Nầy A Nan ! Như Lai thường nói: Các pháp
sanh ra duy tâm biến hiện. Tâm là cái thể của tất cả thế giới vi trần, của
mọi nguyên nhân và kết quả…
A Nan ! Tất cả hiện tượng có trong thế
giới, lớn như biển cả, núi cao, nhỏ như lá cây ngọn cỏ… gạn xét căn nguyên
đều có thể tánh. Cả đến hư không cũng c̣n có tên và dáng mạo; huống chi
cái tâm sáng suốt nhiệm mầu thanh tịnh, thể tánh của sự vật mà tự ḿnh
không có thể tánh sao ?
Nếu ông quả quyết cho cái tính hay biết,
cái suy nghĩ phân biệt là tâm của ông th́ cái tâm ấy rời sắc, thanh, hương,
vị, xúc ra, nó phải c̣n tính độc lập riêng của nó tồn tại. Hiện giờ ông
đang nghe tôi nói pháp, đó là nhân tiếng mà có phân biệt. Nếu không tiếng
th́ sự phân biệt của ông không c̣n. Giả sử diệt hết cái thấy, nghe, ngửi,
nếm, xúc, biết, chỉ nắm giữ cái u nhàn lặng lẽ bên trong, th́ đó cũng là
sự phân biệt bóng dáng pháp trần mà thôi.
A Nan ! Chẳng phải tôi bảo ông phủ nhận
cái tính tư duy phân biệt ấy không phải là tâm, nhưng ông phải chín chắn
suy nghĩ: Rời tiền trần mà vẫn có cái biết, th́ đó mới thật là tâm của ông.
C̣n nếu tính biết rời tiền trần không c̣n tự thể, th́ nó chỉ là sự phân
biệt bóng dáng tiền trần. Tiền trần không phải thường c̣n, khi thay đổi
diệt mất đi rồi, th́ cái tâm nương tiền trần ấy cũng đồng như lông rùa
sừng thỏ. Thế th́ pháp thân của ông cũng thành đoạn diệt, c̣n ǵ mà tu
chứng vô sanh pháp nhẫn !
TRỰC CHỈ
Chúng sanh mà gọi là chúng sanh, sự thật
họ không phải là chúng sanh, Như Lai gọi chúng sanh vậy thôi. Khi mê th́
gọi chúng sanh, hết mê th́ mọi người đều là Phật. Mê th́ vô minhh hiển,
Phật chất ẩn. Giác th́ Phật chất hiển vô minh ẩn và tự hóa giải diệt vong.
Căn bản Bồ Đề, Niết Bàn từ vô thỉ chúng
sanh nào cũng sẵn có. Thế mà chúng sanh măi luân hồi trong sanh tử khổ đau.
Sự thật, luân hồi sanh tử không phải là hiện tượng họa gởi tai bay mà là
do sự vô minh bất giác của con người chiêu cảm lấy, thông qua những bất
thiện nghiệp của thân khẩu ư của con người. Bồ Đề, Niết Bàn không phải
cảnh giới siêu nhiên do đấng siêu nhân nào ban tặng, mà nó sẽ hiện hữu khi
con người phải giũ sạch hành động bất giác vô minh sai trái ấy. Con người
hoàn toàn có khả năng cải tạo những tư tưởng hành động của ḿnh. Muốn được
vậy phải tu học Thủ Lăng Nghiêm tam muội để tạo điều kiện cho chơn tâm
thường trú sẵn có hiện ra.
Căn bản Bồ Đề, Niết Bàn cũng như căn bản
luân hồi sanh tử, vốn không phải là cảnh giới khổ vui cố định do ai đó tạo
ra, để khi sử dụng uy quyền, tùy hứng thưởng cho chúng sanh nào trông thấy
dễ thương và phạt những chúng sanh nào nh́n qua mà ḷng ḿnh không hạp
nhăn.
Nền giáo lư trác tuyệt thượng thừa đă phát
hiện:
… "Thật tánh vô minh là Phật tánh
Ảo hóa thân nầy tức pháp thân
Pháp thân nhận rơ không vương chấp
Phật tánh chơn thường lộ bản nguyên
Ngũ uẩn mây thưa chi để dạ
Bọt bèo tam độc bận ḷng chi…"
(Vô minh thật tánh tức Phật tánh
Ảo hóa không thân tức pháp thân
Pháp thân giác liễu vô nhất vật
Bản nguyên tự tánh thiên chơn Phật
Ngũ uẩn phù hư không khứ lai
Tam độc Thủy bào hư xuất một.
HUYỀN GIÁC
THIỀN SƯ.
Thông thường người ta quan niệm: Mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân, năm cơ quan vật chất ấy hợp lại thành một con người. Con
người vật chất ấy được gọi là thân. C̣n cái tác dụng tư duy phân biệt,
không rờ mó nắm bắt được, người ta gọi nó là tâm, cũng có trường hợp gọi
là ư thức. Ông A Nan đại diện cho Phật tử chúng ta, đóng vai tṛ một người
có quan niệm nhận thức thông thường đó, để cùng Phật luận bàn t́m hiểu cái
tâm. Nhưng sự tranh luận giữa Phật và ông A Nan ở đây, không phải nhằm để
xác định các dạng nhận thức tư duy ấy là tâm hay là ư thức. Bởi v́ tâm hay
ư thức, với giáo lư đạo Phật, không có ǵ cần phải tranh luận. Mỗi khi
thuyết pháp Phật đề cập vấn đề tâm, ư, bàng bạc ở các kinh là một việc
thông thường. Đức Phật há chẳng răn dạy đệ tử ḿnh hăy đề cao cảnh giác,
Tâm viên ư mă, đó sao ?
Vấn đề Phật muốn dạy ông A Nan
và Phật tử chúng ta là: Hăy phát hiện chơn tâm thường trú sẵn có của ḿnh.
Nó là căn bản Bồ Đề Niết Bàn đó. Không phát hiện được chơn tâm thường trú,
dù có lư luận: Rằng nó là cái nầy, nó là cái kia, nó ở trong thân, nó ở
ngoài thân hoặc ở chặng giữa… đều không đem lại lợi ích ǵ. Giả sử có nói
đúng thực đi nữa, cái đó cũng vẫn là căn nguyên của tai họa, là động cơ
của mọi phiền năo: Tham, sân, si, mạn… cái hiện tượng tư duy mà ta gọi là
tâm hay ư ấy vốn là vọng tưởng. Mà vọng tưởng th́ không chơn. Nó là vang
bóng của tiền trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Rời tiền trần, cái
gọi là tâm hay ư thức ấy sẽ tan biến mất theo. Cho nên trọng tâm tranh
luận giữa Phật và ông A Nan không phải ở chỗ t́m kiếm cái tâm qua h́nh
dáng: lớn, nhỏ, rộng, hẹp, dài, ngắn, vuông, tṛn… cũng không phải cần
thấy cái tâm qua màu sắc: xanh, vàng, đỏ, trắng, hồng, lục hay sô-cô-la…
mà tranh luận để phát hiện cái trong sáng, cái thanh tịnh, cái giải thoát
an lành, cái giác ngộ bất động, cái tự tại như như vốn có ở trong mọi con
người. Những cái đó, dù con người đang bị phiền năo vô minh che phủ, mà
bản chất tiềm tàng cố hữu của nó ở trong tâm thể mọi người th́ vô thỉ vô
chung không lúc nào gián đoạn.
Do vậy, Phật nói rơ với ông A Nan rằng:
Không phải tôi bảo ông phủ nhận cái tánh thấy nghe nhận thức không phải là
tâm; nhưng ông hăy chín chắn nghĩ suy, làm thế nào rời cái vọng tưởng đến
đi, ông phải c̣n một cái: cái không vọng tưởng đến đi. Cái đó nó ở luôn
với ông, nó ở trong ông, nó thật là của ông đấy. C̣n muốn gọi nó là tâm
hay là ư thức, không quan trọng, việc đó tùy người và hồi sau sẽ c̣n phân
giải…
*****Top
Băng
6 -Thày giảng về "Kiến
tánh" và bài kệ "...Pháp pháp bổn vô pháp"
Băng 7
Ông A Nan và đại chúng chưa nhận rơ thế
nào là chơn tâm thường trú, ḷng c̣n bối rối ngẩn ngơ.
Phật bảo: A Nan
! Trong thế gian những người tu học tuy đă được chín thứ thiền định, nhưng
không diệt hết được mê lầm chỉ thành A La Hán đều do lầm chấp cái vọng
tưởng tử sanh là chơn thật. Thế nên, ông nay tuy học rộng nghe nhiều mà
không thành chánh quả.
Ông A Nan khóc lóc bạch Phật: Từ khi tôi
phát tâm theo Phật xuất gia, thường ỷ lại ḷng thương của Phật, tự nghĩ
rằng rồi đây Như Lai sẽ ban cho tam muội, chia sớt đạo quả cho. Giờ đây
mới biết: Thân tâm không ai có thể thay thế cho ai. Từ lâu tôi đă bỏ mất
bản tâm của tôi rồi. Thân tuy xuất gia mà tâm chưa vào đạo. Như đứa con
hoang cùng khổ, bỏ cha bỏ nhà ra đi. Ngày nay mới biết, tuy được nghe Phật
pháp nhiều mà không tu hành, th́ chẳng khác ǵ người không nghe, như nói
ăn mà không ăn rốt cuộc không thể nào no được.
Kính Bạch Thế Tôn ! Chúng tôi hiện nay c̣n
bị hai chướng buộc ràng, do v́ không biết tâm tánh vắng lặng thường nhiên,
xin Như Lai thương xót kẻ nghèo cùng rách rưới, phát minh cho cái tâm
nhiệm mầu, sáng suốt và khai mở con mắt đạo cho chúng tôi !
Bấy giờ đức Như Lai từ tướng cát tường hải
vân trước ngực phóng ra ánh sáng rực rỡ soi khắp thế giới chư Phật mười
phương và chiếu khắp đảnh các Như Lai trong hằng sa cơi nước, rồi xoay về
chiếu đến đảnh ông A Nan và đại chúng.
Phật bảo: A Nan
! Trước ông trả lời: rằng ông thấy cái nắm tay của tôi, vậy cái nắm tay do
đâu mà có? Và ông lấy cái ǵ để thấy ?
Bạch Thế Tôn ! Cái nắm tay có là do bàn
tay Phật co các ngón tay lại. Tôi thấy cái nắm tay của Phật là do con mắt
của tôi.
Phật bảo: Nếu không có bàn tay th́ không
có nắm tay. Nếu không có con mắt (mắt bị đui) th́ không có cái thấy. Hai
sự việc đó có giống nhau chăng ?
Bạch Thế Tôn ! Đúng vậy. Nếu không có bàn
tay th́ không có nắm tay; nếu không có con mắt th́ không có cái thấy.
Phật bảo A Nan ! Ông nói như vậy là không
đúng. Không có bàn tay th́ tuyệt nhiên không có nắm tay, chứ không có con
mắt (đui) không phải hoàn toàn không thấy. Ông thử hỏi những người đui xem
họ có thấy ǵ không ? Chắc hẳn họ sẽ trả lời với ông: Rằng họ thấy tối đen
trước mắt. Lấy nghĩa đó mà suy nghĩ tiền trần tự tối, chứ cái tánh thấy
nào có hao kém ǵ ?
Bạch Thế Tôn ! Những người đui trước mắt
chỉ thấy tối đen, sao gọi rằng thấy ?
Phật bảo: Dù thấy tối đen cũng vẫn là thấy
c̣n thấy sáng hay thấy tối là do tiền trần sáng tối, tánh thấy vẫn y nhiên.
Nếu v́ tối mà cho là không thấy, vậy khi người ta ngồi trong nhà tối không
thấy ǵ hết, chỉ thấy trước mắt tối đen, bỗng nhiên được đèn sáng thấy rơ
các vật, chẳng lẽ ông bảo đó là cái đèn thấy hay sao ? Vậy nên suy biết:
đèn làm tỏ rơ các vật, nhưng thấy như vậy là mắt chứ không phải đèn. Mắt
làm tỏ các sắc, nhưng thấy là tâm, chứ không phải là mắt.
TRỰC CHỈ
Băng 8
Ai ăn nấy no, ai ngủ nấy khỏe, th́ sự tu
hành, ai tu nấy chứng, không ai tu thế giúp đỡ cho ai được. Có giúp đỡ
chăng chỉ làm tăng thượng duyên, mà nhân duyên phải là tự lực của chính
ḿnh. Đó là sự thật hiển nhiên, người trí không ai có thể phủ nhận. V́ đó
là chân lư. Chân lư đó, nói lên cái chân lư
Nhân quả
của thế gian và xuất thế gian. Nó bao trùm xuyên suốt hết nền giáo lư Phật.
Ông A Nan nói lên lần nầy là lần thứ hai, sau khi ông thoát nạn trở về:
Rằng sự tu hành không thể ỷ lại tha nhân, dù tha nhân đó là Như Lai Thế
Tôn Vô thượng. Càng không thể có sự ân sủng, ban cho hay tặng thưởng trong
tiến tŕnh tiến lên đạo quả giải thoát giác ngộ. Nếu ai đó làm cái việc
tặng thưởng, ban cho là tự trái với chân lư, mâu thuẫn với quy luật nhân
quả khách quan của vũ trụ vạn hữu, người trí không tin có việc đó xảy ra.
Học Phật cốt ở thực hành. Học không hành
chẳng khác nào nói ăn mà không ăn, th́ không thể no được.
Ánh sáng là biểu trưng cho trí tuệ. Ánh
sáng soi khắp hằng sa cơi nước Phật và chiếu khắp đảnh chư Như Lai trong
cơi nước mười phương; sau đó, xoay về chiếu lên đảnh ông A Nan
và đại chúng. Sự kiện nầy, nói lên ư nghĩa: Dùng trí huệ giác mà nh́n vũ
trụ vạn hữu, th́ vũ trụ vạn hữu trở thành thế giới đại đồng, thành nhất
chân pháp giới. Trí tuệ giác xóa bỏ hết ranh giới, cơi nước đất đai ngăn
cách bởi ư thức hệ vô minh: Tham, sân, si, mạn… Phật và hằng hà sa chư
Phật trong mười phương, cùng chung thọ dụng một ánh sáng báu rực rỡ, lung
linh màu sắc, trong đó có ông A Nan và đại chúng cũng có phần thụ hưởng
của phần ḿnh, trong bầu thế giới đại đồng, nhất chân huy hoàng ấy. Qua
bài học thậm thâm đó, Phật tử chúng ta hăy tự cảnh tỉnh ḷng ḿnh:
Thân tại hải
trung hưu mích thủy
Nhật hành lảnh thượng mạc tầm sơn…
Ánh sáng mặt trời lúc nào cũng có, chỉ v́
mù trong bụng mẹ nên không thưởng thức được cảnh trúc biếc, mai vàng,
thông xanh, mây bạc, thường xuyên phô diễn dưới ánh sáng của gầm trời.
Vấn đề nắm tay và cái thấy; cái thấy là
mắt hay là tâm, làm cho người đọc kinh Thủ Lăng Nghiêm, không thể không
phân vân, kiểm tra lập trường nhận thức của ḿnh. Ông A Nan mệnh danh là
con người đa văn đệ nhất, thế mà c̣n lúng túng chưa ngă ngũ được bằng nhận
thức của ḿnh huống hồ Phật tử chúng ta chẳng mấy tí đa văn, giải quyết sự
kiện ấy c̣n khó khăn vạn bội. Phật tử đừng xem thường vấn đề thấy, nghe,
ngửi, nếm… và vấn đề tâm vật trong đời sống hằng ngày.
Bảo rằng con mắt thấy th́ sai lầm, v́
thiển cận. Bảo rằng không phải con mắt thấy, càng ngớ ngẩn ngô nghê. Bảo
rằng tâm thấy, th́ đó là phương tiện của Như Lai chứ chưa hẳn vậy. Bởi v́:
"Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khẳ đắc, vị lai tâm bất khả đắc".
Vậy th́ tâm thấy là cái tâm nào ?
Nói rằng tâm thấy, là ư Phật muốn dạy cho
ông A Nan biết về "ngũ câu ư thức" về hiện lượng, tỷ lượng và phi lượng
của bát thức tâm vương, nói theo thuật ngữ của duy thức học. Tiền ngũ thức,
nhăn thức là một, tiếp xúc với ngũ trần, chỉ thông qua hiện lượng. Hiện
lượng là sự lượng biết c̣n trong đệ nhất sát na nghĩa là chưa qua tư duy
phân biệt. Sự tiếp thu tiền cảnh của tiền ngũ thức, giống như sự tiếp thu
h́nh ảnh và âm thanh của chiếc máy quay phim màu. H́nh ảnh, màu sắc và âm
thanh có đủ, nhưng cuốn phim, chiếc máy, th́ b́nh đẳng tiếp thu không mảy
may phân biệt. Vậy mà ông A Nan cho
rằng mắt thấy th́ làm sao không bị Phật quở rầy ! Mắt, chỉ tiếp thu làm tỏ
rơ các vật sắc, mà thấy biết là phải có ư thức tâm vương cộng vào.
Nghĩa là: Nhăn thức cộng với ư thức tâm
vương thành nhăn câu ư thức. Đủ ngần ấy điều kiện mới thành cái thấy biết
của mắt. V́ vậy Như lai nói: Mắt không phải thấy mà thấy là do tâm. Tâm ở
đây, chỉ cho tâm vương ư thức vậy.
Do đó, ta thấy rơ: Cái thấy của mắt, chỉ
là hiện lượng thôi, cho nên chưa đầy đủ yếu tố để gọi là mắt thấy.
V́ vậy:
Nói mắt thấy đă sai
Nói không phải mắt thấy càng sai
Nói tâm thấy, chỉ là Như Lai phương tiện !
Mà phải nói: cái thấy của mắt chỉ là hiện lượng !
*****Top
GẠN
HỎI NGHĨA KHÁCH TRẦN NHẰM CHỈ RƠ HIỆN
TƯỢNG VỌNG TƯỞNG DIỆT SANH.
VÍ DỤ CHỦ VÀ HƯ KHÔNG ĐỂ KHAI THỊ
BẢN THỂ CHƠN TÂM THƯỜNG TRÚ
Bấy giờ đức Thế Tôn giơ cánh tay mềm mại
lên, bảo ông A Nan và đại chúng: Sau khi thành đạo, lần đầu tiên ở Lộc Giả
Uyển, tôi có dạy cho nhóm ông A Nhă Kiều Trần Như rằng tất cả chúng sanh
không thành Vô thượng Bồ Đề mà chỉ thành A La Hán, do v́ phiền năo khách
trần làm mê hoặc. Thuở đó, bọn ông do đâu mà tỏ ngộ, hiện nay được thành
chánh quả ?
Ông Kiều Trần Như đứng dậy thưa: Bạch Thế
Tôn ! Nay tôi đă già ở trong đại chúng, tôi được cái tên Giải, là do thuở
đó tôi tỏ ngộ được ư nghĩa hai chữ khách trần. Khách là người đi đường,
khi cần, họ vào quán trọ thuê pḥng hoặc ở, hoặc ngủ, hoặc ăn. Ăn ngủ
xong xếp hành lư lên đường, không ở luôn được, c̣n người chủ th́ ở vĩnh
viễn không phải đi đâu nữa. Từ suy nghĩ đó, tôi hiểu ra rằng: Khách có đến,
đi; c̣n chủ th́ ở luôn không đi đâu hết.
Về nghĩa chữ trần, th́ vào lúc mặt trời
mới lên, ánh sáng xuyên vào các kẽ hở, lỗ thủng của mái nhà, nh́n theo làn
ánh sáng trong khoảng hư không yên lặng ấy, tôi thấy vô số bụi trần li ti
loạn động, cuồn cuộn tuôn bay. Do đó tôi nhận ra được nghĩa chữ trần: Trần
th́ lay động, c̣n hư không th́ yên lặng tuyệt nhiên !
Phật bảo: Đúng vậy.
Đoạn, Phật đưa tay lên, co năm ngón tay
lại rồi mở ra và hỏi:
_ A Nan ! Ông thấy ǵ ?
_ Tôi thấy bàn tay Phật, nắm lại rồi mở ra.
A Nan đáp.
_ Ông thấy tay tôi có nắm có mở hay cái
thấy của ông có nắm có mở ?
_ Thưa ! Tay Phật có nắm có mở, chứ cái
thấy của tôi làm sao có nắm mở được !
_ Cái ǵ động ? Cái ǵ tĩnh ? Phật hỏi.
_ Thưa ! Bàn tay của Phật không yên, chứ
cái thấy của tôi c̣n không có tĩnh th́ làm chi có động !
Phật bảo: Đúng vậy.
Bấy giờ Phật dùng tay phát ra một luồng
ánh sáng, chiếu qua phía bên phải của ông A Nan. Ông A Nan quay nh́n qua
bên phải. Phật lại phát qua phía trái, ông A Nan quay đầu nh́n qua phía
trái.
Phật bảo: A Nan ! Hôm nay v́ sao đầu ông
động lay qua lại như thế?
_ Bạch Thế Tôn ! Tôi v́ thấy hào quang của
Phật phóng ra bên phải và bên trái của tôi. Đầu tôi lay động bởi ngó theo
hào quang của Phật.
_ Đầu ông lay động quay bên phải bên trái.
Vậy cái đầu ông động mà cái thấy của ông có động chăng ?
_ Bạch Thế Tôn ! Đầu tôi tự lay động, chứ
cái thấy c̣n không biết nó ở chỗ nào, th́ lấy ǵ mà lay động !
Phật bảo: Đúng vậy.
Bấy giờ, Phật bảo ông A Nan và đại chúng:
Rằng mọi người ai cũng có thể nhận biết: Không ở luôn là khách, chủ th́
vĩnh viễn không đi đâu. Bụi trần th́ lay động c̣n hư không yên lặng tuyệt
nhiên. Có nắm có mở là tay, cái thấy th́ không có nắm mở. Quay qua quay
lại là đầu, tánh thấy th́ không hề xoay chuyển.
Vậy mà, các ông hiện nay lấy cái động làm
thân, cái động làm tâm, lấy cái động làm cảnh, bỏ mất đi tâm tánh chơn
thường, bất động, yên lặng nó thường ở luôn với ḿnh. Hằng ngày làm những
việc trái ngược, nhận vật làm thân, nhận vọng tưởng làm tâm, xoay vần
trong đó, tự nhận lấy sự trôi lăn trong sáu nẻo !
TRỰC CHỈ
Đọc đến đoạn kinh nầy, người đệ tử Phật có
tư duy tu tập, thiền định ít nhiều, có thể bừng tỉnh ngộ: Rằng thường trú
chơn tâm không phải ở đâu xa xôi cách trở, cần phải t́m kiếm hay cầu khẩn
van xin mới có. T́m thường trú chơn tâm cũng không cần ở ngay chánh điện
của ngôi chùa đồ sộ nguy nga có tượng Phật to, có đại hồng chung lớn. T́m
chơn tâm thường trú cũng không cần đóng cửa trong một vuông pḥng kín và
ngồi thờ thẩn với đôi mắt lim dim. Thường trú chơn tâm muốn t́m nó chỉ cần
có chất liệu thiền tư. Thiền tư hay thiền định với nghĩa tư duy quán chiếu.
Người đệ tử nào muốn đi trên đường Bồ Đề, Niết Bàn chỉ cần tu tập tư duy
quán chiếu thân tâm, cảnh giới quanh cuộc sống hằng ngày của bản thân ḿnh.
Đức Phật đă dạy quá rơ ràng. Rằng cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm,
cái xúc, cái biết, nói chung là những tác dụng nhận thức của sáu giác quan,
Phật bảo chúng không phải chơn tâm, nhưng chúng cũng không rời ngoài chơn
tâm mà có. Biết sử dụng, trong vọng tâm ta t́m thấy chơn tâm thường trú.
Không biết sử dụng chỉ có toàn vọng tưởng, bóng dáng của tiền trần; cũng
như nước thanh b́nh thạnh trị th́ mọi người công dân trong nước là tôi
hiền con thảo. Khi thượng bất chánh th́… cũng những công dân ấy trở thành
tôi loàn con giặc. Tiền trần luôn luôn thay đổi lúc có lúc không, th́ sự
hồi tưởng lại cái tướng của tiền trần cũng lúc sanh lúc diệt. V́ vậy, Phật
gọi sự hồi tưởng bóng dáng tiền trần vào trong kư ức phân biệt chỉ là vọng
tâm, là những phiền năo khách trần. V́ là khách cho nên không được ở luôn.
V́ là trần nên không có phút giây yên lặng. Phật dạy cho người đệ tử
phương pháp tu học để sống với sự an lành, yên lặng, như hư không và quay
về với vai tṛ người chủ, không đi đâu nữa. V́ ngoài người khách đến đi,
c̣n có chủ không đi, ở lại. Trong sự loạn động cuồn cuộn tuôn bay của trần,
c̣n có hư không yên lặng không hề lay chuyển. Trước sự nắm mở duỗi co qua
nắm tay của Phật, c̣n có cái không duỗi co nắm mở đó là cái thấy của ông A
Nan. Thế th́, sự nhận thức của sáu
giác quan, luôn luôn thay đổi từng sát na, từng phút từng giờ, nhưng ngoài
sự thay đổi luôn luôn ấy, con người c̣n một cái. Cái đó là ǵ ?… Là
chơn tâm thường trú.
Theo lời Phật dạy th́ chơn tâm thường trú
có thể biểu hiện ở mọi người, khi trí tuệ con người có khả năng nhận thức
được vọng tâm. Nhận được vọng tâm cũng nhận thức được ǵ là vô minh phiền
năo khách trần để rồi hóa giải chúng đến độ hoàn toàn sạch bóng.
Sự bác bỏ của Phật đối với ông A Nan về
vấn đề tâm thấy hay mắt thấy, sự thật chẳng có ǵ quan trọng giữa hai thầy
tṛ. Nhằm mục đích giáo dục chúng sanh, Phật bày ra cuộc vấn đáp cho lư
cùng trí tận vậy thôi. Giải quyết vấn đề đó, khó khăn ǵ đối với người đệ
tử tinh tấn, đa văn như ông A Nan ấy !
Cái ǵ thấy ? Mắt có thấy được không ?
Thấy cách nào ? Cần bao nhiêu điều kiện để thấy ? Sao gọi là tâm thấy ?
Tâm thấy cách sao ? Tâm ở đâu ?… Bao nhiêu câu hỏi đó, ông A Nan đem pháp
tướng học ra giải quyết, dễ như người ta tḥ tay vô túi mà lấy… tiền tiêu,
chẳng có ǵ khó khăn cả.
(HÁN BỘ HẾT QUYỂN MỘT)
*****Top
CHƯƠNG THỨ BA
TRONG THÂN THỂ VÔ THƯỜNG SANH
DIỆT C̉N CÓ CÁI THƯỜNG BẤT SANH
BẤT DIỆT
Băng
# 9
Ông A Nan và đại chúng nghe lời Phật dạy,
thân tâm thư thái, nghĩ ḿnh vô thỉ đến nay bỏ mất bổn tâm, lầm nhận sự
phân biệt bóng dáng tiền trần làm tâm. Ngày nay được Phật khai ngộ, như em
bé mất sữa bỗng được gặp mẹ hiền, đồng chắp tay lễ Phật, cầu xin chỉ cho
chỗ chân vọng thực hư, ở nơi thân tâm hiện tiền phát minh hai tánh: sanh
diệt và không sanh diệt.
Bấy giờ vua Ba Tư Nặc đứng dậy thưa:
_ Bạch Thế Tôn: Khi chưa được gặp Phật,
tôi nghe bọn Ca Chiên Diên, Tỳ La Chi Tử nói rằng: Thân này chết rồi là
mất hẳn, gọi đó là Niết Bàn. Nay tuy được gặp Phật, nghe pháp, nhưng tôi
vẫn c̣n hồ nghi, xin Thế Tôn chỉ dạy, làm thế nào để được nơi thân tâm này
cái ǵ không sanh diệt ?
Phật bảo: Này Đại Vương ! Như
Đại Vương đă biết: Cái thân vô thường, vận động, sanh diệt chuyển biến
theo năm tháng của thời gian, không có một giây phút, một sát na dừng trụ.
Từ thời thơ ấu đến tuổi trưởng thành, độ thanh xuân nào rồi cũng đến lúc
da mồi tóc bạc… mà Đại Vương biết chắc là nó sẽ tiêu ma hoại diệt. Thưa
Đại Vương ! Đó là chân lư của cuộc đời; hữu t́nh vô t́nh cùng chung một
định luật sanh diệt, diệt sanh của vạn pháp hiện tượng.
Nhưng nầy ! Thưa Đại Vương ! Như Đại Vương
vừa nói: Lúc 3 tuổi cùng mẹ đi cúng lễ thần Kỳ Bà Thiên, đó là lần đầu
tiên Đại Vương thấy nước sông Hằng, rồi năm 13 tuổi cho đến nay Đại Vương
62 tuổi mà "cái thấy" của Đại Vương thấy nước sông Hằng vẫn y nguyên không
sai khác !
Thưa Đại Vương ! Dựa trên khái niệm thời
gian tương đối mà đánh giá tuổi tác con người. Hiện nay mặt Đại Vương tuy
nhăn, nhưng tánh thấy của Đại Vương không nhăn; tóc Đại Vương bạc, mà cái
thấy của Đại Vương không bạc. Cái có bị nhăn, bị bạc là những cái có sanh
diệt, đổi thay. Cái không nhăn, không bạc, không bị chi phối bởi luật vô
thường th́ làm chi có thay đổi! Có đổi thay th́ có hoại diệt, không thay
đổi, đồng nghĩa với bất diệt, bất sanh. Đại Vương c̣n sợ ǵ cái thuyết "đoạn
kiến" của bọn Mạt Già Lê, bảo rằng: "Thân nầy chết là mất hẳn" ?
Nhà vua nghe lời Phật, nhận biết về sau
khi bỏ thân nầy không phải là mất hẳn. Vua và đại chúng hớn hở vui mừng,
được cái chưa từng có.
TRỰC CHỈ
Đọc đoạn kinh trên, tôi chợt liên tưởng
đến câu thơ của Tố Như tiên sinh, một thi hào Việt Nam, thế kỷ 18 viết:
"… Rằng:
những đấng tài hoa
Thác là thể phách, c̣n là tinh anh".
Cái "Tinh anh" mà Tố Như
tiên sinh nói, ta có thể hiểu cái từ: "Linh tri", "Giác Linh", "Linh hồn"
hay "Thần thức" tuyệt đại đa số loài người trên mặt đất đều tin tưởng,
rằng sau khi con người chết, c̣n "một cái" trong những từ đó. Nhưng "cái
đó" sẽ ở đâu và sẽ đi về đâu, điều đó tùy tập quán tín ngưỡng và tôn giáo
mà người đó tôn thờ.
Ở đoạn kinh nầy, cái "tinh anh" không mất
của con người sau khi chết, người đệ tử Phật có thể hiểu đó là: "Bản
thể chơn như của hiện tượng vạn hữu", cũng gọi là "Như Lai Tàng" và ta
sẽ thấy đức Phật dạy rơ ở những đoạn kinh sau: Bởi v́ theo giáo lư Phật
không có một hiện tượng sanh diệt nào rời ngoài bản thể chơn như của nó;
cũng như không có một bản thể chơn như nào không biểu hiện qua hiện tượng
vạn hữu. Những đợt sóng sanh diệt, sanh trên mặt nước phẳng lặng vốn dĩ
bất sanh. Nếu sóng lặng đi rồi, mặt nước phẳng lặng như tờ hăy c̣n nguyên
đó.
Phật khai thị cho vua Ba Tư Nặc và đại
chúng: Sắc thân là một hiện tượng, một dạng vật lư cho nên bị chi phối bởi
định luật vô thường sanh diệt của vạn pháp hiện tượng hữu vi. Trong cái vô
thường c̣n có cái thường, đó là cái tánh thấy, tánh thấy cũng là một hiện
tượng, nhưng là hiện tượng của một dạng tâm lư của bản thể chơn như, cho
nên sự sanh diệt của hiện tượng tâm lư chỉ là sự tùy duyên biểu hiện của
bản thể. Do vậy, thân già nhưng tánh thấy không già; tóc bạc mà tánh thấy
không bạc… Cái có già có bạc có đổi thay rồi sẽ hoại diệt mất đi. Bản thể
chân thường th́ không chịu sự chi phối của hiện tượng vật lư hữu vi sanh
diệt…
"Xuân đến
trăm hoa nở
”Xuân đi trăm hoa rụng
”Sự vật đổi thay trông trước mắt
”Già nua biểu hiện mái tóc sầu
”Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
”Trước sân, xuân nọ cành mai hăy c̣n
(Xuân đáo bách hoa khai
Xuân khứ bách hoa lạc
Sự trục nhăn tiền quá
Lăo tùng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đ́nh tiền tạc dạ nhất chi mai)
MĂN GIÁC THIỀN SƯ
Mai nở mai rụng là hiện tượng sanh diệt
của hoa mai trong một thời kỳ 5 đến 7 ngày. C̣n cây mai trước sân của đêm
xuân hôm ấy, sẽ tiếp nối trưởng thành để rồi xuân tới và xuân tới nữa cứ
lại trổ hoa mai…
*****Top
RẰNG NGƯỢC RẰNG XUÔI CHỈ
LÀ SỰ ÁPĐẶT CHỦ QUAN, MỘT Ư THỨC CHẤP
MẮC !
Băng 10
Ông A Nan từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ
Phật, chắp tay quỳ gối và thưa:
_ Bạch Thế Tôn ! Nếu tánh thấy thật không
sanh diệt, cớ sao Thế Tôn lại gọi bọn chúng tôi là bỏ mất chơn tánh làm
việc trái ngược? Xin Phật mở ḷng thương xót rửa sạch trần cấu cho chúng
tôi !
Bấy giờ Phật duỗi cánh tay hướng xuống đất
bảo ông A Nan rằng:
_ Ông thấy tay tôi như thế này là xuôi hay
ngược ?
Ông A Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Mọi người
thế gian cho như vậy là ngược, c̣n tôi th́ không biết thế nào là ngược,
thế nào là xuôi.
_ Nếu người thế gian cho như vậy là ngược
th́ họ gọi thế nào là xuôi ?
_ Như Lai đưa cánh tay hướng lên trên
không th́ gọi là xuôi.
Bấy giờ Phật đưa cánh tay lên và bảo ông A
Nan: Cái trái ngược của các ông là ở chỗ đó chỉ một việc thay đổi lẫn nhau,
vậy mà người thế gian gán cho cái thấy một ư niệm Ngược, Xuôi ! A
Nan ! Thân ông và thân Như Lai chẳng khác ǵ nhau, nhưng thân Như Lai là
pháp thân thanh tịnh chánh biến tri giác, c̣n ông th́ gọi là người làm
việc trái ngược bỏ mất chơn tánh. Vậy ông hăy chín chắn nghĩ suy t́m xem
sự trái ngược của thân ông và thân Phật khác ở chỗ nào ?
Ông A Nan và đại chúng chăm chăm ngó Phật
mắt không lay động chẳng biết thân tâm trái ngược do ở nơi đâu ?
Đức Phật khởi ḷng thương xót, phát tiếng
hải triều, bảo khắp đại chúng: Các thiện nam tử ! Tôi thường nói: Sắc, tâm
và tâm Sở pháp đều duy tâm hiện. Thân tâm các ông chỉ là vật ở trong chơn
tâm minh diệu. Tại sao các ông bỏ mất đi cái chơn tâm minh diệu quư báu mà
nhận lấy cái mê trong ngộ ?
A Nan ! Do mê muội nhận thấy không. Cái
không phải không, nhận cho là sắc. Sắc có xen tưởng th́ nhận đó là thân.
Cảnh sắc bên ngoài phản ánh tư tưởng bên trong rồi cho cái tác dụng nghĩ
ngợi lăng xăng là tâm tánh.
Một phen lầm cho đó là tâm th́ quyết định
cũng lầm cho "tâm ở trong thân". Do đó, không thể hiểu được rằng: Sắc,
tâm, núi, sông, đất liền cho đến cả hư không đều là những vật trong
Chơn Tâm Minh Diệu. Thật chẳng khác trăm ngàn biển lớn sạch trong chỉ
nhận một cái bọt nước rồi cho đó là nước của toàn thể đại dương. Bọn các
ông là kẻ mê trong những người mê, chỉ một cánh tay tôi mà nảy sanh quan
niệm Ngược xuôi, tranh biện. Như Lai gọi các ông là những người
đáng thương xót.
TRỰC
CHỈ
Duy
thức luận nói:
"Danh sư hổ
vi khách
Kỳ tánh ưng tầm tư"
Đứng bên mặt chơn đế, vạn
pháp vốn không có tuổi tên. Đặt ra tên tuổi là do biến kế chấp của ư thức
con người. Bên mặt tục đế, xă hội loài người không thể không đặt tên sự
vật để khái niệm để nhận thức và xưng gọi. Đặt cho sự vật vạn pháp một
danh ngôn để xưng gọi mà con người sống phù hợp theo tánh hiện thực khách
quan của nó, th́ cũng chẳng có ǵ tội lỗi đáng trách. Trái lại, đó c̣n là
một yêu cầu tự nhiên của quá tŕnh tiến hóa, cho cuộc sống loài người. Tai
hại của danh ngôn là do sanh ḷng chấp mắc. Chỉ một cánh tay Phật duỗi
xuống mà sanh khởi ư niệm ngược xuôi. Mầm mống tranh chấp thị phi dựa trên
cơ sở "biến kế" ấy phát sanh. Cái cánh tay hiện thực, th́ mọi người đánh
mất cái vai tṛ Như Thị khách quan của nó. Lấy một cánh tay Phật làm ước
lệ, để chỉ rơ cho đại chúng cái tánh chất tai hại của "biến kế danh ngôn".
Do "biến kế sở chấp", con người không nhận thức đúng tự tánh "y tha khởi"
của sự vật hiện tượng. V́ vậy, con người không sao biết được tánh "thắng
nghĩa" "chơn như" và tánh "thường như viên thành thật" của hiện tượng vạn
pháp.
Cùng là thân, mà thân Phật gọi là pháp
thân thanh tịnh Chánh biến tri giác. Bởi v́ Như Lai làm chủ bản thân, làm
chủ vạn pháp, làm chủ tâm tánh ḿnh. Như Lai nh́n hiện tượng vạn pháp với
cái Tri kiến Vô kiến.
V́ vậy, Như lai là bậc Pháp
Vương. Ông A Nan và tất cả
chúng sanh nhận thức vạn pháp theo
Tri Kiến Lập Tri
cho nên Phật gọi là những người làm việc trái ngược bỏ mất chơn tánh.
"Sắc, tâm và tâm Sở pháp đều duy tâm hiện".
Chữ tâm phải được hiểu là đệ bát thức Alaya. Chỉ có đệ bát Alaya mới đủ
tiêu chuẩn là "Chơn tâm minh diệu".
Duy thức luận nói:
"Tính duy vô
phú, ngũ biến hành
………………………………
Hạo hạo tam tàng bất khả cùng
Uyên thâm thất lảng cảnh vi phong
Thọ huân tŕ chủng căn thân khí…"
Nếu cho rằng tâm ở trong thân, chẳng khác
nhận một cái bong bóng nước cho là nước của toàn thể đại dương. Nên biết
rằng sắc, thân, núi, sông, đất liền… cho đến cả hư không, đều là những vật
trong Chơn Tâm Minh Diệu
ấy !
*****Top
LỰA BỎ TÂM VƯƠNG VÍU
CẢNH
DUYÊN ĐỂ CHỈ TÁNH THẤY
KHÔNG
CHỖ TRẢ VỀ
Băng # 11
Ông A Nan nghe lời dạy bảo thâm thiết của
Phật, sung sướng rơi nước mắt, ṿng tay mà bạch Phật rằng: Tôi nghe diệu
âm của Phật, dù nhận rơ chơn tâm minh diệu vốn là tâm địa thường trú viên
măn, nhưng chỉ nhận trên pháp âm Phật nói. Tôi đang dùng tâm vương víu
cảnh duyên thỏa măn ḷng ái mộ Phật. Tôi cũng chỉ nhận thức được một cách
mơ hồ mà chưa dám nhận đó là tâm địa vốn có của ḿnh. Mong Phật thương xót
dùng viên âm dạy bảo, nhổ gốc nghi ngờ cho tôi được về với đường vô thượng
giác.
Phật bảo: Bọn ông c̣n lấy tâm vương víu
cảnh duyên mà nghe pháp, th́ pháp đó cũng chỉ là pháp tướng vương víu tạm
thời, chưa phải nhận được pháp tánh. Ví như có người lấy ngón tay chỉ
trăng, người trí nương ngón tay để t́m thấy trăng, nhưng nếu cho ngón tay
là trăng, th́ không những bỏ mất mặt trăng mà cũng bỏ mất luôn cả ngón tay
nữa; v́ ngón tay mà đă tưởng là trăng, th́ cũng không biết thế nào là sáng,
thế nào là tối ! Nay ông lấy sự phân biệt pháp âm của tôi mà cho là tâm,
th́ lúc không có pháp âm, lẽ ra ông phải c̣n phân biệt. Ví như người ngủ
trọ, hết ngủ th́ đi, c̣n chủ quán trọ th́ vĩnh viễn ở luôn không đi đâu
nữa. Cũng vậy, nếu thật là tâm của ông th́ không đi đâu, tại sao rời âm
thanh thuyết pháp của tôi, cái phân biệt của ông không c̣n ? Sự phân biệt
về âm thanh đă vậy. Sự phân biệt sắc, hương, vị, xúc, cho đến các phi sắc
phi không của pháp trần cũng vậy. Rời đối tượng phân biệt ra cái phân biệt
của ông phải thường c̣n, th́ đó mới thật là tâm tánh của ông. Trái lại, hễ
đối tượng không có, phân biệt cũng không c̣n, thế là tâm tánh của ông có
chỗ trả về, như khách đến rồi đi, không c̣n là địa vị chủ nhân ông thường
trú.
Ông A Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Nếu tâm
tánh tôi có chỗ trả về, vậy cái chơn tâm minh diệu Như Lai nói, v́ sao lại
không có chỗ trả về ? Xin Phật thương xót v́ chúng tôi dạy bảo.
Phật bảo: A Nan
! Cái thấy mà ông thấy tôi, dù không phải là chơn tâm minh diệu, nhưng nó
là tánh thấy trong sáng chưa nhuốm trần lao. Nó như vành trăng thứ hai chứ
không đến nỗi như bóng trăng đáy nước. Ông hăy chín chắn lóng nghe, nay
tôi chỉ cho ông cái nghĩa không chỗ trả về.
A Nan ! Đại giảng đường này mở rộng,
phương đông mặt trời lên thấy sáng suốt. Đêm ba mươi không trăng mây mù,
thấy tối đen. Chỗ có cửa mở thấy thông thương. Chỗ có tường thấy ngăn bít.
Chỗ có phân biệt được thấy cảnh sắc. Chỗ trống trơn thấy hư không. Chỗ bụi
cát tung lên thấy mịt mù. Chỗ mưa tạnh mây tan thấy quang đăng.
A Nan ! Ông đă thấy các tướng biến hóa như
vậy, nay tôi trả các tướng ấy về chỗ bản nhơn của nó. A Nan ! Cái sáng trả
về cho mặt trời, v́ không mặt trời th́ không sáng; bản nhơn cái sáng thuộc
về mặt trời, cho nên trả về cho mặt trời. Tối đen trả về cho đêm ba mươi.
Thông thương trả về cho cửa. Ngăn bít trả về cho tường. Cảnh sắc trả về
cho phân biệt. Hư không trả về cho khoảng trống. Mịt mù trả về cho cát bụi.
Quang đăng trả về cho mưa tạnh mây tan. Sự vật thế gian tuy nhiều, nhưng
không ngoài các thứ đó. C̣n cái thấy mà ông thấy tám thứ đó, ông định trả
nó về đâu ? Nếu ông trả về cho sáng th́ lúc không có sáng lẽ ra ông không
thấy được tối. Nhưng trước mắt ông, sáng và tối có sai khác mà cái thấy
của ông th́ không sai khác. Cái có chỗ trả về hẳn nhiên không phải là ông.
C̣n cái thấy không thể trả về đâu, nếu không phải ông th́ là ai len vô đó
?
Vậy nên biết rằng: Tâm ông vốn nhiệm mầu,
thanh tịnh sáng suốt mà ông tự mê mờ bỏ mất gốc, nhận chịu luân hồi thường
bị ch́m đắm trong biển sanh tử. Thế nên Như Lai gọi các ông là những người
đáng thương xót !
TRỰC CHỈ
Nghe mà sanh ḷng hoan hỷ, sung sướng rơi
nước mắt là thành tựu bước đầu: "âm hưởng nhẫn" của người đệ tử Phật. Sanh
ḷng ái mộ, nhận rơ chân tâm minh diệu qua pháp âm Phật, nhưng chỉ nhận
một cách mơ hồ đấy là hiện tượng "nhu thuận nhẫn" được phát sanh. Chưa dám
nhận chơn tâm diệu minh là tâm địa vốn có của ḿnh, v́ ông A Nan bấy giờ
chưa thể nhập "vô sanh pháp nhẫn".
Nghe pháp mà chỉ nghe bằng tâm vướng víu
pháp âm, dù là pháp âm Phật, th́ cũng chưa lắng nghe được pháp tánh thanh
tịnh bản nhiên của vạn pháp vốn có ở ḷng ḿnh. Phải tự uống trà mới biết
hương vị của trà ngon. Chỉ nghe nói trà ngon th́ cái ngon và vị trà không
đời nào hiểu đúng. Nương ngón tay để nh́n trăng, chứ ngón tay không bao
giờ là trăng được.
Dùng tâm phân biệt tiếp nhận pháp âm Phật,
tâm đó không thể là chơn tâm được, v́ nếu pháp âm không c̣n nữa th́ cái
tánh "thường trú" cũng đă mất theo. Chả lẽ ông A Nan
lúc bấy giờ đă trở thành người gỗ đá vô tri vô giác ! Đối với sắc, hương,
vị, xúc cũng vậy. Tiền trần lúc có lúc không, nhưng cái tâm thanh tịnh
"vô phân biệt" của con người không v́ tiền trần mà theo sanh theo diệt.
Phát hiện được cái tâm thanh tịnh "vô phân biệt" vốn có của ḿnh,
Phật gọi đó là "chơn tâm thường trú". Cái đó không có chỗ trả về.
Thế gian, hiện tượng tuy nhiều, nhưng tóm
thu, không ngoài tám tướng: Sáng, tối, thông, bít, sắc, không, trong, đục.
Tám tướng đều có thể trả về chỗ sở nhơn phát sanh ra nó. Nhưng tánh thấy
của ông A Nan nhận thấy tám tướng kia, không thể trả về đâu. Rơ ràng cái
tánh thấy ấy là của ông A Nan chớ chẳng phải của ai khác. Tiền trần đối
tượng có đến có đi, có sanh có diệt, như người "khách" cho nên ví "khách
trần". Nhận thức chủ thể thường xuyên hiện hữu, như "chủ" cho nên gọi: "chơn
tâm thường trú".
Dù vậy, sự thường trú của tánh thấy chỉ là
hiện tượng biểu hiện của chơn tâm, chớ chưa phải chơn tâm, nên ví vành
trăng thứ hai, chưa phải mặt trăng thật. Nói cách khác đó là chân tâm, bên
mặt hiện tượng tùy duyên. Chừng nào nhận thức và thể nhập Bản Thể bất biến
của chơn tâm mới gọi là người thấy được mặt trăng thật.
Ô hô! Pháp hải u huyền trần tâm nan hội !
Chơn tâm hạo đảng như nguyệt lâm thủy diện, bát khai thủy diện, nguyệt
hoàn thâm !
*****Top
Băng # 12
VẬT LÀ ĐỐI TƯỢNG PHÂN BIỆT CỦA TÂM.
TÂM BIỂU HIỆN QUA TÁNH THẤY
LÀ CHỦ THỂ PHÂN BIỆT VẬT
Ông A Nan thưa: Bạch Thế Tôn: Tuy tôi biết
tánh thấy không thể trả về, nhưng làm sao biết được đó là chơn tánh của
tôi ?
Phật bảo: A Nan
! Ông chưa được quả vô lậu, nhờ thần lực Phật mà thấy được cơi Sơ thiền:
trong khi, ông A Na Luật th́ thấy cơi Diêm phù đề như quả quưt để trên bàn
tay. Bồ Tát thấy cùng tột các quốc độ thanh tịnh của mười phương chư Phật.
C̣n chúng sanh th́ thấy chẳng được xa hơn gang tấc.
A Nan ! Tôi cùng ông xem cung điện Tứ
Thiên Vương, chặng giữa các hiện tượng đất liền biển cả và hư không, tuy
có nhiều h́nh sắc khác nhau, sáng tối không đồng, nhưng không cái ǵ không
phải tiền trần đối tượng phân biệt. Những thứ mà ông thấy, ông hăy lựa xem
cái ǵ là chủ thể, cái nào là đối tượng phân biệt của ông ?
A Nan ! Cùng tột sức thấy của ông, từ mặt
trời, mặt trăng… cho đến thất kim sơn, xem xét khắp cùng, dù có thấp cao
lớn nhỏ và màu sắc không đồng nhưng cũng đều là vật chớ chẳng phải ông.
Lần xem mây kéo, chim bay, gió động, bụi tung, cây, rừng, sông, núi, cỏ,
hoa, súc vật… cho đến con người đều là vật chớ chẳng phải ông.
A Nan ! Các vật gần xa đó, tuy khác nhau,
nhưng đều do tánh thấy thanh tịnh (hiện lượng, đệ nhất sát na) của ông.
Các vật loại kia có sai khác mà tánh thấy của ông th́ không sai khác. Tánh
thấy sáng suốt nhiệm mầu đó, rơ là chủ thể phân biệt của chính ông, chứ
c̣n ai nữa ! Nếu tánh thấy là vật, th́ ông đă thấy cái thấy của tôi. Nhưng
sự thật th́ không như vậy. Điều đó chứng minh rằng: tánh thấy không phải
vật, mà là chủ thể phân biệt của chính ông. Sự thể quá rơ ràng, sao ông
c̣n nghi ngờ cái chơn tánh của ông ? Chơn tánh của ông, ông không tự nhận,
vướng chấp pháp âm của tôi mà cầu thực chứng th́ làm sao có được ?
TRỰC CHỈ
Băng # 13
Tánh thấy tức là nhăn thức. Nhăn thức là
một trong tám thức tâm vương. Tánh thấy thanh tịnh, sáng suốt nhiệm mầu,
v́ tiếp thu trần cảnh, nó chỉ thu nhận "tánh cảnh" và "hiện
lượng" cho nên tự tánh của cái thấy vốn không có tội lỗi ǵ. Nó là
hiện tượng biểu hiện của chơn tâm, nó gần với bản chất thanh tịnh của chơn
tâm hơn các hiện tượng khác, nên ví nó như vành trăng thứ hai do mắt nhặm
mà thấy, chứ nó không hư ảo, đảo điên như bóng trăng in đáy nước.
Nêu một tánh thấy để đơn cử công dụng phát
thức của một căn. Kỳ thật tánh cảnh hiện lượng là đặc tánh chung của nhỉ,
tỷ, thiệt, thân, năm thức trước. Năm thức trước hoạt động trong một bối
cảnh "tùy duyên". Chỉ có ư thức đối với sự hoạt động của con người, tương
đối nó thường trú túc trực hơn năm thức trước. Nó chỉ không hiện hữu ở năm
trường hợp: Vô tưởng thiên, vô tưởng định, diệt tận định, ngủ không
chiêm bao và chết ngất.
Sáu thức tác động vào sáu căn, biểu hiện
ra thành sự nhận thức của con người. Đối tượng nhận thức của năm thức
trước là "tánh cảnh" nghĩa là những sự vật có bản chất cụ thể, rờ, mó, cầm,
nắm được, gọi là Vật. Chủ thể nhận thức th́ biểu hiện thông qua sáu
giác quan (lục căn), nhưng v́ không bản chất chỉ có tác dụng th́ gọi đó là
TÂM. TÂM và VẬT đều là "hiện tượng" biểu hiện phát xuất từ Thể tánh
tịnh minh, Như Lai Tàng bản thể:
Không gian cộng thời gian là bản thể Như
Lai tàng vậy.
*****Top
TÁNH THẤY KHÔNG LỚN NHỎ
ĐỨT NỐI CHỈ DO TIỀN
TRẦN NGĂN NGẠI MÀ THÔI
Ông A Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Nếu tánh
thấy là tôi, không phải ai khác, khi Như Lai và tôi xem cung điện Tứ Thiên
Vương, mặt trời, mặt trăng cùng lúc thấy khắp cơi Ta bà, khi trở về tịnh
xá chỉ thấy khu đất già lam, đến trai đường chỉ c̣n thấy giới hạn của một
căn pḥng.
Thưa Thế Tôn ! Tánh thấy vốn khắp cùng một
cơi, mà nay ở trong nhà chỉ thấy một gian pḥng. Vậy tánh thấy lớn rút lại
thành nhỏ hay do tường nhà ngăn chặn làm cho đứt đoạn ? Điều đó, tôi chưa
hiểu, xin Phật từ bi chỉ dạy !
Phật bảo: A Nan
! Tất cả các hiện tượng xa gần lớn nhỏ trong ngoài của thế gian đều thuộc
tiền trần, ông không nên nói tánh thấy có giăn ra hay rút lại. Tánh thấy
vốn khắp trùm phổ biến ví như hư không. Đặt cái đồ vuông th́ dung tích hư
không vuông, để cái vật tṛn th́ dung lượng khoảng hư không tṛn. Nếu muốn
hư không, không vuông, không tṛn, chỉ cần bỏ đi những cái đồ khí mảnh ấy
mà không cần có ư nghĩa phải loại bỏ tướng vuông tṛn của hư không. Như
lời ông hỏi: Khi vào pḥng cái thấy bị rút lại, hay bị vách nhà ngăn đứt ?
Nghĩa đó không đúng. Nếu vào pḥng nhỏ, cái thấy bị rút lại, vậy khi trông
xa phải kéo giăn ra ? Nếu vào nhà bị vách cắt đứt, khi xoi một lỗ nh́n ra
cái thấy phải có dấu nối ?
A Nan ! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến
nay lầm ḿnh là vật, bỏ mất bổn tâm, bị vật xoay chuyển cho nên trong đó
thấy lớn thấy nhỏ. Nếu chuyển được vật th́ đồng với Như Lai, thân tâm tṛn
đầy sáng suốt, ngồi ở một chỗ mà đầu mảy lông hàm chứa mười phương quốc độ.
TRỰC CHỈ
Băng # 14
"Tánh kiến giác minh, Giác tinh minh kiến,
thanh tịnh bản nhiên, chu biến pháp giới, tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri
lượng, tuần nghiệp phát hiện". Đó là ư tứ của một đọan kinh sau, Đức Phật
dạy về ư nghĩa công dụng của thất đại. Rằng tánh thấy vốn là "giác minh"
nó là cái "tinh kiến", nghĩa là tánh thấy không trải qua "tỷ lượng" và
"phi lượng" sai lầm, mà luôn luôn ở trong phạm vi "hiện lượng". Nó thanh
tịnh bản nhiên, nó khắp cùng pháp giới, đáp ứng yêu cầu tâm tưởng chúng
sanh, theo nghiệp của mỗi loài mà biểu hiện. Ví như hư không, tùy đồ vật:
Cốc, ly, chum, chóe mà biểu hiện theo h́nh thể vuông tṛn sâu cạn mà thể
tánh hư không thanh tịnh bản nhiên, khắp đầy thế giới, không hạn cuộc
trong một h́nh thức khuôn khổ nào.
Chúng sanh dứt sạch mê lầm
Ngă Pháp,
phản chiếu hồi quang, xoay về Thể tánh tịnh minh, thể nhập Như Lai Tàng
vốn có, chuyển vật, làm chủ lấy ḿnh, bấy giờ chợt thấy rằng: Vật tâm bất
nhị, chúng sanh Phật không hai. Một là tất cả, tất cả là một. Ngay nơi chỗ
ngồi, mỗi đầu mảy lông hàm chứa cơi nước mười phương chư Phật.
*****Top
TÁNH THẤY VÀ VẬT BỊ THẤY
VỐN
LÀ TÂM TÁNH BỒ ĐỀ NHIỆM
MẦU SÁNG SUỐT
* Không có cái nào là tánh
thấy.
Ông A Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Nếu tánh
thấy là tâm tánh nhiệm mầu của tôi, nó thật là tôi, hiện ở trước mắt tôi,
th́ thân tâm tôi là vật ǵ, mà thân tâm có phân biệt, tánh thấy kia th́
không phân biệt được thân tôi ?
Phật bảo: A Nan
! Ông nói tánh thấy ở trước mắt ông không đúng. Nay tôi cùng ông ngồi
trong rừng Kỳ Đà, trông khắp suối rừng điện đường, trên th́ mặt trời mặt
trăng, trước có sông Hằng. Ông hăy đưa tay chỉ trong các tướng kia: Chỗ
rậm là rừng, phát ra ánh sáng là mặt trời, ngăn ngại là vách, mênh mông
băng lăng là hư không, đến cả cỏ cây mảy mún, lớn nhỏ khác nhau, nhưng đă
có h́nh th́ không cái ǵ không chỉ ra được. Ông bảo rằng tánh thấy hiện ở
trước mắt ông, vậy ông hăy chỉ chính xác, ǵ là tánh thấy ?
A Nan ! Ông nên suy nghĩ: Nếu hư không là
tánh thấy, th́ c̣n cái ǵ là hư không ? Nếu vật là tánh thấy, c̣n cái ǵ
là vật ? Ông hăy chín chắn lựa chọn trong muôn vàn hiện tượng, tách tánh
thấy nhiệm mầu thanh tịnh ấy ra và chỉ cho tôi xem cụ thể rơ ràng, như các
vật mà không lầm lộn ?
A Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Nay tôi ở giảng
đường, trông xa đến sông Hằng… nh́n cao đến mặt trời, mặt trăng, những cái
chỉ được, đều là vật chứ không có cái nào là tánh thấy.
Bạch Thế Tôn ! Lời Phật vừa dạy, chẳng
những hàng Thanh Văn, sơ học chúng tôi, dù cho các Bồ Tát cũng không thể ở
nơi hiện tượng vạn pháp chỉ ra cái nào là tánh thấy rời ngoài mọi vật.
Phật dạy: Đúng vậy ! Đúng vậy !
* Tất cả cái nào cũng là
tánh thấy.
Phật bảo: A Nan
! Như lời ông nói: Rời tất cả vật, tánh thấy không có. Trong tất cả vật đă
chỉ ra được, không có cái nào là tánh thấy. Giờ đây ông cùng tôi ngồi
trong rừng Kỳ Đà nầy, ta hăy nh́n xem vườn rừng cho đến mặt trời, mặt
trăng, và vô vàn h́nh tượng, trong đó không có cái thấy để ông chỉ ra được.
Vậy ông hăy phát minh trong các vật đó, cái nào không phải tánh thấy.
Ông A Nan bạch Phật: Rằng, tôi trông khắp
rừng Kỳ Đà, tập trung tâm ư, quan sát tư duy, nhưng không t́m ra trong đó
cái nào không phải tánh thấy. V́ sao ? Nếu cây không phải tánh thấy, sao
thấy được cây ? Cho đến, nếu hư không, không phải tánh thấy làm sao thấy
được hư không ? Nhưng nếu hư không là tánh thấy, th́ sao lại là hư không.
Tôi nay suy nghĩ chín chắn và phát minh trong muôn vàn hiện tượng,
không cái nào không là tánh thấy.
Phật bảo: Đúng vậy ! Đúng vậy !
TRỰC CHỈ
Đức Phật đă bao lần mở rộng ḷng từ đinh
ninh dạy dỗ, vậy mà ông A Nan vẫn
c̣n mơ hồ trong nhận thức về cái tánh thấy: Rằng tánh thấy là tâm tánh hay
không là tâm tánh của ông.
Sự mê mờ về tâm tánh chưa lóe tí ánh sáng
khả quan nào, th́ lại chồng lên một sai lầm mới. Rằng tánh thấy hiện ở
trước mắt.
Xét cho cùng, ông A Nan
chưa nhận rơ cái tánh thấy cũng có lư của ông. Bởi v́ muốn nhận thức tinh
tường vấn đề nầy, cần phải được học hiểu kỹ về
Kiến Đại:
… "Tánh kiến giác minh, kiến tinh minh
giác, thanh tịnh bản nhiên, chú biến pháp giới, tùy chúng sanh tâm, ứng sở
tri lượng, tuần nghiệp phát hiện".
Từ trước đến đây, trong nhận thức của ông
A Nan chỉ xoay sở quẩn quanh qua
bóng dáng của pháp trần và ư thức. Ông chỉ nghe và tiếp thu mơ hồ về "kiến
tinh minh giác". Thể tánh của kiến tinh là hiện lượng, phát xuất từ Như
Lai Tàng. Ông A Nan chưa có khái niệm vững vàng về nguồn tư tưởng sâu thẳm
của môn pháp tánh học nầy. V́ vậy, ông chỉ tiếp nhận và đề cao vai tṛ
phân biệt của ư thức minh liễu ở trong ông. Ông chưa hiểu cái ư thức minh
liễu mà ông có, cũng chỉ là sản phẩm của Như Lai tàng được biểu hiện thông
qua "ngũ câu ư thức". Ông chưa hiểu vấn đề "tánh kiến giác minh" "kiến
tinh minh giác". Từ đó, nảy ra ư niệm hoang mang ngờ vực: Rằng tánh thấy
là tâm tánh, hay không là tâm tánh? Tánh thấy ở trước mắt, hay không ở
trước mắt… ?
Qua cuộc vấn đáp trắc nghiệm giữa hai thầy
tṛ Phật đồng ư với ông A Nan rằng:
"Không có một vật nào là tánh
thấy".
Cuộc trắc nghiệm lại được
tiếp theo. Rồi Phật cũng đồng ư và xác định với ông A
Nan
rằng:
"Không có một vật nào không phải là tánh
thấy".
Băng # 15
Sự xác định của đức Phật
đối với ông A Nan rơ là mâu thuẫn lạ kỳ, làm cho ông A
Nan
và đại chúng dao động hoang mang cao độ. Đại chúng vẫn biết rằng: lời nói
của Như Lai là chơn chánh là thành thật, không tráo trở, dối gạt phỉnh phờ.
(Như Lai thị chơn ngữ giả, thật ngữ giả, bất dị ngữ giả, bất cuống ngữ giả).
Và sự thật, Như Lai không hề hư dối. Qua sự kiện lạ lùng đó, Như Lai khai
thị cho ông A Nan và đại chúng về chơn lư "bất tức bất ly" của bản thể và
hiện tượng. Là hiện tượng, không có hiện tượng nào không ở trong bản thể.
Một bản thể, không bản thể nào không biểu hiện thông qua hiện tượng. Hiện
tượng không là bản thể, nhưng bỏ hiện tượng t́m bản thể, như bỏ sóng t́m
nước không sao có nước. Bản thể không rời hiện tượng nhưng bảo hiện tượng
là bản thể, như trẻ con, ngỡ sóng là nước th́ không sao biết được nước là
ǵ. Sóng không là nước, nhưng sóng không rời nước. Nước không là sóng,
nhưng nước không rời sóng. “Nước và sóng bất tức bất ly".
Tánh thấy và vật bị thấy vốn là tâm tánh
nhiệm mầu cũng "bất tức bất ly" như vậy.
*****Top
BỒ
TÁT VĂN THÙ CẦU PHẬT THƯƠNG XÓT…
PHẬT
DẠY: TÁNH
THẤY KHÔNG THỂ ĐẶT VẤN ĐỀ: "LÀ"
HAY "KHÔNG LÀ"
Bấy giờ trong đại chúng, những vị chưa
chứng quả vô học, nghe Phật khai thị chân lư thậm thâm ấy, mờ mịt chưa
hiểu thế nào, sanh ḷng sợ hăi, không giữ được chánh niệm.
Như Lai biết đại chúng tâm ư rối loạn,
khởi ḷng từ an ủi ông A Nan và đại chúng: Các thiện nam tử ! Bậc vô
thượng pháp vương, lời nói chân thật, đúng như tánh chơn như, không dối
gạt và lừa đảo quẩn quanh như bốn thứ nghị luận bất tử của bọn Mạt Già Lê.
Các ông hăy suy nghĩ chín chắn, chớ phụ ḷng thương xót của tôi.
Bấy giờ Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương
Tử, thương xót hàng tứ chúng, liền từ chỗ ngồi, đứng dậy đảnh lễ Phật,
chắp tay cung kính thưa rằng:
Bạch Thế Tôn ! Đại chúng đây không hiểu
được chỗ Như Lai phát minh hai nghĩa: "Là" hay "Không là" đối với cái thấy
và sắc không. Bạch Thế Tôn ! Nếu những hiện tượng sắc không tiền cảnh là
cái thấy th́ lẽ ra có chỗ chỉ được. Nếu không là cái thấy th́ lẽ ra không
thể thấy. Nay đại chúng không hiểu nghĩa ấy do đâu, nên mới kinh sợ, chớ
không phải v́ thiện căn nhiều đời ít ỏi. Kính mong Như Lai thương xót phát
minh chỉ rơ các vật tượng ấy và cái thấy vốn là thứ ǵ mà rời ngoài các ư
nghĩa: "Là" hay "Không là" như vậy ?
Phật bảo Bồ Tát Văn Thù và đại chúng:
Thập phương Như Lai và các đại Bồ Tát tự
trụ tam ma đề, th́ cái "thấy" cái "bị thấy" và các nhớ nghĩ, tưởng tượng
đều như hoa đốm trong không chẳng có thật. Bản thể của chúng vốn là tâm
tánh Bồ Đề nhiệm mầu, thanh tịnh sáng suốt, cho nên trong đó không có vấn
đề: "Là" hay "Không là".
Văn Thù ! Nay tôi hỏi ông: Như ông là Văn
Thù, c̣n có "là Văn Thù" hay "không là Văn Thù" nữa chăng ?
Bạch Thế Tôn, Văn Thù thưa. Thật vậy, tôi
thật Văn Thù th́ không thể có "là Văn Thù". V́ sao ? Nếu có "Là" hay "Không
là" hóa ra đă có hai Văn Thù. Nhưng tôi là Văn Thù không c̣n có Văn Thù
nào khác, cho nên không thể đặt vấn đề "Là" hay "Không là".
Phật bảo: tánh thấy nhiệm mầu sáng suốt và
các thứ sắc không cũng như vậy. Tất cả là biểu hiện của chân tâm thanh
tịnh tṛn đầy, là Bồ Đề vô thượng, trong sáng nhiệm mầu. V́ mê lầm, nhận
là sắc, không, thấy, nghe, ví như mặt trăng thứ hai. Sự thật mặt trăng vốn
không thêm bớt, do mắt ḷa mà thấy ra như vậy. Trong đó không thể đặt vấn
đề: Cái nào "là" trăng, cái nào "không là" trăng. Các ông phát minh ra cái
thấy và trần cảnh bị thấy đều là vọng tưởng. Không thể trong đó, nêu ra
cái nào "là" cái nào "không là". Tất cả đều là chân tánh nhiệm mầu, một
thể sáng suốt thanh tịnh, cho nên vượt ngoài sự "chỉ" hay "không chỉ" được
của các ông.
TRỰC CHỈ
Lục căn của con người, ở mặt trái của nó,
người ta chỉ biết qua cái công dụng thấy, nghe… tầm thường của nó. Những
cái thấy nghe đó, thường làm cho con người đau đầu, nhức óc căng thẳng
thần kinh hơn là làm cho con người hưởng được những phút giây thoải mái.
Ít có ai phát hiện phía mặt thật của lục căn ḿnh. Mặt thật của lục căn,
thiền gia gọi là "bản
lai diện mục" của
chúng ta.
Bản lai diện mục của con người, vốn trong
trắng hiền lành, an nhiên tự tại, chẳng vướng vô minh, không vương triền
phược. Từ vật lư đến tâm lư của con người, thanh tịnh bản nhiên, chu biến
pháp giới. V́ vậy, không thể đem thứ ư thức thô phù vọng tưởng để phân
biệt đúng đâu là cái thấy và đâu không là cái thấy.
Pháp giới tánh hàm dung bất nhị. Như Lai
Tàng bản thể nhất chân. Một là tất cả. Tất cả là một. C̣n lấy cái nào để
chỉ cái nào ? C̣n ǵ vô lư bằng khi người ta lấy tay chỉ đây là vàng, kia
không là vàng trong toàn thân con sư tử vàng duy nhất.
*****Top
TÁNH THẤY RỜI TẤT CẢ TƯỚNG,
NHƯNG KHÔNG NGOÀI TẤT CẢ PHÁP.
GIÁO LƯ NHƠN DUYÊN VẪN CHƯA LÀ ĐỆ NHẤT
NGHĨA, THUYẾT TỰ NHIÊN LÀ MỘT NHẬN THỨC SAI LẦM CHƠN LƯ VŨ TRỤ
Băng 16
Sau 41 phút thày giảng về "Bổ đặc già la vô ngă"
Ông A Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Đúng như
lời pháp vương dạy: tâm tánh cùng khắp mười phương thế giới, yên lặng
thường trú, không có sanh diệt. Song nếu đem lời dạy nầy, so sánh với
thuyết của Phạm Chí Sa Tỳ Ca La về "minh đế" và thuyết của bọn ngoại đạo
Đầu Khôi về "chân ngă khắp cùng", khác nhau chỗ nào ?
Hồi ở núi Lăng Già, Thế Tôn dạy cho ông
Đại Huệ rằng: Bọn ngoại đạo thường nói "tự nhiên" c̣n Phật th́ nói "nhân
duyên".
Tôi nay suy nghĩ: cái tâm tánh vốn "tự
nhiên", v́ nó không phải sanh cũng không phải diệt. Nó xa rời tất cả điên
đảo hư vọng. Tôi nghĩ cái "tự nhiên" nầy khác với thuyết "tự nhiên" của
bọn ngoại đạo. Xin Thế Tôn khai thị cho chúng tôi để được tâm tánh sáng
suốt, khỏi rơi vào tà kiến.
Phật bảo: A Nan
! Như Lai đă dùng phương tiện chỉ dạy như vậy mà ông c̣n chưa tỏ ngộ, lại
lầm là "tự nhiên".
A Nan ! Nếu là "tự nhiên" th́ ông thử
chứng minh cái ǵ là "tự thể" của cái "tự nhiên" ấy ? Ông hăy xét kỹ tánh
thấy nhiệm mầu lấy cái ǵ làm tự ? Lấy sáng làm tự hay lấy tối làm tự ?
Lấy rỗng không làm tự hay lấy ngăn bít làm tự ?
A Nan ! Nếu lấy sáng làm tự lẽ ra không
thấy được tối. Nếu lấy rỗng không làm tự lẽ ra không thấy được ngăn bít.
Bởi v́ nếu lấy sáng làm tự, th́ đến khi tối tánh thấy đă diệt mất đi rồi
làm sao thấy được tối… ?
Bạch Thế Tôn ! A Nan thưa, tánh thấy nhiệm
mầu nầy, chắc không phải tự nhiên. Nay tôi phát minh tánh thấy do "nhân
duyên" sanh. Xin Như Lai dạy cho, tôi phải hiểu thế nào cho hợp với tánh "nhân
duyên" của Phật ?
Phật bảo: Ông nói tánh thấy, do "nhân
duyên". Vậy tôi hỏi ông: Tánh thấy đó, nhân sáng mà thấy hay nhân tối mà
thấy ? Nhân trống không mà thấy hay nhân ngăn bít mà thấy ? Nếu nhân sáng
mà thấy th́ lẽ ra không thấy được tối. Nhân tối th́ cũng như vậy…
Ông bảo rằng cái thấy do "duyên" cũng
không đúng. Duyên sáng mà thấy hay duyên tối mà thấy ? Duyên rỗng không mà
thấy hay duyên ngăn bít mà thấy ? Nếu duyên ngăn bít mà thấy, lẽ ra không
thấy được rỗng không. Duyên tối… cũng lại như vậy.
A Nan ! Ông nên biết: tánh thấy nhiệm mầu,
sáng suốt, không phải "nhân" không phải "duyên", không phải tự nhiên,
không phải không tự nhiên, không có cái "phải", hay "không phải". Không có
cái "là" hay "không là". Nó "rời" tất cả tướng; nhưng nó không ngoài tất
cả pháp. Ông đem các danh tướng hí luận thế gian mà nhận thức phân biệt,
chẳng khác lấy tay nắm bắt hư không chỉ thêm nhọc sức.
Bạch Thế Tôn ! A Nan thưa, cái tâm tánh
nhiệm mầu, nếu không phải nhân duyên, cớ sao Đức Thế Tôn đă từng dạy các
Tỳ-kheo, rằng tánh thấy có bốn duyên: Khoảng không, ánh sáng, tâm và mắt ?
Phật bảo: Đó là tôi nói về các tướng nhân
duyên thế gian, không phải đệ nhất nghĩa.
A Nan ! Các người thế gian khi họ nói: "tôi
thấy". Vậy thế nào họ gọi là thấy, thế nào gọi là không thấy ?
A Nan thưa: Người đời nhân ánh sáng mặt
trời, mặt trăng hoặc đèn mà thấy các sắc tướng, họ gọi đó là thấy. Nếu
không có các thứ ánh sáng đó, họ gọi là không thấy.
Phật bảo: Nếu lúc không có ánh sáng mà gọi
là không thấy th́ lẽ ra lúc đó không thấy tối. Nếu đă thấy tối th́ đó chỉ
là không sáng, chớ không phải không thấy. Nếu lúc tối, v́ không thấy sáng
mà gọi là không thấy th́ lúc sáng không thấy tối cũng nên gọi là không
thấy. Vậy th́ sáng tối cả hai đều là không thấy !
A Nan ! Thực tế không phải vậy. Tối và
sáng tự lấn át nhau, tánh thấy của ông chẳng có lúc tạm không. Do đó, biết
rằng tối và sáng đều thấy. Và, khi thấy sáng, tánh thấy không phải sáng.
Lúc thấy tối, tánh thấy không phải tối. Lúc thấy không, tánh thấy không
phải hư không. Khi thấy bít, tánh thấy không phải tướng bít.
Ông nên hiểu rằng:
Tánh thấy trong khi thấy, tánh thấy đó
không phải là tánh thấy bản thể. Tánh thấy đó c̣n cự ly đối với tánh thấy
bản thể. Tánh thấy đó chưa là tánh thấy bản thể.
Với tầm vóc sâu xa nhiệm mầu của tâm tánh,
ông lại đem những thuyết nhân duyên, tự nhiên, ḥa hợp, không ḥa hợp mà
luận đàm, không sao đến được. Các ông là Thanh Văn hẹp ḥi, nông cạn,
không nhận được thật tướng thanh tịnh. Nay tôi chỉ dạy, ông khéo suy nghĩ,
không được biếng trễ trên đường Bồ Đề !
TRỰC CHỈ
Băng 17
T́m hiểu nguyên nhân của hiện tượng vạn
hữu phát xuất từ đâu, thế giới và con người do ǵ sanh là vấn đề tư tưởng
ở vào tầm cỡ trọng đại. Từ thượng cổ hun hút xa xưa, đến nay thế kỷ 20 gần
hết mà vẫn chưa có được sự nhất trí nào của con người, dù là người cùng
chủng tộc, ngữ ngôn trong một nước !
Đức Phật ra đời nay đă hơn 25 thế kỷ.
Trước Phật đă có, cùng thời với Phật cũng có nhiều dị phái triết gia, họ
cũng đề ra chủ thuyết, cắt nghĩa vấn đề thế giới và con người, tức là vấn
đề vũ trụ nhân sanh quan của họ. Chủ thuyết th́ nhiều; mỗi mỗi giải thích
tŕnh bày theo sở kiến của ḿnh, thật đa dạng và phong phú. Có điều không
mấy lạc quan là khi đúc kết các ḍng tư tưởng, người ta thấy không có chủ
thuyết nào giống với chủ thuyết nào. Nhóm phạm chí Sa t́ Ca La chủ trương
"minh đế". Phái ngoại đạo Đầu Khôi chủ trương "thần ngă". Phái ngoại đạo
tự nhiên đề xướng thuyết "tự nhiên". Phái Đại Phạm tôn sùng Phạm Thiên.
Sau này có các phái chủ trương "Thiên chủ tạo vật", đấng "A La", "Huyền
thiên thượng đế"…
Với Thế Tôn ta, Đức Phật không chủ trương
có một đấng "siêu nhiên", "siêu nhân" như vậy.
Đứng bên mặt hiện tượng vạn hữu, Phật dạy:
Vạn Pháp Nhơn Duyên Sanh.
Đứng bên mặt bản thể chơn như, Phật dạy:
Phi nhơn duyên; Phi tự nhiên. Phi ḥa; Phi hợp. Pháp nhĩ như thị.
Kế thừa truyền thống đó, 600 năm, sau Phật
Niết Bàn, thuyết Chơn như
duyên khởi được dựng lên, Mă
Minh Bồ Tát đường hoàng tuyên bố…
"Nhất thiết chư pháp, tùng bản dĩ lai, ly
văn tự tướng, ly ngôn thuyết tướng, ly tâm duyên tướng, tất cánh b́nh đẳng,
bất khả phá hoại, duy thị nhất tâm, cố danh chơn như"…
*****Top
DO NHẬN THỨC SAI LẦM
KHIẾN CHO
CON NGƯỜI BỎ MẤT BẢN TÂM THANH TỊNH BẢN GIÁC THƯỜNG TRÚ CỦA M̀NH
Ông A Nan bạch Phật: Thế Tôn đă v́ chúng
tôi, chỉ dạy về nhân duyên, tự nhiên, ḥa hợp và không ḥa hợp. Tâm chúng
tôi c̣n chưa tỏ ngộ. Nay nghe Phật dạy: Tánh thấy trong khi thấy, tánh
thấy đó không phải tánh thấy bản thể… làm cho chúng tôi càng thêm mờ mịt.
Cúi xin Phật thương xót bố thí tuệ nhăn, khai thị cho chúng tôi về bản tâm
thanh tịnh, bản giác thường trú.
Phật bảo: A Nan
! Ông được năng khiếu nhớ lâu, nhưng cái đó chỉ giúp cho ông phần học rộng.
Đối với pháp Chỉ Quán thẩm sâu mầu nhiệm ông c̣n chưa rơ. Tôi sẽ v́ ông
chỉ bày và cũng khiến cho những người hữu lậu tương lai được quả Bồ Đề.
A Nan ! Tất cả chúng sanh trong thế gian,
luân hồi sanh tử do hai thứ nhận thức sai lầm kết thành nguyên nhơn lưu
chuyển.
Một, nhận thức sai lầm biệt nghiệp.
Ví như người bệnh mắt hóa ḷa, ban đêm trông ngọn đèn thấy có vầng tṛn
năm màu. Cái vầng tṛn năm màu vốn không thực có đối với người không bị
bệnh ḷa. Nhưng nó không phải không có đối với người mắc bệnh. Vầng tṛn
ấy không phải màu sắc của cái thấy hay của đèn. Nó không tự sanh, cũng
không phải do đèn hay do mắt đă sanh. Nguyên nhơn của vầng tṛn, do mắt
bệnh hóa ḷa. Cái vầng tṛn và cái thấy vầng tṛn đều là bệnh ḷa. Nhận
thấy được bệnh ḷa th́ tánh thấy đó không bệnh. Do đó, không nên nói cái
vầng tṛn năm màu là của đèn hay của cái thấy. Cũng không được nói: Rằng
không phải của đèn hay không phải của cái thấy. Lại ví như vầng trăng thứ
hai. Nó không phải trăng mà cũng không phải bóng. Vầng trăng đó vốn không
có, nên không thể gán cho nó "phải" hay là "không phải" mặt trăng. Mặt
trăng thứ hai có là do động tác của ngón tay ấn mắt. Người trí không nên
bảo: Đó là h́nh trăng, hay không phải h́nh trăng. Đó là cái thấy hay ra
ngoài cái thấy. Vầng tṛn năm màu cũng vậy. Nó do bệnh ḷa thành có. Gọi
nó là của đèn hay của cái thấy đều là sai. Ráng sức đấu tranh, rằng không
phải của đèn hay không phải của cái thấy càng thêm hí luận.
Hai, nhận thức sai lầm cộng nghiệp. A Nan
! Cơi Diêm phù đề, trừ nước biển bao la, trong đó đất bằng có 3.000 châu.
Ở giữa có một châu lớn. Chung quanh có đến 2.300 nước. Châu nhỏ chỉ có hai
nước thôi. Những chúng sanh trong một nước gặp phải năm thời tiết không
thuận ḥa th́ cùng thấy những hiện tượng bất thường: Hoặc thấy hai mặt
trời, hoặc thấy hai mặt trăng, hoặc thấy sao phướng, sao sa, và chỉ có
những người trong nước đó thấy, chúng sanh trong nước kế cận th́ không
thấy và cũng không nghe.
A Nan ! Nay tôi đem hai việc đó kết hợp so
sánh làm thí dụ để chỉ cho ông.
A Nan ! Cái nhận thức sai lầm biệt
nghiệp của chúng sanh, ví như người bệnh mắt, trông thấy ngọn đèn hiện
ra vầng tṛn năm màu, tưởng là cảnh thật trước mắt. Sự thật vầng tṛn do
bệnh ḷa của người đau mắt tạo thành. Ḷa là bệnh của cái thấy, không phải
sắc tướng tạo ra. Cái thấy, thấy được bệnh ḷa cái thấy đó vốn không có
bệnh. Cũng vậy, hiện nay ông dùng con mắt xem thấy núi sông cảnh giới và
các chúng sanh đều do bệnh ḷa vô thỉ tạo thành. Cái thấy và cái bị thấy
không thể tách rời ra. Do vô minh, chúng sanh vọng kiến thấy tiền cảnh in
tuồng là "vật đối lập" với ḿnh. Sự nhận thức sai lầm đó do bệnh ḷa
NĂNG KIẾN, SỞ KIẾN của tâm tánh giác minh thanh tịnh. Chừng nào nhận
thức rằng: Cái thấy, thấy vầng tṛn năm màu là bệnh, th́ sự nhận thức đó
vốn không có bệnh. Đó là ư nghĩa thẩm sâu: "Kiến kiến chi thời, kiến phi
thị kiến, kiến du ly kiến, kiến bất năng cập". Bản chất của tánh thấy là:
tánh kiến giác minh, kiến tinh minh giác, thanh tịnh bản nhiên, chu biến
pháp giới.
A Nan ! Do nhận thức sai lầm nghiệp riêng,
người bệnh ḷa thấy ngọn đèn có vầng tṛn năm màu. Do nhận thức sai lầm
nghiệp chung, chúng sanh cùng thấy những hiện tượng bất thường. Do nhận
thức sai lầm vô thỉ, tất cả chúng sanh nhận lấy các bệnh: Tham, sân, si…
Ta, người, thương, ghét… để rồi nhận lấy sanh tử khổ đau của các nguyên
nhân đau khổ đó. Nếu xa rời các bệnh duyên "năng", "sở" th́ chúng sanh
mười phương đồng chung bản thể cùng một tâm tánh nhiệm mầu. Tất cả đều
viên măn tánh Bồ Đề trong bản giác thường trú của ḿnh.
TRỰC CHỈ
Đoạn kinh nầy Phật nêu ra hai thứ vọng
kiến: Biệt nghiệp
và Đồng Phận.
Biệt nghiệp vọng kiến là vọng kiến của cá nhân. Đồng phận vọng kiến là
vọng kiến của xă hội.
Sự thật của biệt nghiệp vọng kiến vốn
không có cái vầng tṛn năm màu quanh một ngọn đèn.
Sự thật của đồng phận vọng kiến là những
hiện tượng bất thường… chỉ có với những người cùng ở trong một nước gặp
phải năm thời tiết bất ḥa.
Cá nhân vọng kiến chỉ v́ bệnh ḷa mà vầng
tṛn năm màu sanh ra.
Xă hội vọng kiến chỉ do cùng ở chung một
nước mà những hiện tượng bất thường… được thấy.
Người không bệnh mắt, vầng tṛn không có
trước đèn.
Chúng sanh nước kế cận không chung quốc độ
nên những hiện tượng bất thường không có.
Như Lai Thế Tôn, v́ không vọng kiến vô thỉ,
nên thấy "pháp giới bất nhị". Như Lai Tàng thanh tịnh "nhất chân".
Chúng sanh bị nhận thức sai lầm vô thỉ,
cái thấy trở thành các bệnh: Ngă, nhân, bỉ, thử, thủ, xả, thân, sơ… Đó là
trần lao, là vô minh bụi bặm. Chúng che lấp mất cái bản thể vốn thanh tịnh
của Chơn tâm thường trú.
Ngày nào chúng sanh xa rời vọng kiến sẽ
nhận thức rơ pháp giới nhất chân. Chúng sanh trong mười phương đồng một
tâm tánh nhiệm mầu. Hiện tượng vạn hữu chỉ là "vật trang trí" từ thường
trú chơn tâm biểu hiện.
Do vậy, Như Lai nói: tánh thấy trong khi
thấy, tánh thấy đó không phải tánh thấy bản thể. Tánh thấy đó c̣n cự ly
với tánh thấy bản thể. Tánh thấy đó chưa là tánh thấy bản thể vốn thanh
tịnh bản nhiên…
Lời dạy thậm thâm của Phật, nhưng thiết
tưởng không có ǵ vượt quá tâm thiền định tư duy của người hành giả đệ tử
Như Lai.
*****Top
TÁNH
THẤY NGOÀI HAI NGHĨA:
H̉A HỢP VÀ KHÔNG H̉A HỢP
Phật bảo: A Nan
! Dù ông đă ngộ tâm tánh bản giác nhiệm mầu sáng suốt, không phải nhân
duyên, không phải tự nhiên, nhưng ông c̣n chưa rơ tâm tánh sanh ra do ḥa
hợp hay không ḥa hợp.
A Nan ! Ông nghĩ kỹ xem, tánh thấy nhiệm
mầu thanh tịnh của ông nó ḥa với ánh sáng hay ḥa với tối ? Ḥa với thông
hay ḥa với ngăn bít ? Nếu ḥa với sáng, hiện nay ông thấy sáng, tánh thấy
ḥa chỗ nào: Tánh thấy và tướng sáng có thể nhận được, c̣n cái h́nh trạng
"ḥa" ra sao ? Nếu tướng sáng ngoài tánh thấy, làm sao thấy được sáng ?
Nếu tướng sáng là tánh thấy, hóa ra thấy được tánh thấy, c̣n ǵ vô lư bằng
? Với tướng tối, tướng thông và tướng bít cũng vậy.
Lại nữa, A Nan ! Hiện nay tánh thấy nhiệm
mầu sáng suốt của ông, nó hợp với sáng hay hợp với tối ? Hợp với thông hay
hợp với bít ? Nếu hợp với sáng, đến khi tối tướng sáng mất đi rồi, tánh
thấy không c̣n hợp được với tối, làm sao thấy được tối ? Nếu không hợp với
tối mà thấy được tối, khi hợp với sáng lẽ ra không thấy được sáng ! Đă
không thấy được sáng, làm sao hợp với sáng và biết được sáng không phải là
tối ? Với tướng thông, tướng bít cũng vậy.
A Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Nay tôi lại
nghĩ: Tánh thấy nhiệm mầu đối với trần cảnh và các tưởng niệm nhớ nghĩ
không ḥa hợp chăng ?
Phật bảo: Nay ông lại nghĩ: rằng tánh thấy
không ḥa hợp ? Tánh thấy ông gọi là không ḥa hợp, nó không ḥa hợp với
sáng hay không ḥa hợp với tối ? Không ḥa với thông hay không ḥa với bít
? Nếu không ḥa với sáng th́ giữa tướng sáng và tánh thấy phải có lằn ranh.
Ông hăy xét kỹ: Chỗ nào là tướng sáng, chỗ nào là tánh thấy ? Chỗ nào là
ranh giới giữa hai thứ kia ? A Nan ! Nếu trong tướng sáng không có tánh
thấy, tướng sáng và tánh thấy không đến nhau, tất nhiên tánh thấy sẽ không
thấy sáng, làm sao lập ra ranh giới ? Với tướng tối, tướng thông và tướng
bít cũng vậy.
TRỰC CHỈ
Tánh thấy là nhân duyên sanh hay tự nhiên
sanh đă được Phật hướng dẫn quá rơ ràng. Nêu hai vấn đề: Biệt nghiệp vọng
kiến và đồng phận vọng kiến ở đoạn trước, cũng nhằm chỉ rơ tánh chất tai
hại của tánh thấy, khi tánh thấy bị nhận thức sai lầm.
… "Tánh kiến giác minh, kiến tinh minh
giác, thanh tịnh bản nhiên chu biến pháp giới, tùy chúng sanh tâm, ứng sở
tri lượng, tuần nghiệp phát hiện". Nhận rơ tính chất thanh tịnh bản nhiên,
chu biến pháp giới của tánh thấy th́ những vấn đề: nhân duyên, tự nhiên
hay phi nhân duyên, phi tự nhiên; ḥa, hợp hay phi ḥa hợp tất cả đều trở
thành hí luận !
*****Top
Băng 18
BỐN KHOA BẢY ĐẠI VỐN LÀ
HIỆN TƯỢNG BIỂU HIỆN
TỪNHƯ
LAI TÀNG
A Nan ! Ông c̣n chưa rơ, tất cả tướng phù
trần hư huyễn đều là vật huyễn sanh huyễn diệt trong bản thể Như Lai Tàng.
Các huyễn vọng gọi là tướng, tánh thực của tướng là thể giác minh mầu
nhiệm (Diệu giác minh thể). Năm ấm, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới,
nhân duyên ḥa hợp vọng gọi là sanh, nhân duyên chia ly vọng gọi rằng diệt.
Chúng sanh không biết sự sanh diệt đi lại, chỉ là sự vận hành biến dịch
mầu nhiệm của Như Lai Tàng. Sự vật hiện tượng luôn luôn chuyển hóa lẫn
nhau. Trong Như Lai Tàng t́m cho ra tử sanh mê ngộ đến đi, không thể được.
*****Top
NĂM
ẤM LÀ HIỆN TƯỢNG BIỂU HIỆN
TỪ NHƯ LAI TÀNG
Băng 19
Băng 20
Tất niên thày 67 tuổi, thày giảng về "Phước Huệ Song Tu".
Băng 21
Đầu năm - Trả lời câu hỏi
1. Sắc ấm:
A Nan ! Sao gọi năm ấm là tánh chơn như
mầu nhiệm biểu hiện của Như Lai Tàng ?
A Nan ! Ví như có người dùng mắt trong
sáng nh́n hư không thanh tịnh, chỉ thấy hư không trong suốt không có ǵ
khác. Mắt người khi bỗng dưng đờ đẫn mỏi mệt, trông hư không thấy hoa đốm
lăng xăng, các tướng huyễn hư rối loạn. Sắc ấm cũng như vậy.
A Nan ! Các hoa đốm không phải từ hư không
đến, không phải từ con mắt ra. Nếu từ hư không đến, hư không chẳng c̣n là
hư không nữa. Nếu từ mắt ra, ắt phải có lúc trở vào. Nếu vậy, khi ra thành
hoa đốm làm mờ loạn hư không, lúc vào tại sao không thấy con mắt ?
Sắc ấm là hư vọng không phải nhân duyên
cũng không phải tự nhiên.
2. Thọ ấm
A Nan ! Ví như có người tứ chi an ổn, cơ
thể điều ḥa, không bị vui buồn tác động, tịch tĩnh như quên ḿnh. Bỗng
nhiên người kia đưa hai tay lên không xoa nhau, sanh cảm xúc: nóng, lạnh,
trơn, rít… Thọ ấm cũng như vậy.
A Nan ! Những cảm xúc hư vọng kia, không
phải từ hư không đến. Không phải từ bàn tay ra. Nếu từ hư không đến sanh
cảm xúc nơi bàn tay, sao không sanh cảm xúc ở thân thể ? Không lẽ hư không
biết lựa chỗ để sanh cảm xúc ?
Nếu từ bàn tay ra, cần chi
phải đợi hai tay hợp lại xoa nhau mới gọi là cảm xúc.
Thọ ấm là hư vọng không phải nhân duyên
cũng không phải tự nhiên.
3. Tưởng ấm
A Nan ! Ví như nghe nói quả mơ chua, miệng
người kia tươm nước bọt. Nghĩ đứng chỗ chênh vênh, ḷng bàn chân cảm nghe
ghê rợn. Tưởng ấm cũng như vậy.
A Nan ! "Mơ chua", vốn là một âm vang, nó
không phải từ quả mơ ra, không phải từ miệng vào. Nếu do mơ ra, quả mơ tự
nói, sao phải đợi người ta nói. Nếu do miệng vào, lẽ ra miệng tự nghe, cần
chi đến lỗ tai ! Nếu riêng lỗ tai nghe, sao nước bọt không chảy lỗ tai lại
tươm ra miệng ? Nghĩ đứng chỗ chênh vênh cũng vậy.
Tưởng ấm là hư vọng, không phải nhân duyên
cũng không phải tự nhiên.
4. Hành ấm
A Nan ! Ví như ḍng nước dốc cuồn cuộn
tương tục tuôn tháo. Ḍng nước không nhân hư không sanh, không nhân nước
có. Nó không phải tánh nước nhưng không ngoài hư không và nước. A Nan
! Nếu nhân hư không sanh, mười phương hư không vô tận, nước vô tận, thế
gian này ch́m đắm cả rồi sao ? Nếu nhân nước có, ḍng nước dốc không là
nước nữa. Bởi v́, ai cũng có thể chỉ tướng của nước và ḍng nước khác nhau.
Hành ấm là hư vọng, không phải nhân duyên
cũng không phải tự nhiên.
5. Thức ấm
A Nan ! Ví như có người lấy cái độc b́nh
to bịt miệng, trong có đựng đầy hư không, đi xa ngoài ngh́n dặm, tặng cho
một nước khác. Hư không đó, chẳng phải đến từ bên nước kia, cũng không
phải đưa vào nước bên nầy. V́, nước được tặng, hư không chẳng dôi thêm ra.
Nước đem cho không v́ vậy, hư không vơi bớt.
Thức ấm là hư vọng, không phải nhân duyên
cũng không phải tự nhiên.
TRỰC CHỈ
Bốn khoa bảy đại chỉ là hiện tượng trong
Như Lai Tàng. Như Lai Tàng là bản thể của tất cả chủng tử của hiện tượng
vạn hữu.
Vấn đề "Hiện tượng vạn hữu do ǵ sanh",
cho đến thế kỷ 20 này vẫn c̣n là một vấn đề chưa ngă ngũ. Một vấn đề mà
loài người sẽ nói măi, có lẽ không bao giờ có sự nhất trí với nhau.
Bảo rằng hiện tượng vạn hữu do "đấng tạo
vật sanh", ở vào thời đại văn minh nầy, người ta cho đó là quan niệm ngây
thơ ấu trĩ. Bảo rằng do "tự nhiên sanh" đó là một thứ tri kiến của người
không tri kiến nào. Bởi v́ trước mắt mọi người, không có cái ǵ "tự nhiên"
cả.
Với nền giáo lư Phật, trong những năm dài
thuyết giáo, Phật thường dạy cho các đệ tử: rằng "vạn pháp do nhân duyên
sanh"… Cái chân lư đó, càng ngày càng rạng rỡ. Thế kỷ 20 nầy, loài người
tiến đến đỉnh cao của trí tuệ, của khoa học văn minh người ta đă chứng
minh được rằng một nguyên tử, hạt cơ bản của nguyên tử cũng chưa phải là
một đơn vị "tự nhiên" mà nó c̣n kết hợp bởi những tính… và chất… mà người
ta chưa t́m ra ngôn từ tương xứng để xưng gọi. Sự gặp gỡ đó, ta có thể tự
hào và kết luận rằng: giáo lư "nhân duyên"… của Phật giáo là niềm vui hănh
diện của những người đệ tử có ḷng tín mộ tôn thờ Đức Phật làm vị "Bổn sư"
ḿnh.
Vậy mà ở kinh Thủ Lăng Nghiêm nầy. Đức
Phật thẳng thắn nói với ông A Nan: rằng giáo lư "nhơn duyên" mà Như Lai
nói chưa phải thứ giáo lư "Liễu
nghĩa". Quả là một tiếng sấm lưng trời ! Nói "đấng tạo vật" sanh,
bị Phật rầy; nói "thần ngă" sanh, bị Phật trách; nói "Phạm Thiên" sanh, bị
Phật chê; nói "tự nhiên" sanh, bị Phật bác; nói "đấng A La" sanh, Phật
không chịu; nói "ḥa hợp" sanh, bị Phật nạn,; nhớ lời Phật dạy, nói "nhân
duyên" sanh, nay cũng không xong ! Vậy th́:
Ai ? Cái ǵ sanh vũ trụ vạn hữu ?
Người học Phật cần tư duy, phải tư duy sâu
sắc, nhà Phật gọi là "tham thiền". Người ta thường thắc mắc, khi tham
thiền phải tham những ǵ ? Th́ đây chính là "thoại đầu" là một đề tài lớn
để cho người đệ tử Phật "tham" và "tọa":
"Vũ trụ vạn hữu do ǵ sanh ?"
Tham cho đến khi trí tuệ bừng sáng, tháo
gỡ hoàn toàn cái gút thắt của vấn đề, chừng đó, hành giả chợt thấy:
"Bát nhă hoa khai vạn pháp, tức tâm, tức
Phật.
"Bồ đề quả thục Nhất chân phi sắc phi không".
TopHÁN BỘ HẾT
QUYỂN 2
SÁU NHẬP LÀ HIỆN TƯỢNG
BIỂU HIỆN TỪ NHƯ LAI TÀNG
1. Nhăn nhập
A Nan: V́ sao bản tánh của sáu nhập vốn là
hiện tượng biểu hiện từ Như Lai Tàng ?
A Nan ! Con mắt khi ngó chăm chú… sanh ra
sự mỏi mệt. Tánh thấy và sự mỏi mệt đều là hiện tượng phát sanh từ thể
tánh Bồ Đề trong sáng. Nhơn hai thứ vọng trần sáng và tối phát sanh tánh
thấy bên trong, thu nhập các trần tướng gọi đó là tánh thấy. Tánh thấy rời
hai trần sáng và tối không có tự thể. A Nan, ông nên biết, tánh thấy không
phải từ sáng hay tối mà đến, không phải từ mắt ra, không phải từ hư không
sanh. Nếu từ sáng đến th́ lúc tối nó đă theo sáng diệt mất đi rồi, lẽ ra
không thấy được tối. Nếu từ tối đến, lúc sáng nó đă theo tối diệt mất đi
rồi, lẽ ra không thấy sáng. Nếu do mắt sanh, không cần có sáng tối thời
mắt chẳng thấy được ǵ, đồng như không có thấy. Nếu do hư không ra th́ lúc
ngó ra thấy các trần tướng, khi xoay vào ắt phải thấy mắt và mặt. Và nếu
thật vậy, th́ hư không tự thấy nào có tương quan ǵ với sự thu nạp của ông
? V́ vậy, biết rằng nhăn nhập là hư vọng, không phải nhơn duyên cũng không
phải tự nhiên.
2. Nhĩ nhập
A Nan ! Ví như có người lấy hai ngón tay
bịt chặt hai lỗ tai. Do tai mỏi mệt hóa ra có nghe. Tánh nghe và sự mệt
mỏi đều là hiện tượng phát sanh từ thể tánh Bồ Đề trong sáng. Nhơn hai thứ
vọng trần động và tĩnh sanh tánh nghe bên trong, thu nạp các trần tướng
gọi đó là tánh nghe. Tánh nghe rời hai trần động và tĩnh không có tự thể.
A Nan ! Ông nên biết, tánh nghe đó không phải từ động tĩnh đến, không phải
từ tai ra, cũng không phải do hư không có. V́ vậy biết rằng nhĩ nhập là hư
vọng, không phải nhơn duyên cũng không phải tự nhiên.
3. Tỷ nhập
A Nan ! Nếu bịt hai lỗ mũi, bịt lâu thành
mỏi mệt, trong lỗ mũi có cái xúc lành lạnh. Nhơn xúc đó phân biệt được
thông và nghẹt, rỗng đặc cho đến các mùi thơm thối… Tánh ngửi và sự mỏi
mệt đều là hiện tượng phát sanh từ thể tánh Bồ Đề trong sáng. Nhơn hai
vọng trần, thông và nghẹt phát ra tánh ngửi ở trong, thu nạp các trần
tướng gọi đó là tánh ngửi. Tánh ngửi rời hai trần thông và nghẹt không tự
thể. Tánh ngửi không phải từ thông và nghẹt mà đến, không phải từ lỗ mũi
ra cũng không phải do hư không sanh. V́ vậy biết rằng tỷ nhập là hư vọng,
vốn không phải nhơn duyên cũng không phải tự nhiên.
4. Thiệt nhập
A Nan ! Ví như có người dùng lưỡi liếm mép,
liếm măi sanh mỏi mệt, nếu người đó có bệnh th́ có vị đắng, người không
bệnh th́ có chút vị ngọt. Do những cảm xúc ngọt đắng, mà bày tỏ tánh nếm,
khi không động thường có tánh nhạt. Tánh nếm và sự mỏi mệt đều là hiện
tượng phát sanh từ thể tánh Bồ Đề trong sáng. Nhơn hai thứ vọng trần nhạt
và ngọt phát sanh tánh nếm ở trong, thu nạp các trần tướng gọi đó là tánh
biết nếm. Tánh biết nếm rời những trần: ngọt nhạt, đắng cay… Không có tự
thể. A Nan
! Sự biết ngọt biết nhạt không phải từ ngọt nhạt đến, không phải từ lưỡi
ra cũng không phải do hư không sanh. V́ vậy biết rằng thiệt nhập là hư
vọng vốn không phải nhơn duyên cũng không phải tự nhiên.
5. Thân nhập
A Nan ! Ví như có người dùng bàn tay lạnh
chạm bàn tay nóng. Nếu lực bên lạnh nhiều hơn th́ bên nóng trở thành lạnh.
Nếu lực bên nóng nhiều hơn th́ bên lạnh hóa ra nóng. Do sự cảm nhận trong
lúc hợp mà nhận biết lúc rời ra. Giữa thế tương quan đó, phát ra mỏi mệt
và cảm xúc. Tánh cảm xúc và mỏi mệt đều là hiện tượng phát sanh từ thể
tánh Bồ Đề trong sáng. Nhơn hai vọng trần hợp và ly phát ra sự hiểu biết ở
trong, thu nạp các trần tướng, đó gọi là tánh biết xúc. Tánh biết xúc rời
hai trần ly và hợp, trái và thuận không có tự thể. A Nan! Tánh biết xúc
không phải từ hợp ly đến, không phải từ trái thuận ra cũng không phải do
hư không sanh. V́ vậy biết rằng thân nhập vốn hư vọng, không phải nhơn
duyên cũng không phải tự nhiên.
6. Ư nhập
A Nan ! Ví như có người mệt nhọc th́ ngủ,
ngủ chán thức dậy. Nhận biết trần cảnh, th́ nhớ, lúc hết nhớ gọi là quên.
Các sự việc ấy sanh khởi, tồn tại thay đổi rồi mất đi. Cứ theo cái ṿng
lẩn quẩn mà hấp thụ không lộn lạo, không chồng chất rối loạn, gọi đó là "ư
tri căn". Ư tri căn và sự mỏi mệt đều là hiện tượng phát sanh từ thể tánh
Bồ Đề trong sáng. Nhơn hai thứ vọng trần sanh diệt, nhóm tánh biết ở trong,
thu nạp pháp trần, ḍng thấy nghe chảy ngược mà không chỗ đến, gọi đó là
sự hiểu biết (tức là ư tri căn hay ư nhập). Tánh hiểu biết này rời hai
trần tướng: Thức, ngủ, sanh diệt nó không có tự thể. A Nan ! Ư căn hay sự
hiểu biết đó, không phải từ thức, ngủ đến, không do sanh diệt có, không
phải từ ư căn phát ra cũng không phải do hư không sanh. Nếu từ thức đến,
lúc ngủ nó đă diệt theo thức mất đi rồi c̣n lấy ǵ làm ngủ. Nếu cho rằng
khi sanh mới có hiểu biết, th́ lúc diệt nó đă không c̣n, làm sao biết được
diệt. Nếu do diệt có, lúc sanh không c̣n diệt th́ lấy ǵ mà biết là sanh.
Nếu do hư không sanh th́ hư không tự biết nào có dính dáng ǵ chỗ thu nạp
của ông ? V́ vậy, biết rằng ư nhập là hư vọng vốn không phải nhơn duyên
cũng không phải tự nhiên.
*****Top
MƯỜI HAI XỨ LÀ HIỆN TƯỢNG
BIỂU HIỆN
TỪ NHƯ LAI TÀNG
1. Sắc và kiến
(Sắc trần và tánh thấy)
A Nan ! V́ sao 12 xứ là hiện tượng biểu
hiện từ Như Lai Tàng ?
A Nan ! Ông hăy xem rừng Kỳ Đà, ao khe cây
cảnh, tất cả vật tượng kia. Ông nghĩ thế nào ? Sắc tướng sanh tánh thấy
hay tánh thấy sanh sắc tướng ?
A Nan ! Nếu tánh thấy sanh sắc tướng th́
lúc trông thấy hư không, không có sắc tướng, tánh thấy đă mất rồi, c̣n lấy
ǵ để nhận biết được tướng hư không ? Nếu sắc tướng sanh tánh thấy, vậy
khi thấy hư không, không có sắc tướng th́ lấy ǵ để biết được hư không và
sắc tướng? Với hư không cũng như vậy.
2. Thanh và thinh
(thanh trần và tánh nghe)
A Nan ! Ông nghe trong trai đường ở rừng
Kỳ Đà nầy, dọn đồ ăn xong th́ đánh trống, lúc họp chúng đánh chuông. Tiếng
chuông trống lần lượt nối nhau.
A Nan ! Ông nghĩ thế nào ? Tiếng đến chỗ
nghe hay tánh nghe đến chỗ tiếng ?
A Nan ! Nếu tiếng đến chỗ tánh nghe, vậy
khi tiếng đến chỗ ông A Nan, khiến cho ông A Nan được nghe, th́ ông Mục
Kiền Liên, ông Ca Diếp v.v… lẽ ra không thể đồng nghe cùng một lúc. Ví như
khi tôi khất thực ở thành Thất La Phiệt th́ ở rừng Kỳ Đà nầy có cả 1250 vị
sa môn, khi nghe tiếng chuông, đồng đến chỗ thọ trai một lượt. Nếu như
tánh nghe của ông đến bên tiếng th́ lúc ông nghe tiếng trống, có tiếng
chuông lẽ ra ông không thể nghe được. Cũng như khi tôi đă về rừng Kỳ Đà
th́ không thể có mặt ở thành Thất La Phiệt nữa. Sự thật, không những ông
nghe tiếng trống tiếng chuông mà ông c̣n nghe được cả tiếng voi, ngựa,
trâu, dê và nhiều tiếng khác cùng một lúc. C̣n nếu trống và tánh nghe
không đến nhau th́ không có ǵ để gọi là nghe cả. Vậy nên biết rằng: tánh
nghe và tiếng cả hai đều là hư vọng, không phải nhơn duyên cũng không phải
tự nhiên.
3. Hương và khứu
(Hương trần và tánh ngửi)
A Nan ! Ông hăy ngửi hương chiên đàn trong
lư này, hương nầy nếu đốt một lạng th́ cả thành Thất La Phiệt đều được
ngửi được mùi thơm. Ông nghĩ thế nào ? Mùi thơm sanh do gỗ chiên đàn ? Do
lỗ mũi ? Hay do hư không ? Nếu do lỗ mũi sanh th́ nó từ lỗ mũi ra. Nhưng
lỗ mũi không phải chiên đàn th́ sao lại có được mùi thơm chiên đàn ? Nếu
từ hư không sanh, tánh hư không thường nhiên th́ mùi thơm cũng phải thường
nhiên, cần chi phải đốt chiên đàn trong lư mùi thơm mới có ?
Nếu mùi thơm từ gỗ chiên đàn sanh, cần ǵ
phải đợi đốt thành khói mới có chất thơm loan tỏa trong thành ? V́ vậy,
biết rằng: Hương trần và tánh ngửi không xứ sở, cả hai đều hư vọng, không
phải nhơn duyên cũng không phải tự nhiên.
4. Vị và thường
(Vị trần và tánh nếm)
A Nan ! Thường th́ ông tŕ bát khất thực
ngày hai lần. Có khi được tô, lạc, đề hồ, là những vị ngon. Ông nghĩ thế
nào ? Vị do hư không sanh ? Do lưỡi ? Hay do đồ ăn sanh ?
A Nan ! Nếu vị do lưỡi sanh, trong miệng
ông chỉ có một cái lưỡi làm sao biết được các vị: ngọt, chua và đắng ? Nếu
do đồ ăn sanh, đồ ăn th́ vô tri giác làm sao biết được vị ? Nếu vị từ hư
không sanh, vậy ông hăy nếm xem hư không vị ǵ ? V́ vậy, biết rằng: Vị
trần và tánh biết nếm không có xứ sở, cả hai đều hư vọng, không phải nhơn
duyên cũng không phải tự nhiên.
5. Xúc và thân
(Xúc trần và tánh cảm thụ)
A Nan ! Thường buổi sớm mai ông lấy tay
xoa đầu. Ông nghĩ thế nào ? Trong sự nhận biết xoa đầu, ông thử phân tích
cái nào năng xúc cái nào sở xúc ? Năng xúc ở tay hay ở đầu ? Nếu ở tay,
đầu không biết làm sao thành xúc ? Nếu ở đầu, tay vô dụng cũng không gọi
là xúc được. Nếu tay lẫn đầu đều biết xúc, vậy một ḿnh ông có hai cái xúc.
Thế th́ trong ông cũng có cả hai con ngườI ? Vả lại, nếu đầu và tay đồng
một cảm xúc, thế th́ cả hai cùng một tự thể. Nếu một tự thể th́ không sở
không năng, cái nghĩa cảm xúc không thành lập được. Nếu là hai thể th́ cảm
xúc ở phía nào ? Ở bên năng th́ không ở bên sở. Ở bên sở, không có bên
năng. Không lẽ hư không làm cho ông có xúc ? V́ vậy, biết rằng: Xúc và
thân không xứ sở, cảm biết xúc cùng xúc trần đều hư vọng, không phải nhơn
duyên cũng không phải tự nhiên.
6. Pháp và ư
(Pháp trần và Ư trần)
A Nan ! Ư căn thường duyên với ba tánh.
Thiện, ác và vô kư mà sanh pháp trần. Pháp trần đó tức tâm sanh hay ly tâm
sanh?
A Nan ! Nếu tức tâm sanh pháp trần th́
pháp trần không c̣n là trần nữa. V́ nó không là pháp sở duyên của tâm, làm
sao thành xứ được ? Bảo rằng ly tâm riêng có chỗ sanh cũng không được. Thử
hỏi: Bản tánh của pháp trần có biết hay không biết ? Nếu có biết th́ không
thể ly tâm. Nếu không biết th́ nó ngoài sắc, thanh, hương, vị, xúc, ngoài
hợp, ly, nóng, lạnh; ngoài cả hư không. Vậy th́ pháp trần ở chỗ nào ? Hiện
tại trong sắc không v.v… Không thể chỉ cái ǵ là pháp trần. Chẳng lẽ trong
nhơn gian lại có cái… ngoài hư không ? Nếu không có đối tượng sở duyên th́
ư căn do đâu thành lập xứ ? V́ vậy, biết rằng: pháp trần cùng ư căn không
có xứ sở, cả hai đều hư vọng, không phải nhơn duyên cũng không phải tự
nhiên.
*****Top
MƯỜI
TÁM GIỚI LÀ HIỆN TƯỢNG
BIỂU HIỆN TỪ NHƯ LAI TÀNG
1. Nhăn thức giới
A Nan ! V́ sao 18 giới là hiện tượng biểu
hiện từ Như Lai Tàng ?
A Nan ! Như ông đă biết: Nhăn căn và sắc
trần làm duyên sanh nhăn thức. Nhăn thức nhơn nhăn căn sanh, lấy nhăn căn
làm giới hay nhơn sắc trần sanh, lấy sắc trần làm giới ?
A Nan ! Nếu bảo rằng nhơn nhăn căn sanh,
thử hỏi: Nếu không có sắc và không th́ cái thức cũng chẳng dùng vào đâu
được. Tánh thấy ngoài h́nh sắc và hiển sắc ra, không thể biểu hiện. Thế
th́ dựa vào đâu mà thành lập giới ? Bảo rằng nhơn sắc trần sanh. Vậy lúc
không có sắc trần, chỉ có hư không lẽ ra cái thức của ông bị diệt mất đi
rồi, làm sao ông biết được hư không ? Bảo rằng: Do nhăn căn và sắc trần
chung hợp sanh. Vậy, khi hợp lại th́ ở giữa ly. Lúc ly ra th́ hai bên hợp.
Thể tánh xen lộn giữa cái biết và không biết th́ cái gọi là giới không thể
thành lập. V́ vậy, biết rằng nhăn căn và sắc trần làm duyên (điều kiện)
sanh nhăn thức, cả ba đều không. Không phải nhơn duyên cũng không phải tự
nhiên.
2. Nhĩ thức giới
A Nan ! Như ông đă biết: Nhĩ căn và thanh
trần làm duyên sanh nhĩ thức. Nhĩ thức nhơn nhĩ căn sanh, lấy nhĩ căn làm
giới hay nhơn thanh trần sanh lấy thanh trần làm giới ?
A Nan ! Nếu nhơn nhĩ căn sanh mà không có
hai tướng động và tĩnh th́ cái biết của nhĩ căn không thành. Bởi v́ chẳng
có ǵ để biết! Cái biết đă không th́ cái gọi là "nhĩ thức" h́nh mạo ra sao
? Nếu bảo: Nhĩ thức nhơn thanh trần sanh. Vậy th́ nhĩ thức vốn nhơn thanh
trần mà có, nó chẳng tương quan ǵ với tánh nghe của lỗ tai. Đă không nghe
th́ cũng không biết ǵ là thanh trần và thanh trần ở đâu. V́ vậy, biết
rằng: Nhĩ căn thanh trần làm duyên sanh nhĩ thức giới, ba chỗ đều không.
Không phải nhơn duyên cũng không phải tự nhiên.
3.Tỷ thức giới
A Nan ! Như ông đă biết: Tỷ căn và hương
trần làm duyên sanh tỷ thức. Tỷ thức nhơn tỷ căn sanh, lấy tỷ căn làm giới
hay nhơn hương trần sanh lấy hương trần làm giới ?
A Nan ! Ông nghĩ thế nào về tỷ căn ? Ông
lấy cái mũi thịt h́nh tướng như hai ngón tay dũi xuống hay lấy sự biết
ngửi làm tỷ căn ? Nếu lấy h́nh tướng cái mũi thịt th́ chưa đúng hẳn v́
chất thịt thuộc thân căn. Và cái biết của thân căn là xúc. Đă là thân căn
th́ không phải tỷ căn. Đă gọi xúc trần th́ đó là đối tượng của thân căn,
không tương quan đến tỷ căn nữa. V́ vậy, tỷ căn c̣n không đáng gọi, làm
sao thành lập tỷ căn giới ?
Bảo rằng: Tỷ thức nhơn hương trần sanh
càng vô lư. Nếu hương trần sanh tỷ thức th́ tỷ thức không thể ngửi biết
hương trần. Ví như con mắt, không tự thấy con mắt.
Nếu biết hương trần th́ không do hương
trần sanh. Nếu không biết hương trần th́ không là tỷ thức nữa. Do vậy,
biết rằng tỷ căn hương trần làm duyên sanh tỷ thức ba chỗ đều không. Không
phải nhơn duyên cũng không phải tự nhiên.
4. Thiệt thức giới
A Nan ! Như ông đă biết: Thiệt căn và vị
trần làm duyên sanh thiệt thức. Thiệt thức nhơn thiệt căn sanh, lấy thiệt
căn làm giới hay nhơn vị trần sanh, lấy vị trần làm giới ?
A Nan ! Nếu nhơn thiệt căn sanh th́ những
mía ngọt, mơ chua, ớt cay, hoàng liên đắng đều hóa ra vô vị ? Vậy ông hăy
tự liếm lưỡi của ông xem, nó ngọt hay đắng ? Và ông hăy nghiệm xem, lấy
cái ǵ nếm lưỡi để ông biết lưỡi đắng ? Nếu bảo rằng vị trần sanh thiệt
thức th́ thiệt thức chính là vị trần. Vị trần không thể tự nếm vị trần,
làm sao c̣n biết là có vị hay không có vị ? Bảo rằng thiệt căn và vị trần
ḥa hợp sanh. Không được. V́, đă là ḥa hợp tất không có tự tánh c̣n lấy
cái ǵ để thành lập thiệt thức giới ? V́ vậy, biết rằng: Thiệt căn vị trần
làm duyên sanh thiệt thức, ba chỗ đều không. Không phải nhơn duyên cũng
không phải tự nhiên.
5. Thân thức giới
A Nan ! Như ông đă biết: Thân căn và xúc
trần làm duyên sanh thân thức. Thân thức nhơn thân căn sanh, lấy thân căn
làm giới hay nhơn xúc trần sanh, lấy xúc trần làm giới ?
A Nan ! Nếu bảo rằng nhơn thân căn sanh,
giả sử không có hai sự kiện hợp ly th́ thân căn sẽ không có tác dụng. Bảo
rằng nhơn xúc trần sanh. Không ổn. V́ có ai không có thân căn mà biết hợp
biết ly ?
A Nan ! Vật th́ không xúc không biết. Thân
có biết có xúc. Biết thân là do có xúc. Biết xúc do có thân. Đă là xúc th́
không phải thân. Đă là thân th́ không phải xúc. Thân căn và xúc trần không
có xứ sở. Nếu xúc trần hợp nhất với thân căn th́ hóa thành tự thể của thân
căn rồi. Nếu xúc trần tách rời thân căn, th́ chẳng khác hư không và các
tướng, không quan hệ ǵ nhau. Nội căn ngoại trần đă không thành th́ làm
sao lập được cái thức ở giữa. Thức đă không lập được th́ nội căn ngoại
trần bản tánh rỗng không. Ông sẽ dựa vào đâu để mà thành lập thân thức
giới ? V́ vậy, biết rằng: Thân căn xúc trần làm duyên sanh thân thức ba
chỗ đều không. Không phải nhơn duyên cũng không phải tự nhiên.
6. Ư thức giới
A Nan ! Như ông đă biết: Ư căn và pháp
trần làm duyên sanh ư thức. Ư thức nhơn ư căn sanh, lấy ư căn làm giới hay
nhơn pháp trần sanh, lấy pháp trần làm giới ?
Nan ! Nếu bảo rằng ư căn sanh, th́ trước
hết ông phải có suy nghĩ, từ đó mới phát minh được cái ư của ông. Dù ư ông
đă có, nhưng nếu không có đối tượng pháp trần th́ ư căn của ông cũng không
thể sanh được. Rời các pháp trần không thể nương vào đâu nhận thức h́nh
mạo ư căn, th́ cái ư thức c̣n đem dùng vào việc ǵ ?
Lại nữa, ư thức của ông cùng với các thứ
tư duy, nghĩ ngợi là đồng hay khác ? Nếu đồng với ư căn th́ thức là ư căn,
duyên cớ ǵ phải có ư căn để rồi mới sanh ra ư thức ? Nếu khác với ư căn,
lẽ ra nó sẽ không c̣n biết được ǵ ! Nếu không được ǵ, sao lại bảo nó do
ư căn sanh ra ? Nếu có biết th́ cần chi phải gọi ư thức và ư căn cho thêm
chuyện ? Chỉ có hai tánh đồng hay khác mà c̣n không ổn định th́ làm sao
thành lập "giới" của ư thức cho được ?
Nếu bảo rằng nhơn nơi pháp trần sanh, th́
các pháp trong thế gian không ngoài năm trần. Ông hăy xét các pháp: Sắc,
thanh, hương, vị, xúc, có tướng rơ ràng chúng là những đối tượng của năm
căn, những pháp đó không thuộc phần tiếp thu của ư căn. Nếu bảo rằng ư
thức của ông, nương pháp trần. Vậy ông xét kỹ xem cái tướng của pháp trần
h́nh mạo như thế nào ? Nên biết: Rời hẳn các tướng: Sắc, không, động, tĩnh,
thông, bít, hợp, ly, sanh, diệt, rốt ráo không thành một pháp nào được cả.
Các nguyên nhơn đă không thành th́ cái thức do nó sanh ra c̣n có dáng mạo
ǵ ! Dáng mạo c̣n không có, làm sao mà lập được cái "giới" của ư thức ?
Vậy nên biết rằng: Ư căn, pháp trần làm duyên sanh ư thức, cả ba đều không.
Không phải nhơn duyên cũng không phải tự nhiên.
TRỰC CHỈ
Trông ra hiện tượng vạn hữu ta thấy ngh́n
sai muôn khác, lớn, nhỏ, thấp, cao… khó mà dùng ngôn từ diễn đạt cho rành
rọt. Nhưng t́m hiểu nguyên nhân gần của chúng, ta thấy tất cả đều biểu
hiện theo cái thế liên hoàn của ba chân vạc, tác động qua lại giữa
Căn, Trần và Thức,
mà h́nh thành và tồn tại. Cả cái vũ trụ vạn hữu vô thỉ vô chung vô cùng vô
cực nầy, nếu tách rời căn trần thức giữa con người và vạn vật ra, th́
chẳng c̣n có ǵ để luận bàn: Tâm, vật, thực, giả, có, không.
Càng không thể có cái gọi là "một đấng
thiêng liêng" nào ở ngoài có đủ tư cách sáng tạo, sắp xếp vấn đề "vũ trụ
nhơn sinh" được.
Căn th́ có 6 nên gọi lục căn, Đó là: mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân và ư. Sáu căn kết hợp bởi tứ đại tinh hoa. Trong mỗi
căn có hai bộ phận: Một là căn phù trần. Hai là căn tịnh sắc.
Căn tịnh sắc cũng c̣n gọi là "Thắng nghĩa căn". Căn này được kết
hợp bằng những yếu tố tứ đại tinh hoa nhất đối với thân thể con người. Do
vậy, nó là cơ quan có công năng phát sanh nhận thức, làm chỗ nương gá cho
thức.
Trần có nghĩa là nhiễm ô. V́ những thứ nầy
có thể làm cho căn bị nhiễm ô, ví như những bụi bặm làm ô nhiễm môi trường
sống của xă hội loài người. Trần có 6 thứ, gọi là lục trần. Đó là: Sắc,
thanh, hương, vị, xúc và pháp. Trần mà không có căn th́ trần không là trần
nữa; ngược lại căn mà không có trần th́ căn không c̣n là căn được.
Thức có 6 nên gọi là lục thức. Đó là: Nhăn
thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ư thức. Thức nương căn
trần mà phát sanh. Thức mà không có căn trần th́ thức không có lư do hiện
hữu. Căn trần mà không có thức th́ căn trần không biểu hiện được thể dụng
của căn trần. Cho nên căn trần thức là một hiện tượng gắn bó mật thiết tác
động hữu cơ. Hiện tượng vạn pháp h́nh thành và tồn tại trong cái thế "duyên
sanh" không thể tách rời giữa căn, trần, thức ấy. Vậy mà từ trước đến đây,
và chưa phải ngừng ở đoạn kinh nầy, đức Phật quở rầy và nhắc nhở về cái
thuyết "nhơn duyên sanh" ấy. V́ sao như vậy ? V́ rằng: Nếu đứng bên tục đế
mà nh́n hiện tượng vạn hữu qua cái lư "nhơn duyên sanh" th́ hoàn toàn đúng.
Không những nó đúng riêng trong nền giáo lư Phật mà nó đúng sự thật của
cuộc đời, đúng với quy luật khách quan của hiện tượng vạn hữu.
Tuy nhiên, nếu đứng bên
chơn đế
mà nh́n, nh́n bằng tri kiến rộng răi hơn, quán triệt căn nguyên, xuyên
suốt bản thể của hiện tượng vạn hữu th́: hiện tượng nào cũng là hiện tượng
của bản thể; cũng như sóng ṃi nào cũng là sóng ṃi của thể nước lặng
trong. V́ vậy, cho rằng: Sóng là nước, th́ đó là cái hiểu biết của những
đứa trẻ ấu trĩ ngây thơ. Bảo rằng: Sóng không phải nước là tri kiến của
một em bé khác. Nói rằng: Sóng là hiện tượng "duyên sinh" của nước, ta có
thể nói chuyện đạo lư với lứa tuổi 20 nầy.
Khi nào người ta ngắm biển với một nhận
thức không băn khoăn với một tri kiến thanh thản hồn nhiên trước cảnh sóng
gào gió lộng… th́ khỏi nói ǵ với họ về vấn đề sóng… nước… V́ họ đă biết
rơ thể nước phẳng lặng và là H2O. V́ họ đă rơ sóng là "hiện
tượng duyên sanh" của nước. Sóng và nước không phải là cái có thể tách rời
nhau. Như Lai Tàng ở kinh Thủ Lăng Nghiêm nói, ví như cái thể H2O
của những đợt sóng kia. Cái vạn hữu duyên sanh, ví như những đợt sóng bởi
những cơn gió lộng, bởi những cuộc đua thuyền mà tạo nên hiện tượng "duyên
sanh" ấy.
Bản thể Như Lai Tàng cùng với hiện tượng
vạn hữu "bất ly" mà "bất tức" !
*****Top
BẢY
ĐẠI LÀ HIỆN TƯỢNG BIỂU HIỆN
TỪ NHƯ LAI TÀNG
Ông A Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Như Lai
thường nói về nhơn duyên ḥa hợp: Rằng tất cả các thứ biến hóa trong thế
gian đều nhơn bốn đại ḥa hợp mà phát sanh. Thế sao Như Lai ở đây lại bác
bỏ cả hai nghĩa "nhơn duyên" và "tự nhiên". Tôi không biết nghĩa đó thế
nào, xin Phật rủ ḷng thương xót chỉ dạy cho chúng sanh pháp liễu nghĩa
trung đạo ra ngoài hí luận.
Bấy giờ đức Thế Tôn bảo ông A Nan: Rằng
trước đây, ông nhàm chán pháp tiểu thừa của Thanh Văn, Duyên Giác, phát
tâm cầu vô thượng Bồ Đề, nên giờ đây tôi hướng dẫn ông về "đệ nhất
nghĩa đế", sao ông lại c̣n đem những thuyết nhơn duyên vọng tưởng hí
luận thế gian mà ràng buộc lấy ḿnh ! Ông dù nghe được nhiều pháp, nhưng
cũng như người nói tên thuốc, đến khi gặp thuốc thật trước mắt mà không
phân biệt được. Như Lai gọi ông là hạng người rất đáng thương xót! Nay ông
hăy nghe cho kỹ, tôi sẽ v́ ông phân tách chỉ bày và cũng để cho những
người tu học đại thừa sau nầy thông suốt được thật tướng. Ông A Nan yên
lặng kính vâng thánh ư của Phật.
A Nan ! Như ông đă nói: "Bốn đại ḥa hợp
phát sanh ra các thứ biến hóa trong thế gian". A Nan
! Nếu tánh của các món đại không ḥa hợp th́ không thể ḥa hợp với các đại
khác. Như hư không, không thể ḥa hợp với sắc tướng. Nếu tánh của các món
đại vốn ḥa hợp th́ nó ḥa đồng với các tướng biến hóa: Thỉ, chung thành
tựu cho nhau; sanh diệt nối nhau; diệt sanh, sanh diệt; diệt diệt, sanh
sanh như ṿng lửa xoay; như nước thành băng, băng lại thành nước, không có
đầu mối cũng không có cuối cùng.
1. Địa đại hoàn nguyên
A Nan ! Ông hăy xét cái tánh của địa đại,
lớn là đất liền, nhỏ là vi trần, thật vi tế là lân hư trần; do chẻ sắc
chất cực vi làm bảy phần mà thành. Nếu đem lân hư trần chẻ một lần nữa là
thành hư không. A Nan ! Nếu lân hư trần chẻ ra thành hư không th́ hư không
cũng có thể sanh sắc tướng ? Ông hỏi rằng. Do ḥa hợp mà sanh các tướng
biến hóa ở thế gian, vậy ông hăy xét. Một hạt lân hư trần phải dùng bao
nhiêu hư không ḥa hợp lại mà thành ? Không lẽ lân hư trần ḥa hợp thành
lân hư trần ! Lại nữa, lân hư trần chẻ ra thành hư không. Vậy dùng bao
nhiêu sắc tướng ḥa hợp lại mới thành cả bầu hư không vô cùng cực nầy ?
Nhưng nếu sắc tướng hợp th́ hợp sắc tướng chứ không thể thành hư không;
c̣n hư không hợp th́ hợp hư không, không thể thành sắc tướng. Sắc tướng
c̣n có thể chẻ được, chứ hư không th́ làm sao mà hợp được ?
Ông vốn không biết thể tánh của các pháp
trong Như Lai Tàng. Sắc là chơn không. Không là chơn sắc. Nó thanh tịnh
bản nhiên; khắp cùng pháp giới, tùy tâm chúng sanh, đáp ứng với lượng sở
tri, theo nghiệp mà phát hiện. Thế gian không biết lầm tưởng nhơn duyên,
hoặc cho là tự nhiên, đều là những phân biệt so đo của ư thức. Nó chỉ đúng
trong ngôn thuyết luận đàm mà hoàn toàn không có thực nghĩa.
2. Thủy đại hoàn nguyên
A Nan ! Tánh nước không cố định, khi tuôn
chảy khi đứng lặng không chừng. Trong thành Thất La Phiệt, các ông Tiên Ca
Tỳ La. Chiên Ca La và các nhà huyễn thuật Bát đầu na v.v… muốn có thứ nước
Thái Âm tinh để ḥa làm thuốc huyễn thuật. Họ lựa ngày trăng tṛn sáng
lộng như ban ngày, tay cầm hạt châu Phương Chư hứng lấy nước dưới trăng
vàng. Vậy nước ấy từ hạt châu ra ? Từ hư không có ? Hay từ mặt trăng mà
đến ?
A Nan ! Nếu nước từ mặt trăng đến, vậy
những rừng cây to, bóng cả ở tận những đỉnh núi cao, khi sáng trăng th́
tất cả lá cành đều phun ra nước cả ? Bởi lẽ những rừng cây đỉnh núi, gần
với trăng hơn là ngọc Phương Chư trong tay người hứng nước ở đồng bằng.
Nếu bảo rằng: Nước từ hạt châu ra, th́ từ hạt châu phải thường rịn chảy ra
nước, cần chi phải đợi có ánh trăng ? Bảo rằng: Nước từ hư không sanh. Hư
không th́ vô cùng vô cực. Hư không bao trùm vạn vật. Vậy sao cả loài người
chưa bị đắm ch́m để cùng chết ngộp cho vui trong một lúc ? Thủy, lục,
không, hành toàn nước và nước cả hay sao ?
Ông nên nghĩ kỹ: Mặt trăng từ trên không
đi qua. Hạt châu do tay người cầm. Cái chén bạc hứng nước do con người tạo.
Vậy nước kia từ phương nào đến ? Mặt trăng và hạt châu xa nhau không phải
ḥa, không phải hợp. Không lẽ nước kia không do đâu mà tự có ra ?
Ông c̣n chưa biết, thể tánh của các pháp
trong Như Lai Tàng: Thủy là chơn không. Không là chơn thủy. Nó thanh tịnh
bản nhiên, khắp cùng khắp giới, tùy tâm chúng sanh, đáp ứng với lượng sở
tri theo nghiệp mà phát hiện. Thế gian không biết lầm tưởng nhơn duyên
hoặc cho là tự nhiên đều là những phân biệt so đo của ư thức. Nó chỉ đúng
trong ngôn thuyết luận đàm mà hoàn toàn không có thực nghĩa.
3. Hỏa đại hoàn nguyên
A Nan ! Hỏa đại không có tự thể. Nó nương
gởi ở các duyên. Ông hăy xem, những nhà trong thành phố, khi người ta muốn
có lửa để nấu thức ăn. Tay họ cầm kính dương toại và một nhúm bùi nhùi đưa
trước ánh sáng mặt trời mà lấy lửa.
A Nan ! Phàm gọi là ḥa hợp th́ như tôi
với ông và 1250 vị tỳ kheo hiện hợp thành một chúng. Chúng th́ có một,
song gạn xét về cội gốc th́ mỗi người đều có thân thể đều có danh tự họ
hàng của ḿnh. Như ông Xá Lợi Phất th́ ḍng Bà La Môn. Ông Ưu Lâu Tần Loa
th́ ḍng Ca Diếp. C̣n như A Nan ông, th́ thuộc ḍng họ Cù Đàm.
A Nan ! Nếu lửa đó nhơn ḥa hợp mà có, vậy
khi người ta cầm kính lấy lửa nơi ánh sáng mặt trời, lửa đó từ kính mà ra
? Do hư không mà có ? Hay từ mặt trời mà đến ? A Nan ! Nếu lửa từ mặt trời
đến, lửa đă đốt được bùi nhùi trong tay của ông th́ những rừng cây mà ánh
sáng mặt trời đi ngang qua lẽ ra đều bị cháy cả! Nếu từ kính ra đốt cháy
bùi nhùi, sao cái kính không bị chảy ? Đến như cái tay ông cầm kính c̣n
không thấy nóng th́ làm sao kính chảy được ? C̣n bảo rằng do bùi nhùi sanh
th́ cần ǵ phải có ánh sáng mặt trời và kính trực chiếu vào nhau rồi sau
đó lửa mới bén cháy bùi nhùi ?
Ông hăy suy nghĩ cho chín chắn: Kính do
tay cầm. Mặt trời th́ ở trên không trung. Bùi nhùi do con người tạo. Vậy
lửa từ phương nào mà xuất hiện đến ? Mặt trời và kính xa nhau, không phải
ḥa không phải hợp, không lẽ lửa kia không do đâu mà tự có ra ?
Ông c̣n chưa biết thể tánh của các pháp
trong Như Lai Tàng: Hỏa là chơn không. Không là chơn hỏa. Nó thanh tịnh
bản nhiên, khắp cùng pháp giới, tùy tâm chúng sanh, đáp ứng với lượng sở
tri: Một người cầm kính một chỗ có lửa sanh ra; khắp pháp giới mọi người
cầm kính, lửa sẽ phát ra theo yêu cầu của mọi người. Lửa vốn không có chỗ
ở, theo nghiệp mà phát hiện. Thế gian không biết lầm tưởng là nhơn duyên
hoặc cho là tự nhiên, đều là những phân biệt so đo của ư thức. Nó chỉ đúng
trong ngôn ngữ luận đàm mà hoàn toàn không có thực nghĩa.
4. Phong đại hoàn nguyên
A Nan ! Phong đại không h́nh thể, khi động
khi tĩnh bất thường. Lúc vào trong đại chúng, ông sửa áo, vạt áo tăng già
lê của ông động th́ người ngồi gần ông có gió nhẹ phất qua làm cho người
kia cảm nghe mát mặt. Gió từ vạt áo cà sa ra ? Do hư không phát khởi ? Hay
từ mặt người kia sanh ?
A Nan ! Nếu gió phát ra do vạt áo cà sa
th́ ông đă mặc cả gió trong người, lẽ ra cái áo phải tung ra khỏi thân ông.
C̣n tôi, tôi đang thuyết pháp trong hội nầy và tôi rũ áo. Vậy ông xem cái
áo tôi, gió núp ở chỗ nào ? Không lẽ trong áo tôi lại có chỗ chứa gió ?
Bảo rằng: Gió từ hư không sanh, th́ tại
sao lúc áo ông không động, không có gió phát ra ? Vả lại, tánh hư không
thường c̣n, lẽ ra gió phải luôn có không lúc nào gián đoạn. Và nếu khi nào
hết gió th́ hư không phải tiêu diệt ? Gió diệt có thể biết được, chứ hư
không diệt th́ h́nh trạng thế nào ? Và nếu có diệt có sanh th́ không được
gọi là hư không, đă là hư không th́ làm sao lại phát sanh gió ? Bảo rằng:
Gió sanh do cái mặt của người bị phất th́ lẽ ra gió phải phất lại mặt ông.
Cớ sao ông sửa áo mà lại phất vào mặt người kia như vậy?
Ông hăy chín chắn mà tư duy: Sửa áo là do
ông. Cái mặt thuộc của người kia. Hư không th́ vắng lặng. Vậy gió từ
phương nào luồn đến ? Gió khác, hư không khác, không phải ḥa, không phải
hợp. Không lẽ gió không do ǵ mà tự có ?
Ông c̣n không biết thể tánh của các pháp
trong Như Lai Tàng: Phong là chơn không. Không là chơn phong. Nó thanh
tịnh bản nhiên khắp cùng pháp giới, tùy tâm chúng sanh, đáp ứng lượng sở
tri. Một ḿnh ông động áo th́ có một ít gió phát ra. Khắp pháp giới nhiều
người cùng cầm quạt mà quạt th́ khắp pháp giới sanh ra phong đại. Phong
đại khắp cùng nhưng không có chỗ ở nhất định, theo nghiệp mà phát hiện.
Thế gian không biết lầm tưởng nhơn duyên hoặc cho là tự nhiên, đều là phân
biệt so đo của ư thức. Nó chỉ đúng trong ngôn thuyết luận đàm mà hoàn toàn
không có thực nghĩa.
5. Không đại hoàn nguyên
A Nan ! Hư không không có h́nh mạo, nhơn
sắc mà hiển bày. Trong thành Thất La Phiệt, chỗ cách con sông, người ta
dựng nhà ở th́ đào giếng để lấy nước dùng. Đào được một thước khối đất th́
có một thước khối khoảng hư không. Nếu đào sâu 20 thước th́ có khoảng
trống hư không 20 thước. Hư không cạn hay sâu tùy đất đào ra nhiều hay ít.
Hư không đó nhơn đất mà ra ? Do đào mà có ? Hay không nhơn ǵ tự sanh ?
A Nan ! Nếu hư không, không nhơn duyên ǵ
mà tự sanh, tại sao khi chưa đào đất, nơi đó không có hư không mà chỉ thấy
đất liền ? Bảo rằng: Nhơn đất ra, th́ lẽ ra khi đất được đào phải thấy
từng mảng hư không văng ra, và nếu vậy là đào hư không chứ sao gọi là đào
đất ? Đă là hư không khi cần chi phải nói đến chuyện đào ? Bảo rằng: Hư
không do đào mà có th́ đào phải ra hư không, cớ sao lại đào ra đất ? Nếu
hư không, không phải do đào mà có, th́ đào lẽ ra chỉ có đất, cớ sao đào
rồi lại thấy hư không ?
Ông nên chín chắn mà tư duy. Đào là do tay
người, tùy phương mà vận chuyển. Đất th́ từ đất liền mà dời đi. Hư không
đó do đâu mà có ? Đào là cụ thể, bởi sức tác động của con người. Hư không
th́ rỗng rang không h́nh mạo, hai yếu tố không tương quan tác dụng ǵ nhau,
không phải ḥa, không phải hợp. Không lẽ hư không, không do đâu mà tự sanh
như thế ?
Hư không thể tánh tṛn đầy, bất động. Hiện
tiền hư không và địa, thủy, hỏa, phong, gọi chung là năm đại thể tánh viên
dung, vốn không sanh diệt. Các đại đó đều là diệu dụng của Như Lai Tàng
biểu hiện !
A Nan ! Ông c̣n mê muội không biết được
thể tánh của các pháp trong Như Lai Tàng. Giác là chơn không. Không là
chơn giác. Nó thanh tịnh bản nhiên khắp cùng pháp giới tùy chúng sanh tâm,
đáp ứng với lượng sở tri: Một giếng trống không, hư không sanh trong một
giếng. Mười phương trống không, hư không khắp cả mười phương. Không đại
khắp cùng theo nghiệp mà phát hiện. Thế gian không biết lầm tưởng nhơn
duyên, hoặc cho là tự nhiên đều là những phân biệt so đo của ư thức. Nó
chỉ đúng trong ngôn thuyết luận đàm mà hoàn toàn không có thực nghĩa.
6. Kiến đại hoàn nguyên
A Nan ! Kiến đại có giác chiếu mà không
liễu tri phân biệt. Nó nhơn các thứ: Sắc, không, mà có. Như hiện nay ông
đang ở trong rừng Kỳ Đà, sớm mai th́ sáng, chiều hôm th́ tối; đêm trăng tỏ
th́ sáng, lúc trăng mờ th́ tối. Những tướng sáng tối do cái thấy mà phân
biệt nhận ra. Vậy cái tánh thấy cùng với sáng tối và hư không là đồng một
thể hay là khác thể?
A Nan ! Nếu tánh thấy cùng với sáng tối và
hư không đồng một thể th́ cái sáng tối luôn luôn tiêu diệt lẫn nhau: có
sáng th́ không tối; có tối th́ không sáng. Nếu tánh thấy đồng một thể với
tối th́ lúc sáng tánh thấy bị tiêu diệt; ngược lại, nếu tánh thấy đồng một
thể với sáng th́ khi tối đến tánh thấy cũng bị tiêu diệt. Vậy th́ tánh
thấy làm sao mà thấy được tối sang ? Bảo rằng: Sáng và tối khác nhau c̣n
tánh thấy không sanh, không diệt. Nếu vậy, th́ không nên nói là đồng một
thể, v́ nó đă khác đi rồi.
Và nếu tánh thấy đă khác với tối sáng,
khác với hư không, vậy ông phân biệt xem tánh thấy h́nh tướng ra sao ? Ông
nên biết: Rời tối sáng và hư không, tánh thấy như lông rùa sừng thỏ, không
sao t́m có.
Ông hăy chín chắn mà tư duy: Sáng, do mặt
trời. Tối, bởi đêm không trăng. Thông suốt, là hư không. Ngăn bít thuộc
đất liền. C̣n cái tánh thấy như vậy, nhơn đâu mà có ? Tánh thấy có giác
chiếu, hư không th́ bất động, không phải ḥa, không phải hợp. Không lẽ cái
tánh thấy không do ǵ mà tự phát sanh ra ? Nên biết: Thể tánh của kiến đại
cùng khắp bất động; vô biên hư không cũng cùng khắp bất động. Địa, thủy,
hỏa, phong, gọi chung là "lục đại" thể tánh viên dung cùng khắp bất động,
không diệt không sanh. Tất cả đều là diệu dụng của Như Lai Tàng biểu hiện
!
A Nan ! Ông c̣n mê mờ không nhận thức được:
Kiến, văn, giác, tri của ông cùng thể tánh của các pháp trong Như Lai Tàng.
Kiến đại vốn là giác minh. Giác minh tinh kiến (tánh thấy vốn thanh tịnh,
hiện lượng và trực giác). Nó thanh tịnh bản nhiên, cùng khắp pháp giới,
tùy tâm chúng sanh, đáp ứng với lượng sở tri. Kiến đại thấy khắp pháp giới,
tánh nghe, tánh ngửi, tánh nếm, tánh xúc và tánh biết cũng cùng khắp pháp
giới nhiệm mầu. Nên biết: Tánh của các đại không có nhất định, theo nghiệp
mà phát hiện. Thế gian không biết lầm tưởng nhân duyên hoặc cho là tự
nhiên đều là những phân biệt so đo của ư thức. Nó chỉ đúng trong ngôn
thuyết luận đàm mà hoàn toàn không có thực nghĩa.
7. Thức đại hoàn nguyên
A Nan ! Thức đại không có nguồn gốc, nhơn
sáu thức căn trần giả tạm mà phát sinh. Nay ông hăy dùng mắt ngó lướt qua
khắp hết thánh chúng trong hội nầy xem. Cái tánh thấy của ông như tấm
gương, tiếp thu tất cả h́nh dáng in vào mà không có mảy may phân biệt (hiện
lượng tiếp thu tánh cảnh). Rồi ông hăy dùng cái thức của ông, theo thứ lớp
mà chỉ ra. Đây là Văn Thù, đây là Phú Lâu Na, đây là Mục Kiền Liên, đây là
Tu Bồ Đề và kia là Xá Lợi Phất… Cái thức phân biệt của ông sanh từ mắt ?
Hay sanh bởi các tướng ? Do hư không ? Hay không do ǵ mà thức tự có ra ?
A Nan ! Nếu bảo rằng: Thức do mắt sanh.
Phỏng sử không có các tướng sắc, không, tối, sáng, cái tánh thấy của ông
c̣n có cơ sở để tồn tại được không ? Cái thấy c̣n không thể có th́ c̣n y
cứ vào đâu để có được cái "thức" phân biệt của ông ? Nếu bảo rằng: Thức
sanh do các tướng chứ không phải do cái thấy. Thế th́ ông lấy ǵ để thấy
được sáng tối ? Sáng tối đă không thấy th́ cũng không biết được các tướng
sắc không ? Các tướng c̣n không có th́ "cái thức" do đâu tồn tại ? Nếu cho
rằng: Thức sanh do hư không, nó ngoài cả các tướng và tánh thấy. Nếu quả
thật vậy, th́ ông không c̣n biện biệt được ǵ; v́ chẳng có ǵ để cho ông
phân biệt !
Nếu bảo rằng: Thức sanh không có sở nhơn,
đột nhiên mà có. Đó là một tri kiến sai lầm. Có ai phân biệt sáng trăng
giữa lúc mặt trời đứng bóng ?
Ông hăy chín chắn mà tư duy: Cái tánh thấy
gá vào mắt ông. Các tướng thuộc tiền trần. Có cái h́nh tướng là có. Cái
không dáng mạo là không. C̣n cái thức như vậy nhơn đâu mà ra ? Cái thức
th́ năng động. Cái tánh thấy th́ lặng lẽ, không phải ḥa, không phải hợp.
Nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ư thức cũng vậy. Thế th́ không
lẽ cái thức phân biệt không do đâu mà tự có ?
A Nan ! Ông nên biết: Thức vốn không xứ sở.
Các tánh: Thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết cũng như vậy. Tánh của kiến đại
và thức đại viên măn trạm nhiên, cùng với địa, thủy, hỏa, phong, không,
gọi chung là thất đại, thể tánh viên dung, không sanh không diệt. Tất cả
đều là diệu dụng của Như Lai Tàng biểu hiện.
A Nan ! Tâm ông nông nổi, không nhận biết
các việc: Kiến, văn, giác, tri cũng như thể tánh của các pháp trong Như
Lai Tàng: Tánh của thức minh tri. Giác minh là chơn thức. Diệu giác trạm
nhiên, khắp cùng pháp giới, ẩn hiện trong mười phương, không có xứ sở,
theo nghiệp mà phát hiện. Thế gian không biết lầm tưởng nhơn duyên hoặc
cho là tự nhiên, đều là phân biệt so đo của ư thức. Nó chỉ đúng trong ngôn
thuyết luận đàm mà hoàn toàn không có thực nghĩa.
TRỰC CHỈ
Năm ấm, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám
giới, bảy đại đều là hiện tượng biểu hiện của Như Lai Tàng. Nói cách khác,
Như Lai Tàng là bản thể của 5 ấm, 6 nhập, 12 xứ, 18 giới và 7 đại. Đề cập
đến bản thể hiện tượng là một vấn đề lớn, một vấn đề mang tính triết học
của Phật giáo, nếu ta nh́n Phật giáo qua lăng kính triết học. Nhưng đối
với Phật giáo người ta có cho nó là triết học hay không là triết học điều
đó chẳng có giá trị thêm bớt ǵ. Sự thuyết pháp của Phật nhằm nói lên chân
lư khách quan, nói lên cái nguyên ủy của sự h́nh thành và sự tồn tại khách
quan của vũ trụ vạn hữu. Sự thật như thế nào, Phật nói như thế ấy vậy thôi.
Giáo lư của kinh Thủ Lăng Nghiêm, triển khai: Tất cả hiện tượng vạn hữu
h́nh thành từ chất liệu của bốn khoa và bảy đại. Rằng hiện trạng vạn hữu
do ngũ uẩn tổ hợp mà thành. Từ ngũ uẩn lập ra 12 thứ sắc pháp. Từ ngũ uẩn
lập ra 8 pháp tâm vương. Từ ngũ uẩn triển khai 51 thứ tâm sở. Từ ngũ uẩn
diễn biến ra 24 thứ pháp bất tương ứng. Từ ngũ uẩn thành lập 95 pháp hữu
vi và cũng từ ngũ uẩn mà an lập 6 thứ vô vi pháp. Tất cả ngần ấy thứ đều
là hiện tượng của Như Lai Tàng, từ chủng tử trong Như Lai Tàng duyên khởi
biểu hiện ra:
TÀNG
có nghĩa là kho tàng. Ví như cái kho chứa tất cả hạt giống của ngũ cốc,
ngũ quả.
NHƯ
có nghĩa là bất biến.
LAI
có nghĩa là tùy duyên.
NHƯ LAI TÀNG ví như cái kho hàm chứa tất
cả chủng tử của hiện tượng vạn hữu. Những chủng tử được chứa trong kho
tàng nầy, tùy duyên sanh ra rồi cũng tùy duyên hoại diệt. Diệt mà không
mất hẳn, diệt để lại sanh. Sanh mà không trường sanh, sanh để rồi lại diệt.
Sanh diệt, diệt sanh; sanh sanh, diệt diệt, vô thỉ vô chung, vô cùng vô
cực. Sự sanh diệt, diệt sanh đó, thuật ngữ Phật học gọi là: TÙY DUYÊN BẤT
BIẾN; BẤT BIẾN TÙY DUYÊN. Sanh diệt, nhưng sanh diệt trong cái vĩnh cửu,
nhưng vĩnh cửu trong quá tŕnh sanh diệt. Ví như những đợt sóng tùy duyên
sanh diệt trên mặt nước bất biến của thể nước H2O của biển cả,
của ao hồ, sông rạch…
Ta hăy tư duy để có khái niệm về bản thể
Như Lai tàng, qua h́nh đồ được cụ thể hóa như sau:
NHƯ LAI TÀNG

ÔNG A
NAN VÀ ĐẠI CHÚNG TÁN DƯƠNG PHẬT,PHÁT
NGUYỆN VÀ TR̀NH PHẬT
NHỮNG ĐIỀU TÂM ĐẮC CỦA M̀NH
Ông A Nan và đại chúng nhờ Phật chỉ dạy
bằng phương tiện dẫn dụ, lời lẽ khéo léo nhiệm mầu. Cả thính chúng thân
tâm thanh thoát rỗng rang. Mỗi người tự biết chơn tâm mầu nhiệm của ḿnh
vốn khắp cùng pháp giới và thấy mười phương hư không như xem cành hoa lá
đang cầm trên tay, tất cả sự vật hiện tượng trên thế gian đều là diệu dụng
của tâm Bồ Đề nhiệm mầu, sáng suốt của ḿnh biểu hiện. Tỏ ngộ lẽ sống chết
của cái thân cha mẹ sanh ra, như sự diệt sanh của những bong bóng giữa đại
dương nổi ch́m tụ tán ! Chỉ có tâm tánh nhiệm mầu khắp giáp mười phương
mới thật là tâm tánh bản lai thường trú của chính ḿnh.
Ở trước Phật, ông A Nan thay lời đại chúng,
xin được nói lên một bài kệ tán dương Đức Phật, phát nguyện và tŕnh lên
Phật điều tâm đắc của tận đáy ḷng:
Cao quí thay ! Thủ Lăng Nghiêm Vương ít có
Là pháp diệu trạm, bất động tổng tŕ
Trừ hết tưởng điên đảo ức kiếp của con
Không trải A Tăng Kỳ mà được pháp thân
Tôi nguyện từ nay cho đến khi thành Phật
Độ chúng sanh như số cát sông Hằng.
Đem thân tâm phụng sự vi trần quốc
Thế mới đủ đáp đền thâm ân Phật.
Cúi xin Thế Tôn chứng minh cho:
Đời trược ác tôi thề vào trước
C̣n một chúng sanh chưa thành Phật
Th́ tôi không nhận hưởng Niết Bàn
Bạch đấng Đại hùng, Đại lực, Đại từ bi
Tôi hy vọng xét trừ vi tế hoặc
Để sớm lên Vô Thượng Bồ Đề
Tôi sẽ làm Phật sự khắp mười phương
Hư không dù hết, nguyện tôi không cùng.
Top(HÁN BỘ HẾT QUYỂN 3)
CHƯƠNG THỨ TƯ
PHẬT THUYẾT MINH TÁNH CỦA CÁC
ĐẠI VỐN KHÔNG NGĂN NGẠI G̀ NHAU,
NHẰM KHAI THỊ CHƠN LƯ:
SẮC KHÔNG, KHÔNG SẮC
Băng 22
Bấy giờ ông Phú Lâu Na ở trong đại chúng,
từ chỗ ngồi đứng dậy quỳ gối chắp tay cung kính bạch Phật rằng:
Thế Tôn khéo v́ chúng sanh mà diễn bày đệ
nhất nghĩa đế. Từ lâu tôi được Thế Tôn khen là thuyết pháp đệ nhất trong
hàng người thuyết pháp. Vậy mà nay tôi nghe pháp âm nhiệm mầu Như Lai vừa
dạy chẳng khác nào người điếc cách xa trăm bước lắng nghe tiếng muỗi ṃng;
hy vọng thấy con muỗi c̣n không được, nói ǵ đến chuyện được nghe. Dù Phật
dạy rơ ràng, nhưng chưa hiểu rốt ráo, tâm tôi c̣n mơ hồ nghi hoặc. C̣n như
tŕnh độ kiến giải của bọn ông A Nan, tuy đă được khai ngộ nhưng tập khí
hữu lậu chưa trừ, nghe pháp âm thâm diệu này của Phật ḷng c̣n ngờ vực.
Bạch Thế Tôn ! Nếu tất cả các thứ: 5 ấm, 6
nhập, 12 xứ, 18 giới và 7 đại trong thế gian đều là hiện tượng biểu hiện
xuất phát từ tánh thanh tịnh bản nhiên của Như Lai Tàng, vậy th́ tại sao
Như Lai Tàng bỗng nhiên lại sanh các tướng hữu vi vô thường vận động, thay
đổi trước sau, vô cùng vô cực như thế ?
Bạch Thế Tôn ! Như Lai cũng đă từng nói:
Địa, thủy, hỏa, phong, bốn đại bản tánh viên dung, khắp cùng pháp giới,
vắng lặng thường trú. Bạch Thế Tôn ! Nếu địa đại cùng khắp th́ làm sao
dung được thủy đại ?
Nếu thủy đại cùng khắp th́ làm sao hỏa đại
có điều kiện phát sanh ? Làm sao có thể hiểu được rằng: Thủy đại và hỏa
đại đều cùng khắp pháp giới mà không đối kháng hủy diệt nhau ? Bạch Thế
Tôn ! Tánh địa đại th́ ngăn ngại; tánh hư không là rỗng suốt, làm sao có
sự kiện hai đại đồng khắp cùng trong một bầu pháp giới ? Tôi không biết
nghĩa ấy là thế nào. Xin Phật rũ ḷng từ vén mây mê lầm cho tôi và đại
chúng.
*****Top
PHẬT
CHỈ NGUỒN GỐC VỌNG TƯỞNG
CỦA HIỆN TƯỢNG TÂM LƯ
Bấy giờ đức Thế Tôn bảo ông Phú Lâu Na và
các đại A La Hán rằng: Nay Như Lai v́ đại chúng chỉ bày tánh thắng nghĩa
trong thắng nghĩa, khiến cho hàng định tánh Thanh Văn chưa được nhơn không
và pháp không, hướng về đại thừa, được pháp tu chân chánh tịch diệt của
nhất thừa. Các ông hăy lắng nghe cho kỹ, tôi sẽ v́ đại chúng mà nói.
Phật bảo: Phú Lâu Na ! Như ông vừa nói: Đă
là bản nhiên thanh tịnh tại sao bỗng nhiên lại sanh ra ấm nhập xứ giới núi
sông đất liền sum la vạn tượng ? Ông có nghe Như Lai đă từng dạy:
Tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu hay không ?
_ Bạch Thế Tôn ! Tôi đă nghe, Phú Lâu Na
thưa.
_ Ư ông hiểu thế nào ? Tánh giác tự
minh mà gọi là giác hay tánh giác không minh
phải dùng tánh minh để minh tánh giác ?
Bạch Thế Tôn ! Tánh giác tự minh
nên gọi là tánh giác diệu minh. Nếu tánh giác không
minh th́ c̣n lấy cái ǵ để gọi là minh tánh
giác !
Phật bảo: Đúng vậy, Phú Lâu Na ! Nếu tánh
giác không tự minh th́ không lấy cái ǵ khác để minh
tánh giác. Và, nếu tánh giác là cái sở minh
th́ không c̣n gọi là tánh giác nữa. Vậy ông nên hiểu: Tánh giác vốn
minh mà chúng sanh lầm tưởng rằng phải nhờ cái minh
để minh tánh giác. Sự thực tánh giác vốn không phải là cái sở
minh. Nhơn v́ lầm tưởng mà tánh giác trở thành ra sở
? Cái vọng về sở đă thành, tất sanh cái vọng năng
của ông. Nguồn gốc của vọng tưởng phát nguyên là như vậy.
*****Top
Băng 23
PHẬT KHAI THỊ
NGUỒN GỐC DUYÊN
KHỞI
CỦA
HIỆN TƯỢNG VẬT CHẤT
Phật bảo: A Nan
! Bản thể của hiện tượng vốn chung cùng, do nhơn duyên mà biến hiện. Trong
thể tánh không đồng không dị, phân giải sanh ra thành dị. Khác với các dị
hóa hợp lại thành đồng. Tánh đồng dị đă phát minh, hai lực hấp dẫn và đề
kháng cũng tự thành năng lực. Giữa sự nhiễu loạn mâu thuẫn bên trong của
vật lư tâm lư và tánh hư không; những tánh chất năng động hợp thành thế
giới, tính thể bất động là hư không. Hư không là đồng, thế giới là dị.
Đồng dị hay không đồng dị, tất cả đều gọi là pháp hữu vi.
1.
Thế giới
tương tục:
Phật bảo: Phú Lâu Na ! Tánh giác th́ sáng
suốt; hư không th́ bất động vô tri. Hai thứ tác động nhau thành tánh năng
dao động. Do đó, trong thế giới có hiện tượng lay động phát sanh (gió:
phong đại). Trong tánh năng dao động, những thứ đồng chủng ḥa hợp với
nhau kết thành tánh chất ngại. Đây là hiện tượng kim luân được h́nh thành
để bảo tŕ quốc độ (kim luân là dị dạng của địa đại, nhiếp thuộc về địa
đại). Kim luân cọ sát với không khí trong hư không, biến ra năng lượng.
Hiện tượng hỏa đại phát huy từ đó. Kim luân sanh nước. Tánh nước chảy
xuống. Tánh lửa bốc lên. Thủy đại chảy xuống, hỏa đại bốc lên, địa đại bảo
tŕ, từ đó hiện tượng vật chất đủ điều kiện h́nh thành viên măn. Chỗ sâu
có nước là biển; chỗ cạn là cồn băi, lục địa. Do nguyên nhơn đó, trong
biển, lửa thường sanh khởi. Cồn băi, lục địa, sông lạch thường tuôn chảy
không ngừng, Chỗ thế nước kém thế lửa, kết tụ thành núi cao, cho nên đánh
đá th́ lửa nhoáng ra. Chỗ thế đất kém thế nước hay sanh cây cỏ. V́ vậy,
rừng cháy thành đất, vắt ép gỗ chảy ra nước.
Sự vật hiện tượng trong thế giới tương
quan làm nhơn quả cho nhau mà sanh. Xoay vần làm nhơn duyên cho nhau không
dứt, v́ vậy thế giới duy tŕ tương tục vô cùng.
2.
Chúng sanh tương tục:
Lại nữa Phú Lâu Na ! "Vọng minh" không
phải cái ǵ khác lạ. Do v́ chúng sanh dùng cái tri kiến minh tri
để minh tánh giác mà có sự lỗi lầm. Từ đó có cái sở
minh. Sở minh đă có th́ cái năng minh bị lệ thuộc
vào. V́ vậy, tánh nghe không ngoài âm thanh; tánh thấy không ngoài màu sắc;
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, 6 vọng trần đă h́nh thành làm đối tượng
cho "vọng năng": Những cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết sanh khởi. Hễ
đồng nghiệp th́ hấp dẫn lúc hợp lúc ly, khi t́nh, khi tưởng. Tánh thấy "năng
minh" có, th́ đương nhiên có sắc "sở minh" hiển hiện. Chủ thể đối tượng
tác động vào nhau, từ cảm tính chuyển sang lư tính, từ lư tính nảy sinh
khái niệm, từ khái niệm dẫn đến tư duy. Do tư duy có sự tưởng tượng nhận
thức: Hễ ư kiến bị phủ nhận, sanh tâm lư ghen ghét. Tư tưởng được đồng
t́nh, sanh tâm lư yêu thương. Ḍng nước yêu thương kết thành chủng tử, thu
nạp tưởng tượng hấp dẫn nghiệp đồng, tác hợp với "yết la lam" thành trạng
thái của phôi trong thời gian gọi là "ngưng hoạt" (tinh trùng và noăn sào
mới hợp nhau trong ba bốn tuần đầu). Thai sanh, noăn sanh, thấp sanh, hóa
sanh, tùy nghiệp đồng và thích ứng của mỗi loài mà cảm ứng. Thai nhơn t́nh
mà có. Noăn do tưởng mà sanh. Thấp bởi hợp mà cảm. Hóa v́ ly mà ứng. T́nh,
tưởng, hợp, ly luôn luôn vận động đổi thay theo nghiệp sở hành mà cảm thọ:
Khi đi lên, lúc đi xuống xoay vần trong sáu nẻo. Đó là nguồn gốc làm cho
chúng sanh tương tục không dừng.
3. Nghiệp quả tương tục:
Phật bảo: Phú Lâu Na ! Tưởng và ái gắn bó
ràng buộc lẫn nhau. Ái măi không rời kết thành nghiệp nhơn tương tục: Cha,
mẹ, vợ, chồng, con, cháu tương tục sanh lên sanh xuống không có thời kỳ
chấm dứt. Hạng chúng sanh này do dục tham làm gốc.
Tham và ái đắm đuối nặng nề, tham ái măi
không thôi. Nghiệp nhơn này khiến cho các loài thai sanh, noăn sanh, thấp
sanh, hóa sanh trong thế gian, tùy sức mạnh yếu, ăn nuốt lẫn nhau. Hạng
chúng sanh này do sát tham làm gốc.
Người cướp mạng súc vật để ăn. Súc vật
tiến hóa làm người. Người làm ác nghiệp thoái hóa làm súc vật. Mười loại
chúng sanh xoay vần lên xuống, xuống lên, ăn nuốt lẫn nhau. Ác nghiệp ngày
thêm, cho nên tột ngằn mé vị lai tương tục. Hạng chúng sanh này do
đạo tham làm gốc.
Phú Lâu Na ! Do những bất thiện nghiệp như
vậy, người nầy mắc nợ thân mạng người kia. Người kia trả nợ cũ cho người
nầy. Người nầy thương cái ḷng tốt của người kia. Người kia yêu cái sắc
đẹp của người nầy. Do nhơn duyên đó trải trăm ngh́n kiếp ở măi trong ràng
buộc sanh tử khổ đau. Ba món Sát, Đạo, Dâm là những yếu tố căn bản tạo
thành nghiệp quả tương tục.
Phú Lâu Na ! Sở dĩ có ba thứ tương tục
điên đảo là do nhận thức sai lầm: Rằng phải nhờ lấy cái minh
để minh tánh giác; không biết rằng: Tánh giác diệu
minh, bản giác minh diệu, đại địa san hà vũ trụ vạn hữu là hiện
tượng hữu vi, có sanh có diệt là do kiến chấp vọng tưởng của con người. Sự
thực, thể tánh của các hiện tượng vốn thanh tịnh bản nhiên là diệu dụng
của Như Lai Tàng biểu hiện.
TRỰC CHỈ
Băng 24
Đóng vai tṛ "tích hạ bản cao", ông Phú
Lâu Na và ông A Nan nghe tư tưởng liễu nghĩa thượng thừa, như người điếc
cách xa trăm bước lắng nghe tiếng muỗi ṃng, thiết tưởng không phải là
chuyện lạ. Do vậy ông mới tŕnh lên Đức Phật những mối thắc mắc nghi ngờ,
của hàng Thanh Văn tiểu quả, và trong mối nghi ngờ đó có của Phật tử chúng
ta.
Ông Phú Lâu Na hỏi Phật:
Một, tại sao Như Lai Tàng, tánh vốn thanh
tịnh bản nhiên bỗng dưng lại chuyển biến sanh ra những hiện tượng hữu vi:
Ấm, nhập, xứ, giới và các đại, để rồi hiện tượng vạn hữu này tồn tại măi
măi không gian và thời gian vô cùng vô cực ?
Hai, Địa, thủy, hỏa, phong, không, kiến,
và thức, trong bảy đại tánh chất có đối kháng nhau. Tại sao chúng có thể
dung hợp được nhau trong Như Lai Tàng mà không tương tàn, tương diệt ?
Là một bậc thầy, một Ta Bà Giáo Chủ không
cho phép từ chối giải đáp những thắc mắc chánh đáng cho đệ tử ḿnh, dù
thắc mắc đó có khó khăn đến mức nào cũng vậy.
Phật bảo ông Phú Lâu Na, đó là vấn đề "thắng
nghĩa" của các pháp, vấn đề cội nguồn của sự vật hiện tượng vạn pháp. Nói
đến vấn đề này là đề cập đến tánh
chơn như,
bàn đến tánh thường như
của vạn pháp. Như Lai dạy: sự thật, hiện tượng vạn pháp cùng chung một bản
thể: Như Lai Tàng. Hữu t́nh vô t́nh đều phát xuất từ chủng tử trong Như
Lai Tàng vận động, biến chuyển duyên khởi mà h́nh thành. Thoạt kỳ thỉ, tất
cả hiện tượng vạn pháp sanh khởi h́nh thành bằng tánh
như thị bản nhiên
của nó. Đồng chủng th́ hợp lại, dị chủng th́ đẩy ra, đồng tánh th́
chống nhau, dị tánh th́ hút nhau. Sự hợp, đẩy, chống, hút, không do ai làm,
không bị ai xui, không bởi thế lực "thiêng liêng" nào sắp xếp. V́ vậy,
trong đó không có cái sở và cái năng. Năng
nghĩa là có ai đó… làm, xui hay sắp xếp. Sở là cái bị ai
đó sắp xếp, làm và xui nên. Tánh "Thường như" của vạn pháp vốn không có
vấn đề năng sở, nghĩa là không có chủ thể phân biệt và đối
tượng phân biệt. Tất cả cùng một bản thể, tùy duyên vận động chuyển
biến hiện ra như vậy và như vậy:
Duy thức luận nói:
"Do thức
nhất thiết chủng
”Nó biến như vậy như vậy
”Do quá tŕnh vận động
”Hiện tượng sự vật sanh."
(Do nhất thiết chủng thức
Như thị như thị biến
Dĩ triển chuyển lực cố
Bỉ bỉ phân biệt sanh).
Thể tánh của hiện tượng vạn pháp trong Như
Lai tàng vốn nhiệm mầu trong sáng không có vô minh.
Tánh giác diệu minh bản giác minh diệu
là tánh chất vốn vậy trong Như Lai Tàng. Năm ấm, sáu nhập, mười hai xứ,
mười tám giới và bảy đại sanh diệt, diệt sanh trong Như Lai Tàng không
phải là vấn đề đáng quan tâm thắc mắc, v́ đó là vấn đề: vũ trụ vạn hữu tồn
tại khách quan trong quy luật vô thường vận động sanh diệt, diệt sanh của
chúng.
Tương quan thân thiết với con người là vấn
đề nhơn sanh quan, mới là điều nên đầu tư suy nghĩ. Đă là
tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu,
thế nhưng tại sao con người có thể bị mất đi cái đó để rồi phải chuốc lấy
phiền năo buộc ràng trong sanh tử khổ đau ?
Băng 25
Phật dạy:
Tánh giác tất minh, vọng vi minh giác
nghĩa là do vọng tưởng khởi sanh phân biệt chấp mắc hiện tượng vạn hữu.
Do đó hiện tượng vạn hữu trở thành đối tượng sở minh. Cái
phân biệt của con người trở thành năng minh để đánh giá cái
tánh giác diệu minh của hiện tượng vạn pháp và chấp thủ sai
lầm về cái bản giác minh diệu của chính ḿnh. Do vọng tưởng
sai lầm không đầu mối đó (sai lầm vô thỉ) dẫn đến nhận thức sai lầm: mừng,
giận, thương, sợ, yêu, ghét, muốn… những cái thuộc loại "khách trần" và có
chỗ trả về ấy lại chiếm ngự ở măi ḷng ta !
Vấn đề: địa, thủy, hỏa, phong, không, kiến,
thức, v́ sao dung hóa được nhau; trong thực tế chúng có tánh đối kháng
nhau rơ rệt ?
Phật dạy: Địa thủy, hỏa, phong… đầy khắp
pháp giới mà tánh hư không, không bị choán mất tiêu vong, v́ vậy nên Như
Lai nói:
Tánh sắc chơn không.
Hư không có đủ tất cả tánh chất của địa, thủy, hỏa, phong… v́ vậy Như Lai
mới nói: Tánh không chơn sắc
(Chữ tánh phải được hiểu thể tánh của các tánh).
Thủy đại đầy khắp pháp giới mà không triệt
tiêu hỏa đại không ngập ch́m tất cả thế gian, v́ vậy Như Lai nói: Tánh thủy chơn không.
Pháp giới không đại, vốn không phải là thủy đại, vậy mà trong không đại
khắp đầy thủy đại, cho nên Phật dạy:
Tánh không chơn thủy.
Hỏa đại đầy khắp hư không mà không cháy
sơn hà thảo mộc vạn hữu thế gian. V́ vậy, Phật nói:
Tánh hỏa chơn không.
Hư không vốn không hỏa nhưng lúc chúng sanh cần th́ hỏa có trong hư không,
cho nên Phật dạy: Tánh không
chơn hỏa…, các đại c̣n lại
cũng suy nghĩ như vậy…
Tánh các đại vốn không ngăn ngại ǵ nhau,
người đệ tử Phật đọc đến đây có thể nhận thức rơ chơn lư:
Sắc bất dị không; không bất dị sắc. Sắc tức thị không; không tức thị
sắc rồi vậy.
Nguồn gốc duyên khởi của hiện tượng vật lư
chỉ là vấn đề tất nhiên: hiện tượng vạn hữu tồn tại khách quan theo quy
luật: “Thống nhất và đấu
tranh giữa các mặt đối lập".
Đồng chủng
tương ứng
Dị chủng tương xích
Đồng tánh tương cự
Dị tánh tương hấp
Đồng năng tương bội
Dị năng tương để
Do vậy trong Như Lai Tàng, chủng tử cơ bản
của vạn pháp có thể "liên tỏa" (kết hợp thành từng nhóm quyện chặt với
nhau) để thành một chỉnh thể hiện tượng vạn hữu. Ngược lại cũng có thể
phân giải hoàn toàn hoặc chuyển hóa dần dần từ lượng dẫn đến chuyển hóa
hoàn toàn về chất để rồi sự vật cũ mất đi, h́nh thành sự thật mới nối tiếp…
Luận nguồn gốc thế giới tương tục là chỉ
đề cập đơn thuần bên mặt vật lư. Nói đến chúng sanh tương tục phải đề cập
hai phần: vật lư và tâm lư tổ hợp mà h́nh thành. Cái động cơ thúc đẩy
khiến cho chúng sanh sanh tử tương tục là nghiệp. Nghiệp là hành động được
biểu hiện qua thân, miệng và ư thức, trong đó ư thức là then chốt. Do ư
nhận thức sai lầm về "Tánh
giác diệu minh" làm mê mờ
chơn lư vũ trụ quan; sai lầm về "Bản giác minh diệu" làm mê mờ chơn
lư nhân sanh quan. Vấn đề "Vọng
năng" "Vọng
sở” là vấn đề tối hệ trọng. Bởi
v́ con người vốn không phải là kẻ năng cầu, năng lễ và
năng nguyện, để được giáng phúc, ban ơn do đấng sở lễ, sở
cầu, sở nguyện nào đó. Nhưng khi đă bị vọng tưởng sai lầm biến con
người thành "Vọng năng" rồi th́ "Vọng sở"
đương nhiên chấp nhận có. Có năng sở tức là có chủ thể và
đối tượng. Thế rồi, ư trái sanh ghét, ư đồng sanh thương… Ḍng nước ân ái
yêu thương kết thành tập khí chủng tử. Hấp dẫn đồng nghiệp tác hợp với
phôi. Phôi lớn thành thai, rồi lục nhập, xúc, thọ, ái… theo thời gian mà
phát triển. Thai nhơn t́nh mà có. Noăn do tưởng mà sanh. Thấp nhờ hợp mà
cảm. Hóa bởi ly mà ứng. T́nh, tưởng, hợp, ly theo sức nghiệp mà lúc xuống
khi lên. Do vậy mà chúng sanh tương tục.
Về nghiệp quả tương tục, Phật chỉ rơ bởi
ba nguyên nhơn chánh:
Tưởng
và ái nặng, biểu hiện của con người nhiều dục và
nhiều tham.
Dục
và tham là một trong ba nguyên nhơn làm cho chúng sanh
gánh chịu nghiệp quả tương tục.
Tham
và ái nặng biểu hiện của con người nặng về tham và
nặng về sát. Chính sát và tham
là nguyên nhơn khiến cho chúng sanh gánh chịu nghiệp quả tương tục.
Thực
và ái
nặng, con người cướp sanh mạng của thú cầm, súc vật để ăn, biểu hiện con
người nặng về đạo,
nặng về tham.
Đạo
và tham
làm nhơn th́ con người phải gánh chịu sự vay trả trả vay tương tục.
*****Top
GIÁC KHÔNG SANH MÊ THẤT ĐẠI
DUNG
ĐƯỢC NHAU MÀ KHÔNG CÓ G̀ TRỞ NGẠI
GIÁC KHÔNG SANH MÊ
Băng 26
Ông Phú Lâu Na thưa: Bạch Thế Tôn ! Nếu
tánh giác vốn nhiệm mầu trong sáng cùng với tâm Như Lai không kém không
hơn. Thế mà vô cớ bỗng nhiên lại sanh núi sông đất liền các hiện tượng hữu
vi sanh diệt ! Vậy hiện nay Như Lai đă chứng nhập bản thể giác minh (tánh
giác diệu minh, bản giác diệu minh ấy), ví phỏng chừng nào Như Lai sanh
lại vọng tưởng phân biệt đối với các pháp hiện tượng hữu vi ? Và chừng nào
hoặc lậu của Như Lai sanh trở lại ?
Phật bảo: Phú Lâu Na ! Ví như có người do
mê mà lầm cho phương Nam là phương Bắc, cái mê như vậy, không nhân mê mà
có, v́ mê vốn không gốc rễ, không có h́nh dáng kích thước, cũng không phải
sắc màu; càng không phải nhân ngộ, v́ ngộ là tỉnh là sáng suốt, ngộ không
sanh mê. Người mê đang lúc mê bỗng có người ngộ giải thích chỉ bày cho
được ngộ; người mê hóa giải, dứt được cái mê th́ phương hướng Bắc Nam
không c̣n lầm lộn nữa. Mười phương Như Lai cũng vậy. Mê vốn không gốc rễ,
tánh của nó là không. Xưa vốn không có mê, tựa hồ như có mê, có giác. Giác
được mê th́ mê diệt; giác vốn không sanh mê. Lại cũng như người nhặm mắt,
thấy hoa đốm đầy nhẩy hư không. Nếu trị dứt bệnh nhặm mắt th́ hoa đốm
trong không tự hết. Nếu ai đó mong chờ cho hư không sanh hoa trở lại là kẻ
quá ngu si, với hạng người như vậy, không thể nói: Rằng họ là người ngu
hay trí !
Lại nữa ! Phú Lâu Na ! Ví như quặng vàng
lẫn lộn với vàng ṛng. Khi vàng đă nấu lọc tinh rồi th́ vàng không là
quặng nữa. Lại cũng như gỗ đă đốt thành tro; tro không thể hoàn nguyên
tánh gỗ được.
Phú Lâu Na ! Vấn đề Niết bàn của mười
phương Như Lai cũng như vậy. Như Lai không bao giờ sanh lại vọng tưởng
phân biệt để chấp mắc các hiện tượng hữu vi. Và cũng không có việc Như Lai
sanh lậu hoặc trở lại.
Phật bảo: Phú Lâu Na ! Ông c̣n nghi ngờ.
V́ sao thất đại: Địa, thủy, hỏa, phong, không, kiến, thức, lại có thể dung
nhau ? Trong thực tế ông thấy chúng thường tự xâm đoạt hủy diệt nhau ?
Phú Lâu Na ! Ví như hư không, thể của nó
vốn không phải h́nh tướng, nhưng nó không chống đối các tướng phát huy
trong nó. Phú Lâu Na ! Bầu hư không vô cực kia, hễ mặt trời soi th́ sáng,
mây ùn th́ tối, gió lay th́ động, trời tạnh th́ trong, hơi đọng th́ đục,
bụi nổi th́ mù, nước lặng th́ lóng lánh. Phú Lâu Na ! Ông hiểu thế nào ?
Các tướng hữu vi sai khác dường ấy. Vậy nó nhân những cái đă có kia mà tự
sanh hay nhân hư không mà có ? Phú Lâu Na ! Nếu bảo rằng do những cái kia
tự sanh, vậy khi mặt trời soi, mặt trời sáng th́ mười phương thế giới đều
thành sắc của mặt trời, làm sao giữa hư không lại c̣n thấy mặt trời tṛn ?
Nếu bảo rằng hư không sáng, th́ hư không tự soi lấy, cớ sao giữa lúc đêm
mây mù không có ánh sáng soi ? Vậy nên biết rằng: Cái sáng không phải mặt
trời, không phải hư không, nhưng cũng không ngoài hư không và mặt trời.
Phú Lâu Na ! Ông nên biết rằng: Đứng bên
hiện tượng mà nh́n th́ hiện tượng vốn vọng, cho nên không làm sao chỉ bày
chính xác và đích thực được. Nhưng đứng trên bản thể mà tư duy, ta sẽ thấy
bản thể là chơn: Tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu,
cho nên "địa" vốn không là "địa". "Không" vốn chẳng là "không". Thủy, hỏa,
phong… cũng vậy th́ làm chi có việc trở ngại không dung nhau được.
Trong bản tánh minh diệu của Như Lai Tàng,
ông cần phát minh hư không th́ có hư không hiện ra. Địa, thủy, hỏa, phong…
mỗi mỗi đều cần th́ mỗi mỗi hiện ra. Ví như một ḍng nước in bóng mặt
trăng. Hai người cùng trông thấy bóng mặt trăng in đáy nước. Rồi người đi
về Đông, người đi về Tây cả hai đều thấy có mặt trăng theo ḿnh, mà không
có chuẩn đích cho mặt trăng cố định. Trước sự kiện đó không nên gạn hỏi:
Mặt trăng là một, sao có thể đi theo hai hướng khác nhau ? Cũng không được
hỏi: Mặt trăng đă thành hai, sao trước kia hiện ra có một ?
Phú Lâu Na ! "Duyên sanh như huyễn" là vậy
đó. V́ vậy, mà Như Lai dạy: Tánh sắc chơn không. Và cũng v́
vậy, Như Lai nói: Tánh không chơn sắc… Không có pháp nào có
tự thể độc lập cố định của chính ḿnh !
TRỰC CHỈ
Tánh giác diệu minh
cho nên giác không sanh mê. Mê không gốc rễ, không h́nh dáng, không kích
thước, sắc màu. Rơ ràng mê không tự thể, lấy ǵ để gọi đó là mê. Huyền
Giác thiền sư nói: "thật tánh vô minh là Phật tánh". Hễ giác sanh th́ mê
diệt. Sự thật quá rơ ràng.
Băng 27
Người đệ tử Phật có tư duy tu tập sẽ thấy
rơ rằng Chơn tâm thường trú,
Thể tánh tịnh minh là cái
thường, cái thật, cái có sẵn của chính ḿnh. C̣n cái bất giác, cái mê, cái
tham, sân, si, mạn, hữu lậu nghiệp là những cái "vọng thành". Chúng là "khách"
là "trần" chúng đến rồi đi và có chỗ trả về cho "nguyên quán" của chúng.
Hỏi Như Lai chừng nào sanh bất giác vô
minh trở lại là câu hỏi của người đệ tử đối với giáo lư Phật, c̣n "chợt
tỉnh chợt mê": Chưa xác định được vấn đề
Tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu.
Chưa nhận rơ: vấn đề thể
tánh tịnh minh, cũng như không biết được Như Lai viên giác
diệu tâm là ǵ. Ở đoạn kinh này Phật dạy rất rơ rằng:
Người không nhặm mắt, trông lên hư không
thấy một màu thanh tịnh sáng trong. Chỉ v́ bệnh nhặm mắt mà người ta trông
hư không thấy toàn là hoa đốm. Hoa đốm ngập tràn là do bệnh nhặm mắt mà có
ra. Khi bệnh nhặm mắt hết rồi, hoa đốm không c̣n là vấn đề để người trí
bận tâm: Rằng có, rằng không, rằng chừng nào hoa đốm nở đầy hư không trở
lại !
Phật dạy: vấn đề các đại có thể dung nhau
là v́ tánh chất duyên sanh
của nó. Hiện tượng vạn pháp do nhơn duyên sanh, cho nên không pháp nào có
tự thể độc lập, cố định đích thực của riêng ḿnh. Như Lai đă khổ công dạy
bảo: Rằng
Tánh sắc chơn không tánh không chơn sắc…
Tánh thủy chơn không tánh không chơn thủy…
Tánh hỏa chơn không tánh không chơn hỏa…
Tánh phong chơn không tánh không chơn
phong…
Tất cả đều "thanh tịnh bản nhiên, chu biến
pháp giới, tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri lượng, tuần nghiệp phát hiện"…
Do vậy mà các đại dung nhau, không trở
ngại ǵ nhau, cũng là một sự thật ẩn hiện trước mắt mọi người !
*****Top
Băng 28
KHIỂN TRÁCH CHÚNG SANH
BỘI GIÁC
HIỆP TRẦN VÀ KHAI THỊ PHƯƠNG
PHÁP
BỘI TRẦN HIỆP GIÁC
BỘI GIÁC HIỆP TRẦN
Phật bảo: Phú Lâu Na ! Do nhận thức đánh
giá của ông về Sắc không của Như Lai Tàng th́ Như Lai Tàng
theo cái nhận thức của ông mà có Sắc không khắp cùng pháp
giới. Vậy nên ông thấy gió th́ động, hư không th́ tĩnh, mặt trời th́ sáng,
mây mù th́ tối. Ông và tất cả chúng sanh mê lầm, sống trái với giác tánh
ḿnh mà hiệp với trần tướng cho nên sanh khởi cái nhận thức trần lao. Do
đó có các tướng thế gian đối tượng.
BỘI TRẦN HIỆP GIÁC
Phú Lâu Na ! Như Lai sử dụng tánh
giác diệu minh không sai lầm nhận thức, không đánh giá điên đảo.
Như Lai Tàng là tánh giác diệu minh khắp trùm pháp giới. Vậy
nên đối với Như Lai: Một là tất cả, tất cả là một; trong nhỏ hiện lớn,
trong lớn hiện nhỏ, ngồi tại đạo tràng bất động mà như ở khắp mười phương;
một thân mà trùm cả hư không vô tận, đầu một mảy lông mà hiển hiện ra vô
vàn cơi Phật; ngồi trong vi trần bé bỏng mà vận chuyển đại pháp luân; diệt
hết nhận thức sai lầm trần tướng, sống hợp giác tánh, cho nên Như Lai nh́n
đâu cũng là tánh chơn như sáng suốt giác ngộ nhiệm mầu.
TRỰC CHỈ
Trái với giác tánh hợp với trần lao là tâm
trạng chung của tất cả mọi người thế gian chưa đủ điều kiện quay về đường
giải thoát giác ngộ. Người ta thường nhận thức, đánh giá và đặt tên cho sự
vật theo tri kiến chủ quan của ḿnh. Do vậy chủ thể và đối tượng hiển
nhiên. Năng và sở đối lập, nhơn, ngă, bỉ, thử bời bời rối rắm. Đó là hậu
quả của sự "bội giác hợp trần".
Phật vẫn là một con người, nhưng khác với
mọi người ở chỗ là không nhận thức đánh giá sai lầm sự vật hiện tượng theo
tri kiến đảo điên chủ quan. Mà Như Lai sống đúng, sống hợp với tánh giác
diệu minh của Như Lai Tàng và tánh duyên sanh "như vậy" của hiện tượng vạn
hữu.
Nhận thức hiện tượng vạn hữu qua "Tri
kiến Phật" th́ một là tất cả,
tất cả là một, ngồi trong vi trần bé xíu mà chuyển xe pháp vĩ đại bao la.
Ngôn ngữ đoạn kinh này, nếu y văn mà hiểu nghĩa th́ rơ là oan cho ba đời
chư Phật. Thâm nghĩa của đoạn kinh này, nhằm dạy cho đệ tử Phật về vấn đề
bản thể chung cùng của hiện tượng vạn hữu: Rằng ṿng, kiền, trâm, nhẫn,
nút áo, hoa tai, nếu nh́n h́nh dáng và tên gọi khác nhau, nhưng tất cả
cùng là vàng 24 cara. Lấy ra một điểm nhỏ trong những đồ trang sức đó, đem
thử lửa, người thợ kim hoàn đánh giá không sai tuổi của tất cả những món
đồ vàng c̣n lại. Với tri kiến như vậy, nên gọi Như Lai là bậc "bội trần
hợp giác".
*****Top
PHẬT
KHAI THỊ NHƯ LAI TÀNG RỜI
TẤT CẢ TƯỚNG, LÀ
TẤT CẢ PHÁP.
NHƯ LAI TÀNG RỜI TẤT CẢ
TƯỚNG
Như Lai tàng vốn là bản thể nhiệm mầu viên
măn. Tuy nhiên, nó không phải là tâm; không phải là không; không phải địa;
không phải thủy; không phải hỏa; không phải phong; nó không phải nhăn;
không phải nhĩ; không phải tỷ; không phải thiệt; không phải thân, không
phải ư; nó không phải là sắc, không phải thanh, không phải hương, không
phải vị; không phải xúc; không phải pháp; nó không phải nhăn thức giới cho
đến không phải ư thức giới, nó không phải minh; không phải vô minh, không
phải hết vô minh; cho đến không phải lăo tử; không phải hết lăo tử; nó
không phải khổ; không phải tập; không phải diệt, không phải đạo; nó không
phải trí cũng không phải đắc, nó không phải bố thí; không phải tŕ giới;
không phải nhẫn nhục; không phải tinh tấn, không phải thiền định; không
phải trí tuệ; nó không phải là Như Lai, là ứng cúng, chánh biến tri; nó
không phải Đại Niết Bàn; không phải thường, lạc, ngă, tịnh, v́ Như Lai
Tàng không phải là pháp thế gian, mà cũng không phải là pháp xuất thế gian.
NHƯ LAI TÀNG LÀ TẤT CẢ
PHÁP
Nhưng cái bản thể nhiệm mầu viên măn Như
Lai Tàng lại cũng tức là tâm, là không, là địa, là thủy, là hỏa, là phong;
cũng tức là nhăn, là nhĩ, là tỷ, là thiệt, là thân, là ư; cũng tức là sắc,
là thanh, là hương, là vị, là xúc, là pháp; cũng tức là nhăn thức giới cho
đến ư thức giới; cũng tức là minh, là vô minh, cho đến là lăo tử, là hết
lăo tử; cũng tức là khổ, là tập, là diệt, là đạo; cũng tức là trí, là đắc,
cũng tức là bố thí, là tŕ giới, là nhẫn nhục, là tinh tấn, là thiền định,
là trí tuệ; cho đến cũng tức là Như Lai, là ứng cúng, là chánh biến tri;
cũng tức là Đại Niết Bàn; là thường, là lạc, là ngă, là tịnh. V́ vậy, Như
Lai Tàng biểu hiện qua tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian.
DÙNG PHẬT NHĂN NH̀N HIỆN
TƯỢNG VẠN PHÁP,
KHÔNG CÓ VẤN ĐỀ
LÀ HAY
KHÔNG LÀ TRONG NHƯ LAI TÀNG BẢN THỂ CHƠN NHƯ MẦU
NHIỆM
Băng 29
Này Phú Lâu Na ! Như Lai Tàng vốn nhiệm
mầu trong sáng, vượt ngoài sự phê phán đánh giá "là" hay "không phải là".
Vậy nên, chúng sanh trong ba cơi và hàng Thanh Văn, Duyên Giác dùng cái
tri thức cạn cợt th́ làm sao mà đo lường Bồ Đề vô thượng của Như Lai; đem
ngôn ngữ hạn cuộc của thế gian mà diễn đạt cái tri kiến Phật thậm thâm sao
cho đến được ! Ví như các nhạc khí: Dương cầm, phong cầm, lục huyền cầm…
dù có âm thanh tuyệt diệu nhưng nếu không có bàn tay điêu luyện của nghệ
sĩ tài hoa th́ cũng không phát ra được những tiếng hay. Ông và chúng sanh
cũng vậy. Chơn tâm giác minh mọi người đều đầy đủ. Thế mà Như Lai ấn ngón
tay th́ rực rỡ hào quang, c̣n các ông vừa móng tâm th́ trần lao đă nổi dậy.
Đó là do các ông không siêng năng cầu vô thượng giác mà ham ưa pháp tiểu
thừa, được chút ít cho là đủ !
TRỰC CHỈ
Như Lai Tàng là bản thể chơn như của hiện
tượng vạn pháp. Chơn có nghĩa là không ǵ phá hoại được. Như có nghĩa là
không thể xây dựng thêm ǵ được nữa. Như Lai Tàng rời tất cả tướng thế
gian, nhưng không phải là ở cảnh giới xa xăm nào khác. Như Lai Tàng là tất
cả pháp, nhưng không phải ai cũng nhận biết rằng: Ḿnh đang sinh hoạt
trong Như Lai Tàng. Như Lai Tàng hiện hữu trong hiện tượng vạn pháp, biểu
hiện thông qua hiện tượng vạn pháp, thế mà chúng sanh suốt cả cuộc đời chỉ
biết có hiện tượng vạn pháp mà không hề nghĩ đến bản thể Như Lai tàng mầu
nhiệm. Như Lai Tàng là sức sống vô tác nhậm vận của con người, là sinh khí
hồn nhiên của hiện tượng vạn pháp, cho nên người ta xem thường xem rẻ nó.
Người ta xem thường xem rẻ nó cũng như người ta đă từng xem rẻ hơi thở của
lỗ mũi, của buồng hô hấp, của sự co bóp của nhịp tim họ, họ xem rẻ cái
thấy của mắt, họ xem rẻ thứ nước cam lồ trong miệng của họ. Có mấy ai quan
tâm xem trọng những thứ quư giá vô giá ấy đâu. Mà người ta rất quư giá
giấy bạc và những khâu vàng… Thế là người ta quí cái ngọn mà xem thường
cái gốc của sự sống của chính ḿnh !
Nhận thức vấn đề "Là"
hay "Không là"
chúng ta nên học theo cái tâm trạng của người trí ngắm biển trong một buổi
hoàng hôn trời đẹp. Người ta không băn khoăn thắc mắc rằng: Sóng
là
nước hay sóng không là nước. V́ người ta biết rằng: sóng
và nước không phải là một, nhưng cũng không được bảo đó là hai. Không phải
một v́ sóng là sóng; sóng không phải nước. Không được bảo hai, v́ sóng là
hiện tượng của nước, nước là bản thể của sóng. Múc lên một chén sóng, cũng
tức là múc được một chén nước rồi vậy.
*****Top
MÊ VỌNG KHÔNG CÓ NGUYÊN NHÂN
HẾT MÊ LÀ BỒ ĐỀ (Giác)
Ông Phú Lâu Na thưa: Bạch Thế Tôn ! Chơn
tâm thanh tịnh giác ngộ viên măn của tôi và của Như Lai không hai; vậy mà
tôi th́ bị vọng tưởng vô thỉ sai sử cho nên ở trong luân hồi lâu xa nhiều
kiếp; nay dù được thánh quả mà c̣n chưa rốt ráo. Thế Tôn th́ các vọng được
gạn lọc sạch trong, c̣n thuần một tâm tánh chơn thường mầu nhiệm. Tôi xin
hỏi Như Lai: Tất cả chúng sanh do nguyên nhân nào mà có vọng để rồi tự che
mất tâm tánh sáng suốt nhiệm mầu của ḿnh, phải chịu luân hồi trôi nổi khổ
đau ?
Phật bảo: Phú Lâu Na ! Ông dù trừ được tâm
nghi, nhưng tư tưởng mê lầm chưa hết. Ông há không nghe trong thành Thất
La Phiệt có chàng Diễn Nhă Đạt Đa vào một buổi sáng mai, đứng trước gương
soi mặt, bỗng dưng ham thích cái đầu trong gương, c̣n cái đầu của ḿnh tự
bấy lâu nay anh ta cho là đồ yêu quái, v́ anh chẳng thấy được mày, mắt,
mặt, mũi, đẹp đẽ như cái mặt trong gương. Rồi chàng ta kinh hăi phát điên
ôm đầu chạy hoảng.
Phú Lâu Na ! Ông nghĩ thế nào ! Diễn Nhă
Đạt Đa do nguyên nhân ǵ, bỗng dưng phát điên ôm đầu chạy hoảng ?
_ Bạch Thế Tôn ! Tâm người ấy điên chớ
không duyên cớ ǵ khác.
_ Phú Lâu Na ! Tánh giác th́ tṛn đầy sáng
suốt mầu nhiệm từ xa xưa nhẫn nay không lúc nào tạm vắng ở trong ông. C̣n
cái vọng ? Đă gọi là vọng th́ làm sao có nguyên nhân ! Nếu có nguyên nhân
th́ sao gọi là vọng được ? Vọng tưởng tự xoay vần làm nhân cho nhau, từ
cái mê này nảy thêm cái mê khác tích lũy qua số kiếp như vi trần cho nên
dù Phật chỉ rơ mà ông hăy c̣n chưa biết trở về. Cái nhân của mê do mê mà
tự có. Biết được cái mê không có nguyên nhân th́ cái vọng không có chỗ gá
sanh. Thế th́ cái sanh c̣n không có, c̣n đem cái ǵ để làm cái diệt ? Giả
sử có cái diệt th́ diệt để diệt cái ǵ ?
Phú Lâu Na ! Người được đạo bồ đề ví như
người tỉnh giấc, kể chuyện trong chiêm bao. Tâm ghi nhớ rơ ràng nhưng
không sao lấy vật trong chiêm bao ra được; huống chi cái mê vốn không,
không nhân, không ǵ cả th́ t́m sao cho nó có cội nguồn ? Như cái điên của
chàng Diễn Nhă đâu có nguyên nhân, tự sợ đầu ḿnh mà bỏ chạy. Khi hết điên
th́ cái đầu cũng vẫn là cái đầu của anh vốn có. Lúc điên loạn, cũng không
v́ vậy mà anh tạm mất cái đầu.
Phú Lâu Na ! Tánh của cái vọng là như vậy,
làm sao t́m có nguyên nhân ? Ông chỉ cần đi ngược ḍng tương tục của ba
thứ: Thế gian, nghiệp quả và chúng sanh, ba duyên đă chặt đứt th́ ba nhân
chẳng có cơ sở để sanh. Bấy giờ cái tánh điên cuồng Diễn Nhă Đạt Đa trong
tâm ông tự hết. Hết tức là Bồ Đề. Cái chơn tâm trong sáng khắp cùng pháp
giới xưa nay, không do ai cho mà tự được; chẳng cần tu chứng nhọc nhằn vất
vả lôi thôi ! Ví như người có hạt như ư châu trong vạt áo mà không biết
không hay, gần suốt cuộc đời tha phương cầu thực cùng khổ lang thang bỗng
có người thiện hữu phát hiện, chỉ hạt châu cho, bấy giờ người cùng khổ trở
thành giàu có nhất đời, ngồi gẫm lại nửa đời lưu lạc tự hận cho số kiếp
dại khờ: Th́ ra viên như ư châu không phải từ ngoài, ai đem đến !
TRỰC CHỈ
Băng 30
Thực quá rơ ràng, không c̣n dạy cách nào
rơ hơn nữa được:
Vọng không có nguyên nhân, v́ không nhân
nên mới gọi vọng. Vọng ở đây nhằm ám chỉ cho
mê,
tánh mê,
tánh bất giác,
tánh phiền năo đột xuất ở tâm tánh con người. Người đệ tử Phật có tư duy,
sẽ nhận thấy rơ về vấn đề mê
và giác ở chính bản tâm ḿnh:
Mê vọng thuộc khách trần; Giác minh ví như hư
không và chủ.
Biết được
mê
không có nguyên nhân th́ vọng không có chỗ gá sanh. Đă không có sanh
th́ khỏi đặt vấn đề diệt. Do vậy:
Khỏi cầu chân
Khỏi diệt vọng
Biết được:
"Vọng nguyên vô xứ tức Bồ Đề."
Vấn đề tu chứng Bồ đề, Như Lai đă từng nói:
Như Lai nào có chứng đắc ǵ đâu. Nằm ngủ trên giường mà rên siết khóc kêu
th́ người ta gọi đó là người đang cơn ác mộng. Lúc tỉnh dậy rồi chính ḿnh
nằm trên giường đó, có chăn ấm nệm êm, th́ ra không phải chiếc giường là
nguyên nhơn gây đau khổ. Giác sanh, mê diệt là vậy. Cũng như người ta tạo
hoàn cảnh vui đến th́ dữ kiện khổ tự nó mất đi.
Nghèo khổ là nghèo khổ, dù đang hồi nghèo
khổ mà như ư bảo châu vẫn y nhiên trong chéo áo của kẻ cơ hàn. Ngày phát
hiện như ư bảo châu, trở thành người cự phú th́ ra hạt châu vốn là hạt
châu trong chéo áo ḿnh đă sẵn có tự bấy lâu nay.
*****Top
LẠI RƠI VÀO NHẬN THỨC ĐỐI ĐĂI
CỦA THUYẾT NHƠN DUYÊN
VÀ TỰ NHIÊN
Bấy giờ ông A Nan đảnh lễ dưới chân Phật
mà bạch rằng:
Đức Thế Tôn nói về các nghiệp sát, đạo,
dâm và ba duyên đoạn rồi th́ ba nhân không sanh, tánh điên Diễn Nhă Đạt Đa
trong tâm tự hết. Hết tức bồ đề, không do ai đem đến.
Bạch Thế Tôn ! Như thế rơ là nhân duyên
rồi, tại sao Như Lai bác bỏ nghĩa nhân duyên ? Chẳng riêng ǵ tôi mà một
số Thanh Văn trong hội này: Như ông Đại Mục Kiền Liên, ông Xá Lợi Phất,
ông Tu Bồ Đề v.v… đều do nghe lư nhân duyên của Phật mà phát tâm mà tỏ ngộ,
được thành quả vô lậu.
Nay Phật dạy Bồ đề không do nhân duyên;
vậy th́ các thuyết tự nhiên của bọn ngoại đạo Câu Xa Ly, thành Vương Xá
lại là đệ nhất nghĩa rồi sao ? Xin Phật rũ ḷng đại bi chỉ giáo cho kẻ
chưa hết mê mờ !
Phật bảo: A Nan
! Theo ư ông th́ chàng Diễn Nhă Đạt Đa kia, nếu diệt trừ hết "nhân duyên
điên" th́ tánh "tự nhiên không điên" hiện ra. Lư nhân duyên tự nhiên theo
hiểu biết của ông, luận đến cùng là như vậy ?
Này ! A Nan ! Cái đầu chàng Diễn Nhă Đạt
Đa vốn là "tự nhiên". Nếu nó đă "tự nhiên", vậy do "nhân duyên" ǵ mà sợ
cái đầu phát điên ôm chạy ? Đầu vốn "tự nhiên" v́ "nhân duyên" ǵ mà điên
? Tại sao không v́ "nhân duyên" ǵ mất đi để khỏi điên ?
Cái đầu không mất, cũng chẳng thay đổi
chút nào. C̣n cái điên sợ là do mê vọng mà có, không bởi, cũng chẳng tại "nhân
duyên" mà có ra. Nếu tánh điên vốn là "tự nhiên", tự nhiên sẵn có tánh
hoảng sợ, vậy lúc chưa điên, cái điên ẩn trú chỗ nào ? Tánh hoảng sợ nương
náu nơi đâu ? Nếu tánh không điên là tự nhiên th́ trong đầu chẳng có việc
ǵ, cớ sao lại phát điên ôm đầu chạy ?
Nếu hiểu kỹ rằng: Cái đầu là đầu của ḿnh
sẵn có rồi. Biết chắc rằng: v́ điên mà ôm đầu chạy hoảng th́ cái thuyết "nhân
duyên" "tự nhiên" đều là hư luận. Thế nên Như Lai nói: Ba duyên đoạn rồi
là Bồ Đề tự hiện. Nếu bảo rằng: Đoạn ba duyên rồi th́ bồ đề tâm sanh, v́
tâm sanh diệt đă diệt th́ đó cũng chỉ là "sanh", "diệt" trong ṿng đối đăi.
Diệt và sanh đều xóa hết, mới đến chỗ "vô công dụng" (địa vị kiến đạo, tức
quả sơ địa).
A Nan ! Bồ đề Niết bàn c̣n xa, nếu ông
không siêng năng tu tập, dù ông có nhớ diệu nghĩa 12 bộ kinh của thập
phương Như Lai cũng chỉ thêm nhiều hư luận; dù ông có huân tập đa văn, ông
cũng không tự hóa giải nạn Ma Đăng Già; dù nhiều kiếp nhớ ghi diệu pháp
của Phật, cũng không bằng một ngày chuyên tu vô lậu nghiệp: Xa ĺa hai khổ
thương ghét thế gian. Ma Đăng Già trước kia là dâm nữ, do được nghe Thủ
Lăng Nghêm mà diệt được ḷng ưa muốn. Nay trong Phật pháp nàng có tên Tánh
tỳ kheo ni. Cũng như Da Du Đà La, nàng tỏ ngộ cái nhân ở nhiều đời trước,
biết rơ tham ái là khổ, cả hai cùng chuyên tâm tu tập vô lậu thiện, cho
nên người th́ ra khỏi buộc ràng, kẻ được Phật thọ kư. C̣n ông ! Sao ông tự
khinh ḿnh, để mắc mứu măi trong ṿng nghe thấy.
TRỰC CHỈ
Như chúng ta đă biết, tất cả hiện tượng
vạn hữu không có một sự vật nào
tự nhiên
mà có. Đơn vị của sa mạc là hạt cát tí ti; đơn vị của núi cao là ḥn đá
nho nhỏ; đơn vị của biển cả là sông, ng̣i, khe, lạch cho đến những giọt
sương chiều. Cho nên không thể "tự nhiên" mà có ṭa cao ốc sừng sững hiên
ngang trong đô thị.
Không phải
Tự nhiên
th́ ông A Nan phải xoay sở phía
nhân duyên vậy. Nhưng khổ thay ! Ông A Nan chưa hiểu
Bản thể chơn như
của hiện tượng vạn pháp !
"Tất cả các pháp này, từ xưa nhẫn nay, rời
ngôn thuyết, rời văn tự, rốt ráo b́nh đẳng, thể của nó là
Tâm.
Tâm
là Bản thể chơn như vậy".
Do vậy, đem ngôn ngữ luận đàm, đem văn tự
miêu tả rằng nhơn
duyên rằng tự nhiên… th́ làm sao khỏi bị Phật quở
là hư luận.
Làm sao t́m được đầu mối nguyên thỉ của sự
vật để gọi là Nhân ?
Nhân đă không t́m được th́
Duyên chỉ là cái nhân phụ, đem dùng vào việc ǵ ? Phật ví dụ
điển h́nh về cái điên của anh chàng Diễn Nhă Đạt Đa" để cho người đệ tử
Phật suy nghĩ kỹ về cái "Tự nhiên" và "Nhân duyên"
cụ thể. Nếu đă là tự nhiên không điên th́ Nhân
duyên ǵ phát điên ôm đầu chạy hoảng ?
Thế nên biết rằng:
Tự nhiên
đă sai lầm, Nhân duyên
cũng chỉ là hư luận mà thôi.
Sự thật của hiện tượng vạn pháp, phát
nguyên từ bản thể chơn như mầu nhiệm. Nó ly tất cả ngôn ngữ văn tự.
*****Top
Băng 31
PHẬT CHỈ HAI NGHĨA QUYẾT
ĐỊNH
ÔNG
A NAN TRẦN THUẬT CHỖ THÂM NGỘ
VÀ THỈNH VẤN PHÁP TU GIẢI THOÁT
Ông A Nan và đại chúng nghe Phật dạy,
những mối nghi hoặc được trừ, tâm ngộ thật tướng, thân ư khinh an được cái
vui chưa từng có. Người người cảm kích sung sướng đến rơi nước mắt.
Bấy giờ ông A Nan đứng dậy đảnh lễ dưới
chân Phật thưa: Bạch Thế Tôn ! Đức đại bi vô thượng thanh tịnh bảo vương,
khéo dùng phương tiện: Nhơn duyên, thí dụ, lời lẽ mở mang tâm trí, hướng
dẫn chúng tôi ra khỏi biển khổ tối tăm. Bạch Thế Tôn ! Nay tôi dù được
nghe pháp âm như vậy, tôi nhận biết Như Lai Tàng bản thể, là chơn tâm vốn
giác ngộ sáng suốt nhiệm mầu, nó trùm chứa tất cả cơi nước thanh tịnh bảo
nghiêm của mười phương chư Phật. Dù vậy, tâm trạng tôi vẫn c̣n là tâm
trạng của kẻ lữ hành phiêu bạt, bỗng gặp thiên vương cho ngôi nhà tráng lệ
nguy nga, tuy được nhà lớn, song điều cốt yếu là phải biết cửa để vào. Cúi
xin Như Lai đem ḷng đại bi vô hạn chỉ dạy cho những kẻ tối tăm trong hội
này rời bỏ Tiểu thừa, được vô dư Niết Bàn Như Lai vô thượng, và cũng khiến
cho hàng hữu học biết cách uốn dẹp tâm vương víu lâu đời dễ được pháp tổng
tŕ, chứng nhập tri kiến Phật.
Ông A Nan thưa thỉnh rồi lễ Phật, cùng đại
chúng chăm ḷng chờ nghe Phật dạy.
Đức Thế Tôn thương xót đại chúng, ôn tồn
khuyên bảo: Nếu các ông quyết định phát tâm Bồ Đề đối với pháp Tam ma đề (Thủ
Lăng Nghiêm đại định) không sanh tâm mỏi mệt th́ trước hết hăy nhận thức
rơ ràng về hai nghĩa quyết định sau đây:
NGHĨA QUYẾT ĐỊNH THỨ NHẤT
PHẬT DẠY RƠ VỀ SỰ TÁC DỤNG
CỦA SẮC TÂM VÔ THỈ
Băng 32
A Nan ! Nếu các ông muốn rời bỏ Tiểu thừa
thẳng vào tri kiến Phật, nên xét kỹ nguyên nhơn phát tâm và
quả sở chứng mà các ông mong đạt đến. Nếu đem tâm sanh diệt, tham cầu
phước báo… mà mong được quả Vô thượng Bồ Đề th́ không thể có.
Ông hăy tư duy quán xét thân ông ! Chất
cứng là địa, tánh ướt là thủy; hơi ấm là hỏa; khí động là phong, gọi chung
đó là tứ đại. Do tứ đại kết tụ thành thân ông. Rồi cái thể tánh giác minh
nhiệm mầu cố hữu nó tác dụng vào. Từ đó, thể tánh giác minh bị phân hóa
thành ra cái thấy, cái nghe, cái ngửi, nếm, xúc, và cái biết. Và cũng từ
đó, con người và môi trường sống của con người trở thành năm lớp ô trược.
A Nan ! Ví như nước trong vốn là thanh
khiết bản nhiên; c̣n bụi, đất, than, tro là những thứ chướng ngại cho
những ǵ trong sáng và thanh khiết ấy. Bỗng dưng có người lấy bụi đất,
than, tro làm rơi vào cốc nước sạch th́ nước sạch hóa ra vẩn đục. Sự vẩn
đục đó gọi là ô trược. Năm lớp ô trược của ông th́ cũng như vậy.
KHAI THỊ VỀ NĂM THỨ Ô TRƯỢC
A Nan ! Như ông thấy đó. Hư không (không
đại) khắp cùng mười phương thế giới - Cái không và tánh thấy (kiến đại)
không thể tách rời. Cái không, không thực thể, tánh thấy, không có giác
tri. Hai thứ tác dụng vào nhau vọng thành lớp thứ nhất gọi là Kiến
trược.
Thân ông kết tụ tứ đại làm tự thể. Chính
tự thể của ông làm trở ngại, hạn chế cái tánh thấy, nghe, hiểu biết; khiến
cho tánh thấy, nghe, hiểu biết tác dụng vào tứ đại của thân ông, vọng
thành lớp thứ hai gọi là Kiếp trược.
Tâm ông có công dụng nhớ nghĩ suy tư thuộc
về phần tri kiến. Tri kiến được biểu hiện qua lục trần, rời trần không có
tướng, rời tri giác không có tánh. Tri giác và lục trần tác dụng vào nhau,
vọng thành lớp thứ ba gọi là Phiền năo trược.
Thân tâm ông th́ ngày đêm sanh diệt không
ngừng. Cái tri kiến th́ muốn lưu măi ở thế gian, nhưng sức nghiệp của ông
th́ vọng động đổi dời từ quốc độ này sang thế giới khác. Hai sự kiện mâu
thuẫn nhau nhưng lại tác dụng vào nhau vọng thành lớp thứ tư gọi là
Chúng sanh trược.
Lại này ! A Nan
! Tánh thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc và biết vốn không sai khác. Do lục trần
cản trở vô cớ lại sanh khác nhau. V́ vậy trong thể th́ đồng mà dụng lại
khác. Đồng và khác mất chuẩn đích. Hai sự kiện tác dụng vào nhau vọng
thành lớp thứ năm gọi là Mệnh trược.
DỰA VÀO NHƠN TU
MÀ SUY BIẾT
QUẢ SỞ CHỨNG
Băng 33
A Nan ! Nay ông muốn cho tánh
thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết của ông hợp với bốn đức: thường, lạc, ngă,
tịnh của Như Lai th́ trước hết phải lựa bỏ những ǵ là gốc rễ sanh tử để
tùy thuận tánh sáng suốt tràn đầy không sanh không diệt và chuyển hóa
những tánh hư vọng sanh diệt trở về bản giác tịnh minh. Dựa trên bản giác
tịnh minh làm nhơn địa tu hành th́ quả địa chứng đắc mới viên măn vô
thượng. Ví như việc làm của người lắng nước. Nước đục đựng trong lu hồ, để
yên và yên măi không chao động, cát tro bụi đất ch́m lắng xuống th́ nước
trong hiện ra. Đây là giai đoạn uốn dẹp khách trần phiền năo cũa hành giả
cũng y như vậy. Sau đó, gạn bỏ sạch, hết cặn cáu tro bụi… chỉ c̣n thuần
nước trong. Bấy giờ mới gọi là người dứt hẳn căn bản vô minh. Chỉ c̣n
tướng sáng suốt thuần tịnh th́ những biểu hiện của ba nghiệp không c̣n là
bất thiện nữa. Bấy giờ nhứt cử, nhứt động hợp với các đức tánh nhiệm mầu:
thường, lạc, ngă, tịnh của Niết bàn Phật.
TRỰC CHỈ
Ngộ, không mê đă là khó. Giải ngộ là một
bước tiến khó hơn. Thâm ngộ, cần có quá tŕnh tư duy sâu sắc. Cho đến khi
nào chứng ngộ mới đạt mục đích của người tầm tu giải thoát. Ông A Nan nghe
pháp đến đây đă thâm ngộ. Ông nhận rơ Như Lai Tàng bản thể trùm chứa hết
cơi nước chư Phật mười phương; Như Lai Tàng tự nó không có vô minh; nó là
cái toàn thể trong sáng bản nhiên thanh tịnh. Dù vậy, ông c̣n là kẻ được
nhà đẹp mà chưa biết cửa để vào. V́ ông chưa là người chủ, đích thực sử
dụng ngôi nhà. Điều đó, nói lên: Ông chưa là người
Chứng ngộ:
Chơn tâm minh diệu bản thể Như Lai Tàng.
Trong nghĩa quyết định thứ nhất, Phật dạy
rơ về sự tác dụng của sắc tâm vô thỉ; khai thị về năm thứ ô trược (ngũ
trược) chỉ dạy về cách t́m hiểu quả vị chứng đắc ở tương lai.
Vấn đề sắc tâm vô thỉ tác dụng lẫn nhau,
nh́n cách nào đó th́ nó là trừu tượng. Nhưng vận dụng cái nhăn quan vật lư
mà nh́n th́ người ta nhận thức nó là cụ thể. Địa, thủy, hỏa, phong; không,
ngũ đại là vật lư; kiến đại và thức đại là hai hiện tượng mà không h́nh
tượng ở trong bản thể Như Lai Tàng. Chúng tác dụng lẫn nhau như ánh sáng
mặt trời tác dụng vào cỏ cây để rồi sanh ra chất xanh, hồng, vàng, tím…
nuôi dưỡng cỏ cây hoa trái…
Tuy nhiên sự tác dụng của tâm lư và vật lư
có khác với vạn vật vô t́nh trên. Tâm lư có tánh tri giác cho nên con
người có thể sanh bất giác. Hiện tượng bất giác ở đoạn kinh này, Phật gọi
đó là Ngũ trược
(năm thứ vẩn đục).
Người đệ tử Phật, phát tâm tu hành th́ ai
cũng hy vọng ngày công viên quả măn. Nhưng hy vọng mà không được cầu khấn
van xin. Hăy dựa vào sự phát tâm và nhơn tu của ḿnh và đoán biết cái quả
sở chứng của ḿnh. Tu nhơn hữu lậu, phát xuất từ ư chí hẹp ḥi tiêu cực
th́ không thể thành quả Vô thượng Như Lai. Dựa trên
Thể tánh tịnh minh
mà tu: sống đúng, sống hợp th́ không hy vọng, khỏi cầu xin mà Vô thượng Bồ
Đề tự hiện. Như nước trong, trăng hiện, người đào ao khỏi lăng phí hơi sức
van vái "ông trăng"!
*****Top
NGHĨA QUYẾT ĐỊNH THỨ HAI
TRẮC NGHIỆM SỰ ĐIÊN ĐẢO Ở CĂN HAY
Ở TRẦN ĐỂ T̀M MỐI MANH MỞ GÚT
Băng 34
A Nan ! Ông quyết phát tâm Bồ Đề th́ đối
với Bồ Tát thừa hăy sanh tâm đại dũng mănh. Ông hăy xét rơ cội rễ phiền
năo biểu hiện qua ba nghiệp của ông. Phiền năo đó ở đâu đến ? Ai làm ? Và
ai chịu ?
A Nan ! Người tu đạo Bồ Đề, nếu không quán
xét cội rễ phiền năo th́ không biết căn, trần hư vọng điên đảo ở chỗ nào;
chỗ c̣n không biết th́ làm sao chế phục để chứng đắc quả vị Như Lai !
A Nan ! Ông hăy xem, thường thế gian mở
gút, nếu không biết chỗ thắt th́ làm sao mở được ? Mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân và tâm ư của ông tự làm mai mối cho giặc, cướp hết của báu trong nhà
ông. Cũng v́ vậy mà thế giới chúng sanh từ vô thỉ, tự ràng buộc lấy ḿnh,
cho nên cái tri kiến của ông không ra ngoài sự vật thế gian.
CĂN
CẢNH LÀ NGUỒN GỐC CỦA SỰ BUỘC
RÀNG - THÁO GỠ BUỘC RÀNG HĂY T̀M MỘT
CĂN
THÙ THẮNG NHẤT
A Nan ! "Thế" có nghĩa là thời gian, là
quá tŕnh sanh diệt diệt sanh của hiện tượng vạn hữu. "Giới" là không gian,
biểu hiện qua mặt bằng rộng hẹp, kích thước ngắn dài, qui mô cao thấp và
phương hướng tả hữu, trước sau. Phương hướng mà người thế gian nhận rơ là:
Đông, tây, nam, bắc bốn phương. Thời gian có ba là: Quá khứ, hiện tại và
vị lai. Lấy không gian và thời gian nhân cho nhau: Bốn nhân ba, hay ba
nhân bốn thành con số 12. Nhân lên ba lần th́ có con số 1.200 để chỉ cho
công đức của sáu căn con người tương quan trong thế giới. Tuy nhiên xét
chỗ hơn kém th́ công đức của sáu căn không nhất thiết đồng nhau.
Xét về nhăn căn th́ mắt chỉ thấy phía
trước và một phần của hai bên. Cho nên luận về mắt chỉ được 800 công đức.
Xét về nhĩ căn, lỗ tai có ba đức ưu việt.
Viên, Thông và Thường. Luận về nhĩ căn th́ có 1200 công đức.
Xét về tỷ căn, lỗ mũi tương tục chỉ có "hai
th́": Thở ra và hít vào. Điểm giao tiếp giữa "hai th́" gián đoạn. Luận về
tỷ căn có được 800 công đức.
Xét về thiệt căn, th́ lưỡi có thể phô diễn
cùng tột trí thế gian và xuất gian. Ngữ ngôn tuy hữu hạn mà diệu lư diễn
đạt vô cùng. Luận về thiệt căn th́ có được 1200 công đức.
Xét về thân căn, thân th́ biết xúc. Có thể
xúc thuận xúc nghịch, nhưng khi hợp th́ biết, lúc ly th́ không. Luận về
thân căn chỉ có 800 công đức.
Xét về ư căn, ư căn thầm lặng mà dung nạp
tất cả pháp thế và xuất thế gian mười phương ba đời, thánh phàm không pháp
nào không bao dung cùng tột. Luận về ư căn có đủ 1200 công đức.
A Nan ! Ông muốn ngược ḍng sanh tử hăy
xét sáu căn ông hiện thọ dụng. Cái nào hợp, cái nào ly, căn nào sâu, căn
nào cạn, căn nào viên thông, căn nào không viên thông. Nếu khai ngộ được
một căn viên thông th́ đảo ngược tất cả ḍng nghiệp vô thỉ. Đối với hiệu
quả tu hành, bấy giờ một ngày bằng một kiếp.
Tôi đă chỉ rơ cho ông: Sáu căn, căn nào
cũng trong sáng và đều có số lượng công năng. Tùy ông chọn lựa. Thích hợp
căn nào tôi sẽ hướng dẫn cho ông để ngày thêm tăng tiến.
Băng 35
Mười phương Như Lai, căn, trần, thức, 18
giới đều là công cụ để viên măn Vô thượng Bồ Đề. Căn cơ trí tuệ c̣n non
nớt, ông cần đi sâu tu tập một căn. Một căn thanh tịnh th́ sáu căn đồng
thời được tháo mở hoàn toàn thanh thoát.
*
SẮC, KHÔNG TÁC DỤNG
LẪN NHAU,
PHẢN ÁNH RA CĂN TRẦN THÀNH NĂNG SỞ
Bạch Thế Tôn ! Ông A Nan thưa. V́ sao đi
sâu vào một căn lại có thể khiến cho sáu căn đồng thời thanh tịnh ?
Phật bảo: A Nan
! Ông được quả Tu Đà Hoàn, song tập khí vô thỉ c̣n thiếu, chưa thể một lúc
tháo gỡ những lớp vô minh: sanh, trụ, dị, diệt.
Ông hăy xét kỹ, sáu căn hiện tiền là một
hay là sáu ? Nếu bảo là một th́ lỗ tai sao không thấy; con mắt sao không
nghe; đầu sao không đi; chân sao không nói ? C̣n nếu quyết định cho là sáu
th́ hiện tôi đang dạy cho ông pháp môn tu hành, vậy trong sáu căn của ông,
căn nào tiếp thu, căn nào lănh thọ ?
Ông A Nan thưa: Tôi dùng lỗ tai nghe lời
Phật dạy.
Phật bảo: Ông dùng lỗ tai nghe, vậy th́ lỗ
tai ông tự nghe nào dính dáng ǵ đến thân với miệng mà miệng ông th́ hỏi
nghĩa lư, thân ông đứng dậy tỏ vẻ kính vâng ? Lấy đó mà suy th́ căn không
phải một cũng không phải sáu. Mà cũng một cũng sáu. Tại v́ sự chấp mê đảo
điên vô thỉ cho nên cái thể viên minh kia lại sanh ra một, sanh ra sáu. Ví
như hư không tham hợp với các vật. Lu, b́nh, lọ, cốc, do h́nh trạng đồ vật
khác nhau mà hư không thành ra sai khác. Trừ bỏ đồ vật ấy đi th́ người ta
gọi hư không là một. Sự thật, hư không kia không v́ ông mà thành đồng hay
khác; huống nữa lại gọi là một hay không phải một !
Sáu căn hay biết của ông cũng vậy.
Do hai thứ sáng và tối hiển bày lẫn nhau,
cái tánh giác nhiệm mầu tác dụng vào bản thể trạm nhiên, phát ra cái gọi
là thấy. Cái thấy phản ánh ra gọi là sắc. Cơ quan tiếp thu sắc được gọi là
nhăn căn. Nhăn căn do tứ đại thanh tịnh hợp thành, h́nh dáng trông như
trái nho.
Do hai thứ động và tĩnh đối chọi nhau,
tánh giác nhiệm mầu tác dụng vào bản thể trạm nhiên phát ra cái gọi là
nghe. Cái nghe phản ánh ra gọi là tiếng (thanh trần). Cơ quan tiếp thu
tiếng được gọi là nhĩ căn. Nhĩ căn do tứ đại thanh tịnh hợp thành, h́nh
dáng trông như cái lá sen non.
Do hai thứ thông và bít phát hiện lẫn nhau,
tánh giác nhiệm mầu tác dụng vào bản thể trạm nhiên, phát ra cái gọi là
ngửi. Cái ngửi phản ánh ra gọi là hương. Cơ quan thu nạp hương được gọi là
tỷ căn. Tỷ căn do tứ đại thanh tịnh hợp thành h́nh dáng trông như hai ngón
tay duỗi xuống.
Do hai thứ lạt và vị xâm lấn lẫn nhau,
tánh giác nhiệm mầu tác dụng vào bản thể trạm nhiên phát ra cái gọi là nếm.
Cái nếm phản ánh ra gọi là vị. Cơ quan nhận thức vị được gọi là thiệt căn.
Thiệt căn do tứ đại thanh tịnh hợp thành h́nh dáng trông như nửa vành
trăng.
Do hai thứ hợp và ly cọ xát nhau, tánh
giác nhiệm mầu tác dụng vào bản thể trạm nhiên phát ra cái gọi là biết.
Cái biết phản ánh ra gọi là xúc. Cơ quan nhận biết xúc được gọi là thân
căn. Thân căn do tứ đại thanh tịnh hợp thành, h́nh thể trông như cái trống
cơm.
Do hai thứ sanh và diệt tiếp nối nhau,
tánh giác nhiệm mầu tác dụng với bản thể trạm nhiên phát ra cái gọi là
biết. Cái biết phản ánh ra gọi là pháp. Cơ quan tiếp thụ pháp được gọi là
ư căn. Ư căn vốn là tứ đại thanh tịnh, biểu hiện qua khái niệm và tư duy,
tựa hồ như chất đậu hủ non (bộ óc).
*****Top
Băng 36
VỌNG NĂNG SANH SỞ LÀM HẠN CHẾ TÁNH
GIÁC MINH. LỤC CĂN TOÀN KHUYẾT
TRI
KIẾN VẪN KHÔNG THÊM BỚT
A Nan ! Sáu căn của ông bị hạn
chế là bởi "tánh giác minh" bị trở thành "minh giác". Do vậy, tánh giác
minh mất phẩm chất trong sáng bản nhiên, tác dụng với các vọng mà phát ra
hay biết. Hiện nay ông rời tối rời sáng th́ không có cái thấy. Rời động và
rời tĩnh th́ không có tánh nghe. Rời thông và bít th́ không có tánh ngửi.
Không vị không nhạt th́ không có cái nếm. Không hợp không ly th́ không có
tánh xúc. Không diệt không sanh th́ cái nhận thức không có điều kiện sanh.
Động, tĩnh, hợp, ly, nhạt, vị, thông, bít,
sanh, diệt, tối, sáng, đó là 12 tướng hữu vi. Ông đừng chạy theo sự chi
phối cuốn lôi của chúng. Tùy nghị lực của ông, nhận xét t́m ưu thế của một
căn, chặt nhổ gốc rễ vô minh phiền năo, xoay tánh giác minh trở về vị trí
bản nguyên minh diệu của nó. Phát huy thế mạnh trừ khử mê mờ, làm chủ được
một căn th́ năm căn c̣n lại sẽ được thanh tịnh giải thoát hết.
Đến lúc không cần có tiền trần mà tri kiến
vẫn phát khởi, bấy giờ tri kiến giác minh không lệ thuộc nơi căn, chỉ gá
vào căn mà phát ra nhận thức trong sáng. Do đó sáu căn bấy giờ có thể dùng
thay lẫn nhau mà không có ǵ trở ngại.
A Nan ! Ông có biết chăng ! Trong hội này
ông A Na Luật Đà không có mắt mà vẫn thấy. Thần nữ Căn Già không có mũi mà
nhận biết hương. Ông Kiều Phạm Ba Đề lưỡi dị tướng (lưỡi trâu) mà biết vị.
A Nan ! Nếu các căn của ông đều được giải
thoát th́ tánh giác minh tự phát ra. Chừng đó, phù trần căn và hiện tượng
vạn hữu thế gian đối với ông cũng như băng giá gặp nước sôi. Sự nhận thức
của ông bấy giờ trở thành Vô thượng Chánh Biến Tri Giác.
TRỰC CHỈ
Lời dạy của Phật có ư nghĩa trọng đại
trong nghĩa quyết định thứ hai là: nên xét rơ nguyên nhân của phiền năo từ
đâu đến ? ai làm ? và ai chịu ?
Phật dạy, khi quán chiếu kỹ càng th́ hành
giả sẽ thấy được sự điên đảo hư vọng của căn và trần. Mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân và ư không khéo chúng sẽ là kẻ trung gian môi giới cho giặc cướp vào
nhà tước đoạt hết gia bảo công đức của chúng ta. Người không phát tâm tu
thiện nghiệp, không để tâm quán chiếu tư duy th́ mỗi căn như một cái gút.
Phiền năo vô minh ngày ngày cứ cột thắt măi vào. Càng thắt cái gút càng to
thêm. Tâm trí dày ṿ đau khổ ngày thêm chồng chất. Muốn mở gút hăy t́m gút
lỏng mà mở trước nó đi. Mở được một gút th́ những gút c̣n lại sẽ được giải
thoát hết. Sáu căn của con người chính là sáu cái gút. Con người thường
cột thắt măi cho nên cuộc sống nhiều phiền năo khổ đau. Đừng thắt gút tức
là không có ai cột th́ c̣n ai là người chịu trói ?
Sáu căn của con người vốn chẳng có tội mà
c̣n có thể làm nên nhiều công đức thiện. Thiện hay ác không phải lỗi ở sáu
căn. Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật, kẻ xuất ly tam giới, người được
quả Vô thượng Bồ Đề sáu căn của các Ngài vẫn c̣n nguyên đó !
Vấn đề hơn kém bởi ở chỗ:
_ "Tri kiến lập tri" là nguyên nhân của
vô minh vô thỉ. C̣n "tri kiến vô kiến" là gốc rễ của Niết bàn Bồ Đề Vô
Thượng.
Con người với không gian: đông, tây, nam,
bắc, với thời gian: quá khứ, hiện tại, vị lai, gắn bó mật thiết với nhau.
Sự tác động qua lại của không gian và thời gian lại tương quan mật thiết
với ba thứ thế gian là: ngũ ấm thế gian, khí thế gian và chánh giác thế
gian. Do vậy, lấy 4 x 3 = 12 x 10 = 120 x 10 = 1200. Con số 1200 qua ba
lần nhân, đó là con số biểu trưng 1200 công năng của mỗi căn có thể có.
Tuy nhiên, nhận xét tinh tường, trong đó có những căn ưu mà cũng có những
căn khiếm khuyết. V́ vậy, người đệ tử Phật tu tập diệt trừ phiền năo, nên
chọn căn ưu việt mà chinh phục vô minh th́ sự thành công chóng hơn những
căn kém yếu.
Ông A Nan c̣n thắc mắc v́ sao tháo gỡ một
căn th́ sáu căn đồng thời thanh tịnh, Phật dạy: Sáu căn vốn không phải sáu
mà nói sáu vậy thôi. Lẽ ra phải nói là một; nhưng một không phải một, nên
Như Lai tùy thuận chúng sanh mà nói sáu. Bởi lẽ giản dị là: nếu sáu là sáu
sao mắt thấy cốc sữa ngon, tay bưng đưa vào miệng uống ? Nếu là một sao
tai nghe nhạc, thân máy động, chân nhảy nhót, miệng ơ ớ hát theo ?
Vấn đề căn trần cũng chỉ là hiện tượng
nhân duyên sắc không tác dụng vào nhau mà h́nh thành. Tất cả đều:
nhơn như thị, duyên như thị,
quả như thị, báo như thị và pháp nhĩ như thị,
đừng hỏi tại sao !
Băng 37
Khi nào con người làm chủ được sáu căn th́
hiện tượng vạn hữu trong thế gian này vẫn c̣n y nhiên đó, nhưng đối với ta
như đă tiêu tán hết tự bao giờ !
Người được quả Vô thượng Bồ đề chỉ là
người giác ngộ chân lư trọn vẹn, là người có cái nh́n hiện tượng vạn pháp
bằng Tri kiến vô kiến
vậy thôi !
*****Top
PHẬT BẢO ĐÁNH CHUÔNG
ĐỂ NGHIỆM
XÉT TÁNH NGHE CỦA NHĨ CĂN LÀ
THƯỜNG TRÚ
ÔNG
A NAN NGHI NGỜ:
KIẾN VĂN GIÁC TRI KHÔNG CÓ TỰ THỂ
Bạch Thế Tôn ! Ông A Nan thưa. Theo lời
Thế Tôn dạy về quả sở chứng có những bảy thứ tên gọi: Chơn như, Bồ đề,
Niết bàn, Phật tánh, Am ma la thức, Không Như Lai Tàng, Đại viên cảnh trí,
dù tên gọi khác nhau nhưng thể tánh đều thanh tịnh viên măn, rắn chắc như
kim cang vương, thường trú như hư không bất hoại.
Bạch Thế Tôn ! Các tánh thấy, nghe, ngửi,
nếm, xúc, biết rời các tướng tối, sáng, động, tĩnh, thông, bít, nhạt, mặn,
hợp, ly, cho đến như tâm niệm tư duy rời tiền trần không có cái nào c̣n tự
thể. Vậy th́ lấy cái ǵ làm nhân tu hành để cầu Vô Thượng Giác rắn chắc
như kim cang vương, thường trú bất hoại như hư không ấy ?
Xin Phật rũ ḷng đại từ khai thị chỗ mê
chấp cho tôi !
KHAI THỊ TÁNH NGHE
CỦA NHĨ CĂN LÀ THƯỜNG TRÚ
Phật bảo: A Nan
! Nay tôi đem việc thông thường trước mắt, phương tiện tháo gỡ mối nghi
của ông. Bấy giờ Phật bảo ông La Hầu La đánh một tiếng chuông, rồi hỏi ông
A Nan rằng:
A Nan ! Ông có nghe ǵ không ?
_ Có nghe. Ông A Nan và đại chúng đồng
thưa.
Giây lâu tiếng chuông hết kêu. Phật lại
hỏi:
A Nan ! Ông nghe chăng ?
_ Không nghe, bạch Thế Tôn !
La Hầu La lại đánh một tiếng chuông nữa
Phật hỏi:
Ông có nghe chăng A Nan ?
_ Có nghe, bạch Thế Tôn !
Phật hỏi: Thế nào th́ ông có nghe ? Thế
nào th́ ông không nghe ?
Ông A Nan và đại chúng đồng bạch Phật:
Có tiếng chuông kêu th́ chúng tôi được
nghe, hồi lâu tiếng dứt, âm vang không c̣n th́ không c̣n nghe nữa.
Đức Phật lại bảo ông La Hầu La đánh chuông
rồi hỏi tiếp:
Theo ông hiện nay có tiếng không ?
_ Có tiếng, bạch Thế Tôn ?
Hồi lâu, tiếng chuông dứt bặt, Phật lại
hỏi ?
Hiện giờ có tiếng không ?
_ Không tiếng, bạch Thế Tôn !
Phật bảo: Thế nào ông gọi là có tiếng; c̣n
thế nào th́ ông gọi là không tiếng ?
Ông A Nan và đại chúng đồng thưa:
Có đánh chuông, tiếng chuông ngân vang th́
gọi là có tiếng; giây lâu tiếng hết, âm vang không c̣n th́ gọi là không
tiếng.
Phật bảo: ông A Nan và đại chúng: Sao hôm
nay các ông nói lộn xộn điên đảo như thế ?
Đại chúng và A Nan bạch Phật:
V́ đâu Phật bảo chúng tôi lộn xộn và điên
đảo ?
Phật dạy: Tôi hỏi về cái nghe
th́ các ông nói là nghe ! Tôi hỏi về tiếng th́ các
ông cũng nói là tiếng! Chỉ có cái nghe và cái
tiếng mà các ông trả lời không nhất định, c̣n không
phải điên đảo lộn xộn là ǵ ?
A Nan ! Biết có, biết không, là do có
tiếng hay không có tiếng. Có tiếng th́ nghe động, không tiếng là nghe tĩnh,
chứ không phải không tiếng, tánh nghe không c̣n. Nếu tánh nghe không c̣n,
th́ lấy cái ǵ để biết là không tiếng ?
A Nan ! Cái tiếng đối với tánh nghe tự có
sanh có diệt; nhưng không phải v́ sự sanh hay diệt của tiếng mà tánh nghe
của ông tùy có tùy không. Ông c̣n lộn lạo lầm cái tiếng mà cho là cái nghe,
thảo nào chẳng mê mờ cái viên thường mà cho là đoạn diệt ! Ông không nên
lầm tưởng rời các thứ động, tĩnh, tối, sáng, thông, bít… là cái nghe…
không c̣n. Ông nên hiểu rằng: Tánh nghe không những "thường hằng" trong
khi thức mà nó "thường hằng" cả trong lúc ông ngủ say sưa !
Chúng sanh từ vô thỉ đến nay, theo sự lôi
cuốn của sắc, thanh, theo vọng niệm mà lưu chuyển, không hồi quang phản
chiếu cái bản tánh thanh tịnh diệu thường, bỏ sót mất tánh thường chỉ
buông xuôi theo ḍng sanh diệt ! Do vậy đời đời sống trong tạp nhiễm mà
phải luân chuyển khổ đau. Nếu biết rời bỏ những cái sanh diệt, giữ lại
tánh chân thường sáng suốt nhiệm mầu th́ lục căn, lục trần, lục thức tiêu
vong tại chỗ. Bởi v́ trần là cái tướng của vọng tưởng; cấu là vọng t́nh
phân biệt của con người. Xa ĺa hai thứ trần cấu th́ pháp nhăn của ông tức
th́ trong sáng; cái nhận thức của ông bấy giờ là nhận thức của con người
Vô Thượng Chánh Biến Tri Giác đồng với chư Phật mười phương ba đời vậy.
TRỰC CHỈ
Ông A Nan c̣n ngại ngùng rằng: Các quả sở
chứng có nhiều, nhưng quả nào cũng là
chơn
là thường
là bất hoại.
C̣n tánh thấy, nghe… vốn là vọng, lấy vọng làm dữ kiện tu nhân th́ ông sợ
rằng: hoa đốm không thể nào kết nụ thành ra quả được ! Sự ngại ngùng ấy
nói lên tầm thấy biết rộng xa của ông A Nan, là điều đáng khuyến khích.
Tuy nhiên với tri kiến đó, đối với bậc đại trí, thể nhập Thủ Lăng Nghiêm,
chỉ là cái thấy biết của con người biết một mà chẳng biết hai.
Bằng một sự kiện giản đơn trước mắt, Phật
bảo La Hầu La đánh chuông để trắc nghiệm tánh nghe của nhĩ căn là "thường
trú" th́ cái "thấy biết rộng xa" của ông A Nan không c̣n là việc đáng để
ḷng và cần khuyến khích.
"Tiếng không, không phải tánh nghe không
có. Tiếng có, không phải tánh nghe mới sanh". Đó là vấn đề thực tiễn mà ai
cũng có thể trắc nghiệm được ở bản thân ḿnh. Và đấy, Phật chỉ mới đề cập
ở một đức thường.
Thực tế người ta c̣n trắc nghiệm được cả đức viên và đức
thông của nhĩ căn mà đức Phật sẽ dạy tiếp ở một đoạn kinh sau.
Nói nhĩ căn, mà người đệ tử học Phật c̣n
phải tư duy ôn lại công dụng của sáu căn. Trong sáu căn dù có ưu có khuyết
không đồng đều nhưng không có căn nào rời
trần
mà mất đi công năng thanh tịnh và thường trú của chính ḿnh !
*****Top
CHƯƠNG THỨ NĂM
HIỂU BIẾT CHỒNG THÊM HIỂU
BIẾT
LÀ GỐC RỄ CỦA VÔ MINH.
HIỂU BIẾT VẠN PHÁP ĐÚNG NHƯ
THẬT
LÀ NHÂN TỐ CỦA NIẾT BÀN HIỆN TẠI
ÔNG A NAN LẠI HỎI VẤN
ĐỀ MỞ GÚT
Băng 38
Ông A Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Dù Phật đă
dạy nghĩa quyết định thứ hai về công việc tháo mở gút. Song tôi nghĩ rằng
những người mở gút nếu không biết đầu mối của gút ở đâu th́ ắt hẳn không
thể nào mở được.
Bạch Thế Tôn ! Tôi và hàng Thanh Văn hữu
học trong hội này cũng vậy. Từ vô thỉ đến nay, chúng tôi cùng sanh cùng
diệt với các thứ vô minh, tuy được nghe nhiều Phật, Pháp, mang tiếng xuất
gia mà như người sốt rét cách nhật (ư nói chợt giác chợt mê). Xin đức đại
từ thương xót kẻ đắm ch́m, chỉ cho tôi ở nơi thân tâm này cái ǵ là gút ?
Và muốn mở phải khởi sự như thế nào ?
KHAI THỊ CHƠN LƯ VỐN KHÔNG HAI.
PHẬT PHẬT ĐẠO ĐỒNG
Đức Thế Tôn rũ ḷng thương xót lấy tay xoa
đảnh ông A Nan. Đồng thời tất cả thế giới chư Phật trong mười phương cùng
phóng ánh sáng báu đến rừng Kỳ Đà soi lên đảnh đầu của Đức Phật. Tất cả
đại chúng ở đây đều được sự khinh an chưa từng có.
Bấy giờ đại chúng đều nghe chư Phật trong
mười phương khác miệng đồng lời bảo ông A Nan rằng:
Hay thay A Nan ! Ông muốn biết cái ǵ là
gút thắt khiến cho ông luân hồi sanh tử khổ đau !
A Nan ! Cái gút thắt khiến cho ông luân
hồi sanh tử, chính là sáu căn của ông, chớ chẳng phải cái ǵ khác !
Ông lại cũng muốn biết, phải làm sao mau
đến chỗ an lạc, giải thoát, tịch tĩnh Vô thượng Bồ đề !
Này ! A Nan ! Th́ cũng chính là sáu căn
của ông đó, chớ chẳng phải cái ǵ khác.
CĂN TRẦN CÙNG MỘT GỐC CỘT
MỞ
KHÔNG HAI NGUỒN
Ông A Nan tâm c̣n lưỡng lự ôm mối hoài
nghi, cúi đầu thưa Phật: Bạch Thế Tôn! V́ sao cái nguyên nhân khiến cho
tôi luân hồi sanh tử và khiến cho tôi được Bồ đề, Niết bàn lại cũng là do
sáu căn chớ không phải cái ǵ khác ?
Phật dạy: A Nan
! Căn và trần đồng một bản thể; cột hay mở chẳng phải đợi hai. Cái thức
phân biệt của ông chỉ là hư vọng như hoa đốm trong hư không. Nhân nơi trần
mà phát ra cái nhận biết của căn. Nhân nơi căn mà có cái sắc tướng của
trần. Chủ thể năng kiến và đối tượng sở kiến chỉ là sự phản ánh tác dụng
qua lại mà có ra. Tự tánh của chúng thật sự là không có tự tánh ǵ. Sự
hiện khởi duyên sanh của chúng như những cái h́nh của những đám lau sậy
gác chéo vào nhau…
Vậy nên: Hiểu biết mà chồng lên hiểu
biết là gốc rễ của vô minh. Hiểu biết rồi xóa đi hiểu biết mới t́m thấy
Niết bàn ! Cần chi trong đó phải có cái ǵ khác, A Nan nhỉ
!
TRỰC CHỈ
Băng 39
Tâm lư của ông A Nan cũng chính là tâm lư
chung của những người đệ tử Phật. Có ai biết trong ta cái ǵ là gút, để
phải vướng mắc măi trong sanh tử luân hồi ? Có mấy ai biết phải làm sao mở
gút để khỏi ràng buộc trói trăn ? Người ta thường có quan niệm: Thành Phật
phải là cái ǵ vĩ đại, xa xăm và ghê gớm lắm. Chính ông A Nan học Pháp đến
đây mà vẫn c̣n tư tưởng tịt mù xa xăm đó, th́ trách chi những hàng bạc địa
phàm phu !
Th́ ra sự thật lại quá giản đơn. Chẳng
những riêng Phật Thích Ca cho sự mở gút là giản đơn mà mười phương chư
Phật đông như số vi trần cũng đồng t́nh rằng: Vấn đề t́m gút và mở gút là
vấn đề trước mắt. Nó chẳng ở đâu xa, cũng chẳng phải do ai đem đến. Gút
hay mở chính là sáu căn của ông A Nan đó. Sáu căn của ông A Nan
cũng chính là sáu căn của tất cả mọi người đệ tử Phật chúng ta ai ai cũng
có. Thương, ghét, thân, sơ, hỉ, nộ… là gút là thắt đó. Từ bi, hỉ xả, thiền
định, trí tuệ… là mở, gút sẽ được tháo tung.
Yếu lư ở đoạn kinh này, đức Phật đúc kết
trong triết lư:
"Tri kiến lập tri tức vô minh bổn
Tri kiến vô kiến tư tức Niết bàn".
Chảo lảy điêu ngoa đồng nghĩa với cột gút,
thắt thêm nhiều lớp. Thực thà, chất phác là công dụng của sự tháo gút mở
dây.
*****Top
TÓM
LƯỢC Ư THÚ CỦA NHỮNG ĐOẠN
KINH TRÊN QUA BÀI TRÙNG TỤNG
Băng 40
Chơn tánh của pháp hữu vi là không
V́ duyên sanh, sanh như huyễn hóa
Vô vi th́ không có khởi diệt
V́ chẳng thật, như hoa đốm trong hư không
Phủ định vọng, nhằm khẳng định có chơn
Nếu chấp chơn, th́ vọng chơn đều vọng
Chơn và phi chơn c̣n không có
Th́ năng kiến sở kiến có thực ǵ !
Thức ở trung gian, không thực tánh
Như lau sậy gác chéo lên nhau
Cột hay mở đồng một bản nhân
Thánh và phàm không hai ngả tẻ
Hăy trông h́nh những cây lau gác
Pháp không, pháp có, cả hai không
Mê mờ chơn lư đó là vô minh
Phát minh được chơn lư tức th́ giải thoát
Mở gút phải theo thứ lớp
Sáu gút mở hết, cái một không c̣n
Dựa nơi căn mà chọn tánh
viên thông
Quả nhập lưu được xem là thành Phật
Thức A Đà Na vi tế quá
Tập khí như nước thác tuôn theo
V́ sợ chấp chơn, phi chơn
Như Lai không thường nói đến
Tự tâm chấp tự tâm
Pháp phi huyễn trở thành pháp huyễn
Không chấp, pháp chơn
c̣n không có
Pháp chơn vốn đă chẳng có sanh
Th́ pháp huyễn do đâu thành lập ?
Như huyễn tam ma đề là vậy
Đó là bảo giác, chắc như kim cương vương
Không nhiễm như Diệu Liên Hoa
Khảy móng tay vượt hàng vô học
Đây là pháp của Phật mười phương
Là đại lộ vào thành đô Niết bàn Phật.
TRỰC CHỈ
Băng 41
Pháp hữu vi không có tự thể, thực chất của
nó là không. V́ nhân duyên sanh cho nên có. Có mà không thật có nên gọi là
như huyễn.
Nhằm phủ định huyễn hữu mà phải đề cập cái
vô. Kỳ thực, chẳng có cái gọi là "Vô
vi" nào cả. Cái không có
sanh khởi, không có diệt tận gọi đó là "Vô
vi". Vậy th́ "Vô
vi" đồng nghĩa với "Không
có ǵ". Người đệ tử Phật
không bao giờ hy vọng ở cái gọi là "Vô
vi", dù được người ta quảng
cáo "Vô vi"
là cảnh giới an vui hạnh phúc ! Giá vọng biểu chơn là một thuật ngữ thường
dùng trong Phật học. Phủ định vọng nhằm để khẳng định cái
chơn.
Nhưng phải hiểu: Hết vọng là
chơn
mà không cầu chơn
trong khi hết vọng. Hết vọng cầu chơn là t́m thêm một cái
đầu để chồng lên cái đầu ḿnh đă có. Đó chẳng phải là tâm trạng của kẻ
điên loạn là ǵ ?
Phân biệt, đánh giá sự vật qua: mừng, giận,
thương, sợ, yêu, ghét… là do thức trung gian đó. Mà thức th́ đă phải chủ
đâu ! Duyên sanh, duyên diệt, thức thay đổi luôn luôn, như những h́nh thoi,
h́nh thang, h́nh tam giác, h́nh vuông… trong những đám lau sậy gác lên
nhau trong những cơn gió giật !
Căn trần đồng là vật biểu hiện từ Như Lai
Tàng, phát xuất từ Như Lai Tàng không tội lỗi. Buộc hay mở do căn; thánh
phàm do tự chủ hay không tự chủ đối với sáu căn của ḿnh.
Pháp không, không đă đành; pháp có, cũng
là không !
"Chúng nhơn
duyên sanh pháp
Ngă thuyết tức thị không"…
Mê mờ chơn lư
không, có
là vô minh. Tỏ ngộ chơn lư
có và không
th́ giải thoát. Mở gút nên theo thứ lớp; một được mở, sáu gút sẽ giải tỏa
theo. Sáu gút mở th́ cái một không c̣n. Hăy lựa căn có ưu thế để phát huy
công dụng; lựa một căn mà chọn tánh viên thông. Được quả
nhập lưu, xem như đă thành Phật. Bởi v́ Như Lai há chẳng nói: "Tất cả
chúng sanh đă thành Phật" đó sao ?
Thức A Đà Na sâu sắc lắm, tập khí chúng
sanh lại quá sâu dày. Như Lai thường không đề cập đến, ngại chúng sanh mê
chấp: Này chơn, nọ chẳng
phải chơn. Ở Kinh Thủ Lăng
Nghiêm này, Như lai chỉ dạy trong phạm vi: sáu căn, sáu trần và sáu thức.
Sáu thức vọng chấp là vọng đă đành, móng ư chấp
chơn,
làm cho chơn
hóa ra vọng.
Tự tâm chấp tự tâm: Tâm ḿnh Phật, lại van xin mong cầu Phật, há không
phải pháp "phi huyễn" trở thành "huyễn pháp" đó sao ?
Không chấp th́
vọng chơn
đều vắng lặng trạm nhiên:
chơn c̣n không có,
vọng
vịn vào đâu sanh được ?
Nhận thức như vậy thường xuyên. Đó là cách
tu thiền, là tư duy
tu đó. Tu như vậy Phật gọi: Như huyễn tam ma đề. Đó
là phương pháp thiền nh́n vạn pháp như huyễn. Có như
huyễn tam ma đề là có bảo giác chắc như kim cương vương. Thanh tịnh
như Diệu Liên Hoa, khảy móng tay vượt hàng vô học (Thanh Văn Duyên Giác
nhị thừa). Mười phương chư Phật đồng như số vi trần, đồng đi con đường đó
mà vào thành đô Niết bàn Phật !
*****Top
TH̀ THÀNH SÁU GÚT MỞ HẾT
SÁU GÚT MỘTCŨNG KHÔNG C̉N
NGUYÊN DO CỦA MỘT SÁU
DỊ ĐỒNG
Băng 42
Ông A Nan chấp tay đảnh lễ thưa: Bạch Thế
Tôn! Nay tôi nghe Phật dạy ư thú thẩm sâu mầu nhiệm, nhưng tôi c̣n chưa rơ
cách thức mở gút thế nào và v́ sao mở hết gút th́ một cũng không c̣n? Xin
Phật rũ ḷng thương đại chúng trong hội này và chúng sanh tương lai bố thí
pháp âm để chúng tôi có thể trừ sạch cấu nhiễm sâu dày trầm trọng !
Bấy giờ đức Thế Tôn trên ṭa sư tử sửa nội
y vén áo tăng già lê (đại y) đưa nhẹ tay lấy cái khăn hoa trên ghế thất
bảo. Trước đại chúng Đức Phật cột thành một gút, đưa cho ông A Nan xem và
hỏi:
Cái này gọi là cái ǵ ?
_ Đấy là cái gút, bạch Thế Tôn. Ôn A Nan
và đại chúng thưa.
Đức Phật lại cột khăn hoa thêm một gút nữa
rồi cũng hỏi ông A Nan:
Cái này gọi là cái ǵ ?
_ Cũng gọi là cái gút. Bạch Thế Tôn !
Rồi cũng cái khăn lụa hoa ấy tuần tự đức
Phật cột thành sáu gút và mỗi khi cột xong một gút Phật đều đưa khăn lên
và hỏi như vậy.
Ông A Nan và đại chúng cũng tuần tự đáp
như vậy sáu lần.
Phật bảo ông A Nan: Khi tôi mới cột khăn
th́ ông gọi là một gút. Thật sự chiếc khăn lụa hoa này trước sau chỉ là
một cái. Cớ sao lần thứ hai, lần thứ ba… các ông cũng gọi là gút ?
Bạch Thế Tôn ! A Nan thưa. Cái khăn lụa
hoa quư báu này, vốn là một thể, song Như Lai cột một lần th́ gọi là một
gút, nếu cột trăm lần th́ cũng phải gọi là một trăm gút, huống chi ở đây
có sáu gút, không đến bảy, cũng chẳng dừng ở năm. Cớ chi Như Lai quở trách
chỉ cho gút thứ nhất là gút, c̣n cái thứ hai, thứ ba… không cho gọi là gút
?
Phật bảo: Như ông biết cái khăn hoa này nó
vốn là một, vậy mà tôi cột sáu lần th́ ông gọi là sáu gút. Này A Nan! Ông
chín chắn xem xét nghĩ suy: Tự thể của cái khăn vốn là đồng
chỉ v́ gút mà hóa ra thành dị, ông nghĩ thế nào? Khi mới
cột gút ban đầu th́ gọi là gút thứ nhất. Như vậy cho đến cột lần thứ sáu
th́ gọi là gút thứ sáu. Nay tôi muốn gọi gút thứ sáu là gút thứ nhất có
được không ?
_ Bạch Thế Tôn ! Không. Nếu c̣n sáu gút
th́ cái gọi là thứ sáu, không sao gọi là cái thứ nhất được. Dù tôi có biện
bạch suốt đời cũng không thể làm cho sáu gút đổi tên !
Phật dạy: Đúng vậy ! Đúng vậy ! Sáu gút
không đồng nhưng xét t́m bản nhân lại vẫn là do một cái khăn mà có. Thế mà
không ai có thể làm cho nó lộn xộn được với nhau.
A Nan ! Sáu căn của ông cũng như vậy. Từ
cái thể hoàn toàn đồng mà sanh cái dụng
hoàn toàn dị. Chẳng khác chút nào cái khăn lụa hoa kiếp ba
la của Như Lai !
A Nan ! Giả sử ông không muốn thành sáu
gút trong một cái khăn. Giả sử ông muốn cái khăn chỉ c̣n thể duy nhất, th́
ông phải làm thế nào ?
_ Bạch Thế Tôn ! Nếu các gút mà c̣n th́
thị phi tranh căi khó mà ngăn. V́ gút này không phải gút kia và gút kia
không phải là gút nọ được ! Nếu Như Lai mở tháo tung cả, không c̣n gút th́
không c̣n có này, có nọ, có kia, thế là một c̣n không có, làm chi có sáu !
Phật dạy: Cái ư nghĩa mở sáu, một không
c̣n cũng như vậy đó. Các ông chỉ v́ vọng tâm vô thỉ, khiến cho tri
kiến sanh bệnh làm ḷa cái tánh tịnh minh trạm tịch của các ông,
cho nên sơn hà đại địa, sanh tử, Niết Bàn trở thành cái tướng hoa đốm của
đôi mắt mệt hóa ḷa của các ông đó !
Ông A Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Cái bệnh mê
lầm giống như gút kia làm sao mà cởi mở được !
Bấy giờ đức Phật lấy cái khăn đă cột gút,
kéo một mối lệch qua trái rồi hỏi ông A Nan: Tôi làm thế này có mở gút
được chăng ?
_ Không được, bạch Thế Tôn !
Rồi đức Phật nắm kéo mối khăn lệch qua bên
phải, cũng hỏi ông A Nan như vậy. Ông A Nan cũng đáp là không thể mở được.
Phật hỏi: Tôi kéo mối khăn qua phải qua
trái đều không mở gút được. Vậy theo ông nghĩ, phải làm thế nào mới mở
được gút ?
_ Bạch Thế Tôn ! Phải mở trung tâm cái gút
th́ tháo ra ngay.
Phật bảo: Đúng vậy. Muốn mở gút th́ phải
mở ngay trung tâm của gút.
A Nan ! Như tôi đă nói: Phật pháp từ nhân
duyên sanh. Nhưng các ông không được chấp ở tướng ḥa hợp thô sơ trên hiện
tượng của thế gian mà thỏa măn tri kiến của ḿnh. Như Lai phát minh tuệ
giác vô thượng cho nên biết tất cả bản nhân của pháp thế và xuất thế gian;
đến như một hạt mưa ngoài hằng sa thế giới cũng biết số mục; cây tùng
thẳng, cây gai cong, chim câu trắng, chim quạ đen Như Lai đều biết nguyên
do tất cả.
A Nan ! Tùy tâm ông lựa chọn nơi 6 căn,
nếu tháo mở được cái gút căn ấy th́ các trần tương tự tiêu vong, đối với
ông, vọng cảnh không c̣n, bấy giờ ông chẳng phải sống trong chơn tâm th́
c̣n gọi là ǵ nữa !
*****Top
CỘT
GÚT ĐĂ CÓ THỨ LỚP TH̀ MỞ
PHẢI CÓ TRƯỚC CÓ SAU
Phật bảo A Nan ! Cái khăn hoa này có sáu
gút, ông có thể mở bung cùng một lúc được không ?
_ Bạch Thế Tôn ! Không. Những cái gút khi
cột đă có thứ lớp, nay mở cũng phải theo trước sau. Sáu gút tuy đồng
thể, nhưng lúc cột lại chẳng đồng thời. Thế nên, nếu mở
gút phải bắt đầu từng cái một.
Phật dạy: Trừ khử những gút sáu căn cũng
giống như vậy. Bắt đầu mở, trước hết tháo mở nhân không. Nhân
không hóa giải hoàn toàn sáng suốt th́ bước thêm mở lần pháp chấp.
Pháp chấp xả hết bấy giờ gọi là hạng người ngă pháp câu không. Đấy
gọi là Bồ tát từ tam ma địa mà được vô sanh pháp nhẫn.
TRỰC CHỈ
Đọc đoạn kinh này, người đệ tử Phật phải
chín chắn soát lại vấn đề
tri kiến của ḿnh. Cái
trí thể
là một, tự nó chẳng có hỉ, nộ, ái, cụ… chẳng có tham, sân, si, mạn… Do sự
tác động bất giác vô minh khiến cho cái
trí dụng
trở thành nhiễm ô. Những cái gút mà Đức Phật cụ thể hóa qua cái khăn kiếp
ba la chính là những gút tham, sân, si, mạn… và hỉ, nộ… ấy. Cái khăn lụa
hoa của Phật tự thể
nó chẳng có gút nào. Cột gút là do bàn tay Phật, nghĩa là phải do động tác
của ai đó làm ra. Khi đă cột gút rồi th́ gút nào tên nấy. Do vậy, làm mất
đi cái tự thể
láng mịn của cái khăn hoa đẹp. Cái
tri kiến vô kiến
hay nói cách khác là "thể tánh tịnh minh" của ta vốn thanh tịnh bản nhiên
trong sáng đẹp đẽ như cái khăn hoa láng mịn ấy. Chấp mắc là do ta, khiến
cho tri kiến
của ta trở thành tri kiến
lập tri, phân biệt ghét
thương lấy bỏ thân sơ làm cho sáu căn vẩn đục bởi sáu trần: Sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp.
Muốn khăn không c̣n gút th́ phải mở hết
gút bỏ đi. Muốn căn trong sáng an lành th́ phải diệt đi tính chấp: phải,
quấy, ghét, thương… tham, sân, si, mạn…
Không mở đúng trung tâm gút th́ không thể
tháo gút ra. Không chế phục sáu căn th́ đam mê lầm lạc lâu đời không xóa
sạch được.
Cột đă có gút một, gút hai… th́ mở cũng
phải theo thứ lớp.
Tai hại của gút là làm cho cái khăn hoa
mịn đẹp của Như Lai thành "một" rồi "hai"…, rồi thành sáu gút, mà tên gút
không thể đổi dời.
Tai họa gây đau khổ cho con người là tri kiến
vốn tịnh, vốn thanh, vốn minh, vốn diệu lại trở thành
ngă chấp, pháp chấp
thị phi hỉ nộ…
Mở gút, mở sáu gút hết th́ cái một cũng
không c̣n, v́ sáu căn mà thanh tịnh th́ sáu không c̣n sáu mà chỉ c̣n: Tri kiến vô kiến, thể tánh
tịnh minh. Bấy giờ sáu căn
dùng thay lẫn nhau không có ǵ trở ngại (lục căn hỗ dụng).
Mở gút phải bắt đầu từ cái gút khởi đầu.
Chế phục vô minh phải triệt tiêu
ngă chấp
trước. Tiến thêm một bước, diệt trừ ư thức
pháp chấp
tiếp theo.
Ngày nào
ngă pháp đều không,
hỏi ai là người sẽ thành Phật ? Nên chỉ những con người
ngă pháp câu không
ấy !
*****Top
QUẢ VỊ CÓ THẤP CAO GIẢI THOÁT
GIỐNG
NHAU KHÔNG KHÁC MẤY.
CĂN TRẦN THỨC GIỚI THẤT ĐẠI
ĐỀU
LÀ DỮ KIỆN CHỨNG ĐẮC VIÊN THÔNG
Ông A Nan và đại chúng nhờ Phật khai thị
tuệ nhăn được Viên dung Thông
đạt; đối với chân lư xẻ bỏ được màn lưới nghi ngờ đen tối. Tất cả đồng
chắp tay cung kính thưa:
_ Bạch Thế Tôn ! Ngày nay chúng tôi thâm
tâm sáng suốt vén bức rèm vô minh, tuệ giác được phần vô ngại. Đối với
diệu nghĩa "sáu mở một không c̣n", Như Lai dạy chúng tôi đă lănh hội.
Nhưng nay c̣n chưa rơ chúng tôi cần phải làm ǵ để tâm tánh được
viên thông, khi rời pháp âm hướng dẫn của Phật ? Xin Phật rũ ḷng
thương ban cho chúng tôi những bí pháp thậm thâm được xem như lời dạy cuối
cùng của Phật ?
*
PHẬT HỎI ĐẠI CHÚNG VỀ NHÂN DUYÊN
NGỘ ĐẠO VÀ DỮ KIỆN CHỨNG ĐẮC VIÊN THÔNG
Băng 43
Bấy giờ đức Thế Tôn bảo khắp các đại Bồ
Tát và hàng lậu tận A La Hán rằng: Các ông là Bồ Tát và A La Hán sanh
trong Phật Pháp đă chứng quả vô học. Nay tôi hỏi các ông: Lúc mới phát tâm,
trong thập bát giới, các ông tâm đắc ở giới nào ? Do nhân duyên ǵ ? Từ
phương tiện nào mà các ông được tam ma đề viên thông tâm
tánh ?
1. DO THANH TRẦN ĐƯỢC VIÊN
THÔNG
Nhóm ông Kiều Trần Như năm vị tỳ kheo từ
chỗ ngồi đứng dậy cung kính chấp tay thưa:
_ Bạch Thế Tôn ! Sau khi Như Lai thành đạo
ở Lộc Uyển, chúng tôi gặp Phật trước tiên. Chúng tôi được Phật khai thị
cho về pháp tứ diệu đế. Do nghe tiếng Pháp của Phật mà tôi tỏ ngộ. Lúc đó
Phật hỏi các Tỳ kheo: Có hiểu không, tôi thưa là đă hiểu. Nhơn đó
Như Lai đặt cho tôi cái tên là A Nhă Đa, ấn chứng chúng tôi là những người
A La Hán. Nay Phật hỏi viên thông, đối với tôi thanh
trần là mầu nhiệm nhất.
2. DO SẮC TRẦN ĐƯỢC VIÊN
THÔNG
Ông Ưu Ba Ni Sa Đà đứng dậy chắp tay cung
kính thưa:
_ Bạch Thế Tôn ! Tôi cũng được gặp Phật
sau những ngày Như Lai thành đạo không lâu. Trông vào tướng hảo quang minh
của Phật tôi quán sâu vào tướng bất tịnh của sắc thân ô trược. Từ cái tử
thi bắt đầu bành trướng… đến tướng bạch cốt… vi trần… tôi sanh ḷng nhàm
chán tột bậc, chợt tỏ ngộ tánh: Sắc, không, không sắc đều chẳng ra ǵ. Như
Lai ấn chứng cho tôi cái tên là Ni Sa Đà, tôi được A La Hán quả. Nay Phật
hỏi duyên cớ được viên thông, xin thưa: Đối với tôi
sắc trần là ưu việt nhất.
3. DO HƯƠNG TRẦN ĐƯỢC VIÊN
THÔNG
Ông Hương Nghiêm đồng tử đứng dậy cung
kính chắp tay thưa:
_ Bạch Thế Tôn ! Trước đây Như Lai dạy tôi
quán sát kỹ về các pháp tướng hữu vi. Một hôm tôi tĩnh tọa trong giảng
đường các tỳ kheo đốt hương trầm thủy, mùi hương thoang thoảng trong tĩnh
mịch u nhàn, tác dụng đến mũi tôi. Tôi tư duy quán xét: Hương này không
phải do gỗ, không phải do hư không, không phải do khói, không phải do lửa.
Đi ra không dính vào đâu. Đến đâu không chỗ dùng trụ. Quán chiếu như vậy,
ư thức phân biệt của tôi tự khắc tiêu vong. Trí vô lậu phát sanh, Như Lai
ấn chứng cho tôi danh hiệu là Hương Nghiêm. V́ do tôi thể nghiệm mùi hương
mà chứng được A La Hán quả. Nay Phật hỏi phương tiện được viên thông,
xin thưa: Với tôi, hương trần là tối thắng nhất.
4. DO VỊ TRẦN ĐƯỢC VIÊN
THÔNG
Hai vị Bồ Tát Dược Vương, Dược Thượng,
cùng năm trăm phạm thiên trong hội đồng đứng dậy cung kính chắp tay bạch
Phật: Bạch Thế Tôn ! Từ vô lượng kiếp, chúng tôi là lương y cứu tế thế
nhân. Miệng chúng tôi thường nếm những lá hoa cây cỏ kim thạch trong cơi
Ta bà này. Tất cả những vị: Mặn, lạt, chua, cay, ngọt, đắng… vị biến đổi
sanh, vị ḥa hợp có; vị nào lạnh, vị nào nóng; thứ có độc, thứ không tôi
đều biết cả. Được phục vụ chư Phật và tất cả chúng sanh, rơ biết tánh chất
của vị trần: Không phải không, không phải có, không phải tức thân tâm,
không phải ly thân tâm. Nhờ tôi phân biệt Vị trần mà được
khai ngộ. Phật ấn chứng cho chúng tôi danh hiệu là Dược Vương và Dược
Thượng Bồ Tát. Nay Phật hỏi nhân duyên và phương tiện được viên
thông, xin thưa: Đối với chúng tôi vị trần là ưu
việt nhất.
5. DO XÚC TRẦN ĐƯỢC VIÊN
THÔNG
Ông Bạt Đà Bà La cùng với mười sáu vị tăng
sĩ đồng là đạo bạn cùng đứng dậy cung kính chắp tay thưa:
_ Bạch Thế Tôn ! Bọn tôi trước kia ở thời
Phật Oai Âm Vương, nghe pháp xuất gia. Lúc chư Tăng tắm, tôi theo thứ lớp
vào nhà tắm để tắm. Bỗng nhiên tôi tư duy và nhận thức rằng: Nước vốn
không rửa bụi và cũng chẳng rửa thân, trung gian an nhiên lặng lẽ. Tôi tâm
đắc tột độ cái chân lư: "Chẳng có ǵ". Tập quán trước không quên, đến nay
tôi theo Phật xuất gia được quả vô học. Đức Phật thuở ấy gọi tôi với cái
tên: Bạt Đà La (thiên thủ). Do tôi phát hiện tánh mầu nhiệm của xúc trần
mà thành Phật tử. Nay Phật hỏi duyên cớ được viên thông, xin
thưa: Đối với tôi xúc trần là hơn tất cả.
6. DO PHÁP TRẦN ĐƯỢC
VIÊN THÔNG
Ông Ma Ha Ca Diếp và bà Tử Kim Quang Tỳ
khưu ni v.v… đồng đứng dậy cung kính chắp tay thưa:
_ Bạch Thế Tôn ! Kiếp xa xưa trong cơi này
có Phật ra đời hiệu Nhật Nguyệt Đăng. Sau Phật diệt độ chúng tôi thắp sáng
ngọn đèn chánh pháp để cúng dường; đem tâm trong sáng vàng thắm thếp tô
Phật tượng. Do đó đời đời kiếp kiếp thân thường viên măn, rực rỡ như vàng
ṛng. Bọn Tử Kim Quang Tỳ khưu ni đây cũng đồng phát tâm như tôi vậy.
Chúng tôi quán sát sáu trần luôn luôn biến hoại. Tôi trụ tâm trong vắng
lặng, nhập định diệt tận, thân tâm rỗng rang, thời gian trăm ngh́n kiếp
tựa hồ như trong cái khảy móng tay. Do thành tựu pháp không quán
mà tôi được quả A La Hán. Thế Tôn ấn chứng tôi là: Đầu đà đệ nhất; pháp
trần thâm diệu nhờ tuệ nhăn tôi được khai minh, lậu hoặc được dứt trừ. Nay
Phật hỏi duyên cớ viên thông, với sở ngộ sở chứng của tôi
th́ pháp trần là tối thượng.
TRỰC CHỈ
Băng 44
Khi con người diệt hết hoặc
Kiến tư
ra ngoài ba cơi th́ gọi là người được giải thoát, giác ngộ. Giải thoát nói
cách khác là người đó có Niết Bàn. Vậy, chữ Niết Bàn trong đạo Phật là chỉ
sự giải thoát phiền năo buộc ràng. Do vô minh tác động hoành hành trong
cuộc sống. Bồ Đề chỉ sự giác ngộ. Vậy ai có giác ngộ là có Bồ Đề. Bồ đề
Niết bàn là hai mặt thực thể thanh tịnh của con người: Thấy chân lư trọn
vẹn, diệt vô minh phiền năo hoàn toàn. Tuy nhiên, Bồ đề Niết bàn có đẳng
cấp, không nhất thiết cùng lúc ai cũng được y nhau. Gọi là đẳng cấp, nhưng
không phải như "ngạch", "trật" do cấp trên nào phong tặng theo cảm t́nh
thương ghét hay do đánh giá chủng tộc màu da, sang hèn, cao thấp… Đẳng cấp
ở đây dựa trên tiêu chuẩn đoạn vô minh trừ phiền năo ở chính con người. Do
vậy, Bồ đề Niết bàn có những đẳng cấp sau đây:
Thanh văn Bồ
đề
Duyên giác Bồ đề
Bồ Tát Bồ đề
Phật Bồ đề
Đẳng cấp đó nói lên quả vị có thấp cao. Dù
vậy đă là người có Bồ đề vượt ra ba cơi th́ sự giải thoát gần giống nhau
không khác mấy. Không khác mấy v́ cả bốn đẳng cấp đều không c̣n quan niệm
khổ đau v́ phần đoạn sanh tử chi phối dầy ṿ. Không khác mấy, nhưng cũng
không phải hoàn toàn đồng, v́ tŕnh độ nhận thức chân lư toàn vẹn và chưa
toàn vẹn có chênh lệch khác nhau.
Viên thông
có nghĩa viên măn thông suốt.
Nói viên thông
là nói tŕnh độ đạt đạo, nhận thức chân lư của những người đệ tử Phật.
Người có tŕnh độ nhận thức
viên măn thông suốt vượt qua
tri kiến chấp mắc hẹp ḥi u ám của phàm phu gọi đó là chứng được
viên thông.
Ở đây chủ ư Phật gạn hỏi những người có tŕnh độ
viên thông
cỡ đó. Ở đây không được hiểu
viên thông
với nghĩa hoàn toàn trọn vẹn, như cái từ
viên măn Vô thượng Bồ đề.
V́ ở đây Phật hỏi duyên cớ được
viên thông
của Thanh Văn Duyên Giác Bồ Tát mà người đọc đă nhận thức rơ ràng.
Một sự kiện đáng vui mừng phấn khởi cho
những người con Phật có ư chí ham học ham tu mong giải thoát: Đọc qua hai
mươi lăm vị Thanh Văn lẫn Bồ Tát, các Ngài nói lên nhân duyên đạt đạo,
chứng nhập viên thông
của các Ngài mà ta thấy vô cùng sung sướng. Th́ ra cái sự kiện làm ra
thành quả viên thông
ấy, trong Phật tử chúng ta ai cũng có và ai cũng có thể biết được rơ ràng.
Do đó trong mọi chúng ta ai cũng có khả năng hy vọng có ngày hiện thực
viên thông.
Thế mà c̣n chưa bằng ḷng, không cảm thấy sung sướng th́ gọi là tu hành,
người ta c̣n muốn cái ǵ nữa nhỉ ?
Ta đă thấy biết rơ dữ kiện để tạo ra thành
quả viên thông
của sáu vị A La Hán: Kiều Trần Như, Ưu Ba Ly Sa Đà, chẳng có xa xôi ǵ làm
người ta khó t́m kiếm cả. Các Ngài chỉ dựa trên lục trần. Dựa trên sáu
trần làm đối tượng để tu sửa thân tâm. Vậy mà mỗi Ngài tŕnh lên với Phật
một món "Đệ nhất"
khác nhau. Điều đó nói với mọi người rằng: Gọi là thuốc hay, không có
thuốc nào hay với tất cả mọi con bệnh. Pháp môn có "vi diệu" cũng không
phải "vi diệu" cho mọi căn cơ. Cái biết của người bệnh là khéo biết chọn
thuốc hạp bệnh mà dùng. Cái trí của người con Phật, phải khéo chọn pháp
môn thích ứng căn cơ mà tu tập.
Về sáu trần, trần nào cũng là dữ kiện cho
các thánh chứng "viên
thông". Định nghĩa theo văn
tự: "trần"
có nghĩa là nhiễm ô, nhưng nó chỉ nhiễm ô khi nó tác động vào lục căn của
con người chưa tự chủ. Cho nên định nghĩa "trần"
qua nghĩa nhiễm ô là định nghĩa đứng bên "tục đế", duyên sanh hiện tượng.
Với nhăn quan của những bậc giác ngộ có khả năng tự chủ mà nh́n th́
trần
vẫn là một hiện tượng biểu hiện phát xuất từ Như Lai Tàng thanh tịnh, có
tội lỗi ǵ đâu !
Bằng nhận thức khách quan, ai cũng có thể
thấy biết: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, đă làm ǵ nên tội ? Nên tội
là do con người. Con người đam mê trần với tâm động hắc ám với khát vọng
điên cuồng đánh mất đi lư trí. Lư trí mà c̣n đánh mất th́ "chơn
tâm thường trú" đối với hạng
người này, có t́m đi nữa cũng là kẻ: đáy nước ṃ trăng.
Sự thành công của các A La Hán là khéo vận
dụng các tri kiến: Như thị tri, như thị kiến, như thị tín giải, bất sanh
pháp tướng để làm cơ sở giác ngộ giải thoát cho ḿnh.
Có câu rằng:
"Trần chẳng tương quan, biển cả nương dâu
mặc thay đổi.
Tâm không sở đắc, thông xanh mây trắng tự vui nhàn".
*****Top
7. DO NHĂN CĂN ĐƯỢC VIÊN
THÔNG
Băng 45
Ông A Nan Luật Đà đứng dậy cung kính chắp
tay thưa: Bạch Thế Tôn ! Lúc tôi mới xuất gia thường ưa thích nằm và ngủ
li b́. Như Lai quở tôi là loại súc sanh. Nghe lời quở của Phật, tôi thầm
khóc, tủi hổ và tự trách ḿnh. Tôi cương quyết thề không ngủ và tôi thức
suốt bảy ngày đêm. Hai con mắt tôi bệnh và hư mất. Thế Tôn thương dạy cho
tôi pháp: Lạc kiến chiếu minh kim cang tam muội. Sau khi
được tam muội, tôi thấy suốt hiện tượng trong mười phương như trái chanh
trái quít để trên bàn tay. Như Lai ấn chứng cho tôi quả A La Hán. Nay Phật
hỏi nguyên nhơn nào được viên thông, xin thưa: Theo chỗ tâm
đắc của tôi là: Xoay tánh thấy của nhăn căn trở về
bản thể thanh tịnh bản nhiên là ưu việt nhất.
8. DO TỶ CĂN ĐƯỢC VIÊN
THÔNG
Ông Châu Lợi Bàn Đặc đứng dậy cung kính
chắp tay bạch Phật: rằng tôi v́ thiếu tŕ tụng kinh điển nên không có tuệ
đa văn. Khi mới gặp Phật, tôi xin xuất gia nghe học pháp Phật tôi cố nhớ
một bài kệ của Như Lai mà không sao nhớ nổi. Tôi gắng học suốt cả một trăm
ngày, nhớ đoạn trước th́ quên câu sau; nhớ đoạn sau lại quên câu trước.
Phật thương tôi ngu muội, dạy tôi ở một nơi yên tĩnh tu tập pháp môn điều
ḥa hơi thở ra vào. Bấy giờ tôi vận dụng quán trí theo dơi từng hơi thở,
từ thô đến vi tế, từng sát na nhiếp ư, vận dụng tư duy, chia hơi thở thành
bốn thời kỳ: Hít vô gọi là sanh. Đầy hơi gọi là trụ.
Thở ra gọi là dị. Măn hơi gọi là diệt. Thực
hiện một thời gian, tâm tôi bừng sáng rỗng rang được đại vô ngại, các lậu
hoặc dứt hết thành A La Hán. Trước pháp ṭa, Phật ấn chứng cho tôi thành
quả vô học. Nay Phật hỏi viên thông, theo chỗ sở hành của
tôi: Tập trung tư tưởng xoay vào quán hơi thở ra vào minh bạch, là pháp
hành hiệu quả nhất.
9. DO THIỆT CĂN ĐƯỢC VIÊN
THÔNG
Ông Kiều Phạm Ba Đề đứng dậy cung kính
chắp tay bạch Phật: Rằng tôi mắc khẩu nghiệp trong kiếp quá khứ, nhiều đời
phải tật nhai măi như trâu. Như Lai thương, dạy cho tôi pháp: Nhất
vị thanh tịnh tâm địa. Nhờ đó tôi diệt phân biệt, được tam ma đề.
Tôi quán chiếu rằng: Tánh biết vị không phải do thân thể, cũng không phải
do ở ngoại vật. Do đó, trong th́ thân tâm giải thoát; ngoài th́ như rời bỏ
thế gian. Viễn ly ba cơi như chim sổ lồng; cấu nhiễm không c̣n, tiêu vong
hóa trần tướng, pháp nhăn thanh tịnh, được quả A La Hán. Như Lai ấn chứng
cho tôi lên hàng vô học. Nay Phật hỏi phương tiện được viên thông,
xin thưa: Theo tôi th́: trả vị về cho phân biệt của
thiệt căn là ưu việt nhất.
10. DO THÂN CĂN ĐƯỢC VIÊN
THÔNG
Băng 46
Ông Tất Lăng Già Bà Ta đứng dậy cung kính
chắp tay bạch Phật rằng: Lúc tôi mới phát tâm xuất gia theo Phật, thường
nghe Phật dạy: "Cuộc đời chẳng có ǵ vui". Đang khi đi khất thực, vừa đi
vừa tư duy lời Phật, bỗng dưng tôi đạp phải cái gai độc. Cả ḿnh đều đau
đớn. Trong lúc đau đớn, tôi quán chiếu tư duy: Giác tâm thanh tịnh vốn
không có cái đau và cái biết đau ! Một thân thể lẽ đâu lại có hai tánh
biết ! Nhiếp niệm không bao lâu thân tâm bỗng nhiên rỗng rang thanh tịnh.
Hai mươi mốt ngày sau, các lậu hoặc được tiêu trừ, Phật ấn chứng cho tôi
lên hàng vô học chứng A La Hán quả. Nay Phật hỏi duyên cớ nào được
viên thông, xin thưa, đối với tôi: Nắm giữ giác tánh xem nhẹ
thân căn là thành công dễ nhất.
11. DO Ư CĂN ĐƯỢC VIÊN
THÔNG
Ông Tu Bồ Đề đứng dậy cung kính chắp tay
bạch Phật rằng: Từ nhiều kiếp đến nay, tôi vẫn được tâm vô ngại thường trú
nơi không tịch. Sự vật hiện tượng trong mười phương đối với tôi trở thành
"chân không hóa" chẳng chút vương víu buộc ràng. Như Lai phát minh tánh
giác là chân không; tôi tư duy thể nhập: Bảo minh không hải
tam muội, tri kiến đồng như Phật. Tôi được Phật ấn chứng lên hàng vô
học A La Hán. Nay Phật hỏi nhơn duyên được viên thông, theo
chỗ chứng ngộ của tôi: Quán các tướng đều là phi tướng. Cái phi tướng đối
tượng cũng không lưu lại. Nh́n hiện tượng vạn pháp đúng như thật của nó: "Có
mà thật chẳng có ǵ", đối với tôi, đó là phương tiện chinh phục
ư căn hữu hiệu nhất.
TRỰC CHỈ
Căn sở dĩ là
căn
v́ sáu cơ quan này ví như gốc rễ để rồi từ đó sanh ra nhánh nhóc chồi
tược vô minh lậu hoặc, gây ra khổ đau cho cuộc sống con người. Đó là cách
định nghĩa trên mặt tục đế trên hiện tượng tùy duyên của vạn pháp. Nếu
nh́n bên góc cạnh khác, người ta thấy căn chỉ là một dạng
vật chất, phát xuất từ tứ đại duyên sanh như vô vàn hiện tượng duyên sanh
khác. Điều mà ai cũng biết: Vật chất biểu hiện vô vàn h́nh thái hiện tượng
khác nhau, nhưng không có cái thứ vật chất nào làm cho con người nên tội.
Cũng như thế, trần là hiện tượng thu gọn, tổng kết vật chất qua sáu dạng:
sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp trong cái từ lục trần,
th́ đă có thứ nào làm nên tội lỗi cho ai ? Cho nên ta kết luận rơ ràng
rằng căn cũng như trần đều không phải là
nguyên nhân gây nên tội lỗi. Chẳng những thế mà c̣n ngược lại: Căn
trần đều là những dữ kiện để đạt đạo thành tựu viên thông.
Thể nhập sâu sắc tự đáy nguồn chơn lư đó. Lục Tổ Huệ Năng thốt ra bài kệ
bất hủ trong các chốn ṭng lâm kim cổ:
"Phật pháp
tại thế gian
Bất ly thế gian giác
Ly thế mích Bồ Đề
Kháp như cầu thố giác"
Với người giỏi làm kinh tế, họ nh́n ao, hồ,
sông, băi đất hoang họ cũng thấy tiền là tiền, và trong những chỗ đó họ
làm ra tiền được. Một lương y thượng hạng với đám cỏ dại mà họ dẫm qua, lá
hoa lùm bụi mà họ luồn lách đi vào, trong đó, dưới mắt họ vô vàn diệu dược
có thể cải tử hoàn sanh cho những con bệnh đang nằm bên đó mà khổ, mà đau
rên siết.
Người học Phật không được quên vấn đề đơn
giản mà ư nghĩa báu mầu vô giá này: "Hàng độc giác nhị thừa tư duy quán
xét cảnh hoa rơi, trái rụng, lá úa cành khô mà đạt đạo" đấy !
Phản quán sáu căn nội tại, thành A La Hán
quả, chứng được viên thông
rơ ràng không phải là việc khó hiểu xa vời. Người có tư duy, muốn đi và
khởi sự đi trên con đường giải thoát, nhất định sẽ đến đích Niết bàn Bồ Đề
Vô thượng.
*****Top
12. DO NHĂN THỨC ĐƯỢC
VIÊN THÔNG
Ông Xá Lợi Phất đứng dậy cung kính chắp
tay thưa: Bạch Thế Tôn ! Từ nhiều kiếp đến nay, sự nhận thức của tôi
thường thanh tịnh. Số kiếp thọ sanh lên xuống nhiều như số cát sông Hằng.
Do vậy mà các pháp biến hóa thế gian, một khi thấy là tôi nhận thức không
xa chân lư, được vô chướng ngại. Trong lần gặp gỡ giữa đường, anh em ông
Ca Diếp dụng ư theo tôi để thuyết pháp. Các ông nói cho tôi nghe về giáo
lư nhân duyên sâu xa của Phật. Nhân buổi đàm đạo đó, tôi được tỏ ngộ; nhận
thức được rằng: "Tâm không ngằn mé". Rồi tôi theo Phật xuất
gia. Trí tuệ sáng suốt ngày càng viên măn, được đại vô úy, thành A La Hán
quả, trưởng tử Phật. Nay Phật hỏi nguyên nhân tỏ ngộ viên thông,
xin thưa: Theo chỗ chứng đắc của tôi th́ sự nhận thấy rơ ràng, nhận thức
đánh giá chính xác đúng như thực của sự vật hiện tượng là thành công ưu
việt nhất.
13. DO NHĨ THỨC ĐƯỢC VIÊN
THÔNG
Băng 47
Bồ tát Phổ Hiền đứng dậy cung kính chắp
tay bạch Phật: Rằng tôi đă từng làm Pháp vương tử cho các Như Lai nhiều
như số cát sông Hằng. Mười phương Như Lai dạy các đệ tử Bồ Tát tu hạnh Phổ
Hiền chính là do dựa theo đức tinh tấn của tôi mà đặt ra cái tên Phổ
Hiền Hạnh.
Bạch Thế Tôn ! Tôi sử dụng tánh nghe của
tâm mà nhận biết nguyện vọng của chúng sanh, nếu có chúng sanh phát hạnh
Phổ Hiền. Do vậy, giả sử ở một phương khác, cách ngoài hằng sa thế giới,
có chúng sanh phát hạnh Phổ Hiền th́ liền trong lúc ấy, tôi cỡi voi sáu
ngà, phân thân trăm ngh́n đến chỗ người ấy. Phỏng sử người kia nghiệp
chướng sâu dày chưa thấy được tôi, tôi cũng thầm kín xoa đầu an ủi ủng hộ
khiến cho sở nguyện thành tựu. Nay Phật hỏi nguyên nhân tu chứng
viên thông, tôi xin thưa: Sử dụng tánh nghe của nội tâm mà nhận
biết tự tại, đối với tôi là pháp môn ưu việt nhất.
14. DO TỶ THỨC ĐƯỢC VIÊN
THÔNG
Ông Tôn Đà La Nan Đà đứng dậy cung kính
chắp tay thưa với Phật: Lúc tôi mới xuất gia theo Phật học đạo, trong khi
tu tam ma đề, tâm thường tán loạn. Đức Thế Tôn dạy tôi quán điểm trắng ở
chót mũi. Tôi bắt đầu thực hành, trải qua thời gian hai mươi mốt ngày,
thấy hơi thở trong mũi ra vào như khói; thân tâm trong sáng như ngọc lưu
ly. Tướng khói lần lần không c̣n, tâm tôi được khai ngộ, các lậu tận sạch
trong, thành A La Hán. Thế Tôn thọ kư cho tôi thành quả Bồ đề. Nay Phật
hỏi sở nhân được viên thông, xin thưa: Đối với tôi tập trung
ư niệm, quán hơi thở và điểm trắng ở tỷ căn là thành tựu hữu
hiệu nhất.
15. DO THIỆT THỨC ĐƯỢC
VIÊN THÔNG
Ông Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử đứng dậy
cung kính chắp tay bạch Phật: Tôi từ nhiều kiếp đến nay biện tài vô ngại,
tuyên thuyết các pháp: khổ, không, hiểu sâu thật tướng: cho đến những pháp
môn bí mật như hằng sa của Như Lai, tôi có thể diễn giảng trước đại chúng
không hề có sự sai lầm và sợ sệt. Thế Tôn biết tôi có đại biện tài, dạy
tôi tuyên dương chánh pháp, giúp Phật chuyển pháp luân. Tôi nhờ giảng nói
chánh pháp mà được quả A La Hán. Thế Tôn ấn chứng cho tôi là: "thuyết pháp
đệ nhất". Nay Phật hỏi nguyên nhân được viên thông, xin thưa:
Tôi dùng pháp âm hàng phục tà ma ngoại đạo, tiêu trừ hoặc lậu là ưu việt
nhất.
16. DO THÂN THỨC ĐƯỢC VIÊN
THÔNG
Ông Ưu Ba Ly đứng dậy cung kính chắp tay
bạch Phật: Rằng chính tôi theo Phật vượt thành xuất gia. Tôi thấy Như Lai
sáu năm cần khổ, cuối cùng hàng phục tà ma, chế ngự ngoại đạo, giải thoát
các lậu thế gian. Phật dạy tôi tŕ giới, giữ ǵn tánh nghiệp, giá nghiệp
của thân miệng, ư, giữ vẹn ba ngh́n oai nghi, tám vạn tế hạnh. Nhờ vậy,
thân tâm tịch tịnh thành quả A La Hán. Nay làm kỷ cương trong đại chúng,
Như Lai ấn chứng tôi là "tŕ luật đệ nhất". Hôm nay Phật hỏi phương tiện
được viên thông, xin thưa: Đối với tôi do giữ ǵn thân
được thanh tịnh. Thân đă thanh tịnh th́ tâm sẽ thanh tịnh theo. Đó là
phương pháp uốn dẹp tu sửa thân tâm hữu hiệu nhất.
17. DO Ư THỨC ĐƯỢC VIÊN
THÔNG
Ông Đại Mục Kiền Liên đứng dậy cung kính
chắp tay bạch Phật: Rằng lúc nọ tôi đi khất thực giữa đường được ba anh em
ông Ca Diếp: Ưu Lâu Tần Loa, ông Dà Gia và Na Đề giảng nói lư nhân duyên
thậm thâm của Phật, tâm tôi bừng ngộ thông suốt rỗng rang. Như Lai ban cho
ca sa mặc vào thân, râu tóc tự cạo. Tôi có khả năng du hí khắp mười phương
không trở ngại. Đại chúng suy tôn tôi là "thần thông đệ nhất", trong hàng
vô học A La Hán. Nay Phật hỏi viên thông, xin thưa: Tôi xoay
ư thức trở về tánh sáng suốt trạm nhiên. Giống như lóng nước đục, lóng
nước lâu trở về tự thể trong sạch. Đó là phương tiện tu sửa đối với tôi
hữu hiệu nhất.
TRỰC CHỈ
Thức là dụng của
căn,
là chủ thể nhận thức phân biệt
trần.
Đó là tánh thấy của mắt, tánh nghe của tai, tánh ngửi của mũi, tánh nếm
của lưỡi, tánh xúc của thân, tánh tư duy của ư. Gọi chung qua cái từ
lục thức,
tức là sáu công dụng của sáu giác quan.
Năm thức trước tiếp xúc với năm trần sự
lượng định để nhận thức, chúng chỉ có
hiện lượng.
Cho nên chúng chẳng lượng định phân biệt ǵ. Do đó, công dụng của năm thức
trước không có ư niệm: mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét… phải, quấy, tốt,
xấu, lấy, bỏ, hơn, thua… cho nên năm thức trước không thể tạo nên nghiệp
thiện hay ác.
Chỉ có ư thức ngoài hiện lượng ra, c̣n có thêm hai lượng:
tỷ và phi lượng.
Năm thức trước, nếu chung khởi với phi lượng
của ư thức, sẽ gây ra sự sai quấy hoàn toàn đối với
chơn lư.
Năm thức trước nếu chung khởi với tỷ lượng
của ư thức th́ sự nhận thức của con người có thể đúng mà cũng có thể sai.
Nhận thức đúng chơn lư, trường hợp này được gọi là
thiện. Nhận thức sai chân lư th́ gọi là
bất thiện, là ác.
Từ nhận thức đó, ta thấy
thức cũng không phải là nguyên nhân để
sanh ra thiện ác tội phước.
Tội
là do bất giác vô minh, do mê.
Phước
th́ chỉ cần cảnh giác, cần sáng suốt không mê là trở nên người
giác. Cho nên gọi là "tu" không cần phải dựa trên
h́nh thức này, nghi lễ nọ, cúng bái cầu đảo rườm rà. Chỉ cần cảnh giác
phiền năo: tham, sân, si, mạn… Chỉ cần tâm trí sáng suốt để nhận biết: ta
- bạn - giặc. Đừng để kẻ giặc cướp vô minh phiền năo vào nhà chơn
tâm thường trú, thể tánh tịnh minh cướp phá sự nghiệp trí tuệ giác
ngộ giải thoát của ta. Chỉ cần không mê th́ ta là
giác. Chỉ cần không vọng, ta tự sẵn có chơn.
Tu mà chú trọng nhập thất, đóng cửa tự
giam ḿnh lễ bái "trú dạ lục thời", nguyện tụng bộ kinh này, thệ tŕ danh
Phật nọ, hy vọng khấn vái chư Phật mười phương: "thùy từ gia hộ": "gia hộ
cho con hiện tiền tội diệt phước sanh, thiện căn tăng trưởng", và "tha
nhật đắc A Di Đà thọ kư"… Đó là lối tu theo cái đạo cầu bên ngoài. Lục Tổ
Huệ Năng gọi hạng người đó là "ngoại
đạo".
Ngoại đạo
có nghĩa là cái đạo hy vọng ở tha nhân, cái đạo "ngồi chờ sung rụng" vào
mồm.
Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật của chúng
ta, từ kim khẩu đă từng thọ
kư rằng.
"Tất cả chúng sanh đă thành Phật" (kinh
Pháp Hoa
"Tất cả chúng sanh sẽ thành Phật" (kinh
Hoa Nghiêm)
Thọ kư như vậy mà chưa vừa ḷng, chưa thỏa
măn hay sao ? Mà c̣n cầu: "Tha nhật đắc A Di Đà thọ kư !…" Phật tử chúng
ta hăy soát lại ḷng ḿnh. Một con người tham lam vô độ, có xứng đáng là
đệ tử Phật chưa? Hàng cư sĩ không có thời giờ học hỏi giáo lư, tham lam
cầu: "Tha nhật đắc A Di Đà thọ kư" c̣n có lư do để tha thứ. Chớ Tăng Ni,
người trưởng tử Phật Thích Ca mà không tin lời
thọ kư của đức Bổn Sư ḿnh, th́ xin ai
đó, hăy để ḷng tự xét…
Hay là người ta viện lẽ:
"Phật nhà không thiêng…"
*****Top
18. DO HỎA ĐẠI ĐƯỢC VIÊN
THÔNG
Băng 48
Ông Ô Sô Sắc Ma đứng dậy cung kính chắp
tay bạch Phật: Tôi nhớ những kiếp xa xưa, tánh tôi nhiều tham dục. Bấy giờ
nhằm thời Đức Phật Không Vương trụ thế. Đức Không Vương Như Lai bảo rằng:
"Người đa dâm như đống lửa hồng". Rồi Phật dạy tôi quán hơi nóng trong cơ
thể cả khắp tứ chi. Nhờ quán như vậy tinh thần sáng suốt, nội tâm đứng
lặng, tâm háo dâm trở thành lửa trí tuệ. Từ đó, chư Phật gọi tôi với cái
tên Hỏa Đầu. Tôi dùng sức hỏa quang tam muội mà chứng quả A La Hán. Tôi
phát đại nguyện, nếu có chư Phật thành đạo th́ tôi làm lực sĩ hầu cận Phật
để đánh dẹp bọn tà ma khuấy phá. Nay Phật hỏi nhân duyên được viên
thông, xin thưa rằng: Do tôi quán hơi ấm trong thân, lưu thông
không ngăn ngại; từ đó các lậu tiêu trừ, sanh lửa trí tuệ. Đối với tôi, đó
là pháp tu hữu hiệu nhất.
19. DO ĐỊA ĐẠI ĐƯỢC VIÊN
THÔNG
Ngài Tŕ Địa Bồ Tát đứng dậy cung kính
chắp tay bạch Phật: Rằng tôi nhớ lại trong những kiếp xa xưa, tôi từng
được gặp Phật và cúng dường chư Phật như hằng sa, và cũng từng phục vụ vô
lượng chúng sanh đem đến chúng sanh nhiều lợi lạc. Trong một kiếp nọ, ở
vào thời Phật Phổ Quang trụ thế, tôi là một tỳ kheo phát tâm sửa chữa
những đoạn đường gồ ghề sụp lở, những bến xe, bến đ̣ bất tiện cho sự đi
lại của nhiều người. Ngoài những công tŕnh gánh đất, bưng sỏi, đắp bồi
sửa chữa như vậy, tôi c̣n mang gánh giúp đỡ những người gánh gồng nặng
nhọc ở chợ búa mà không lấy tiền công.
Vào thời Phật Tỳ Xá Phù trụ thế, nhân gian
nhiều đói kém, tôi phải cơng giúp nhiều người không kể gần xa mà chỉ lấy
một đồng tiền… có lúc tôi ra sức kéo phụ xe trâu qua những nơi khá lầy
lội. Có lúc v́ Phật tôi sửa đường bằng phẳng đợi Phật đi hóa trai.
Một hôm Đức Tỳ Xá Phù Như Lai đi qua đoạn
đường tôi vừa sửa chữa. Phật xoa đầu tôi mà dạy rằng: "Nên b́nh cái tâm
địa th́ đất đai trên thế giới đều b́nh". Tôi nghe, tâm liền sáng bừng tỏ
ngộ. Tôi quán thấy vi trần trong cơ thể cùng tất cả vi trần tạo thành thế
giới bên ngoài không sai khác ǵ nhau. Tự tánh vi trần không chạm sát với
nhau, cho đến đao binh các thứ tự nó cũng không va chạm ǵ. Nhờ nhận thức
như vậy, tôi tỏ ngộ vô sanh nhẫn, thành A La Hán hồi tâm. Nay ở trong hàng
Bồ Tát nghe Phật dạy: Tri kiến Phật như diệu liên hoa, tôi
lănh hội trước tiên, đại chúng suy tôn là thượng thủ. Nay Phật hỏi nguyên
do đạt đến viên thông, xin thưa: Do tôi quán trần ở nội thân
và trần cấu của thế giới bên ngoài b́nh đẳng không sai khác. Tất cả từ Như
Lai Tàng tùy duyên biến hiện. Vọng tâm chấp mắc trần tướng tiêu vong th́
trí tuệ viên măn thành đạo Bồ Đề. Đó là đối tượng sở quán, đối với tôi đem
lại thành công ưu việt nhất.
20. DO THỦY ĐẠI ĐƯỢC VIÊN
THÔNG
Băng 49
Ngài Nguyệt Quang đồng tử đứng dậy cung
kính chắp tay bạch Phật: Rằng tôi nhớ hằng sa kiếp trước có đức Phật ra
đời hiệu Thủy Thiên. Thủy Thiên Như Lai dạy các Bồ Tát nên quán về
nước để nhập tam ma đề. Phật dạy quán tánh nước không ǵ
lấn cướp làm cho mất hẳn được. Từ nước mắt, nước mũi, nước miếng, nước
tiểu, nước tân dịch trong châu thân… đều quán một tánh nước đồng nhau.
Tánh nước trong tự thân cùng tánh nước các bể hương thủy phù trần vương
sát của thế giới bên ngoài, đồng nhau không sai khác. Lúc tôi thành tựu
pháp thủy quán này, tôi chỉ thấy được tánh đồng của nước mà chưa thấy được
"thân không". Hồi bấy giờ, tôi là một tỳ kheo tọa thiền trong một tịnh
thất, có người đệ tử trông cửa sổ nh́n vào, thấy toàn là nước. V́ nhỏ dại
nó liền lấy một miếng ngói ném vào, rồi tự bỏ đi. Khi xuất định tôi thấy
tim đau một cách lạ thường. Truy nguyên ra duyên cớ, tôi bảo người đệ tử:
Khi tôi nhập định, trông thấy nước trong thất th́ hăy vào nhặt miếng ngói
mà người đă ném ấy ra. Quả thật, khi xuất định, tôi không c̣n đau đớn nữa.
Qua vô lượng kiếp sau tôi được gặp vô
lượng Phật, nhưng chưa chứng ngộ. Măi đến thời Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông
Vương Như Lai th́ tôi mới chứng được "không thân". Bây giờ tôi thấy rơ
nước trong tự thân cùng với nước bể Hương Thủy trong mười phương thế giới
đồng một tánh chân không, không sai khác. Ở nước Phật Sơn Hải Huệ Tự Tại,
tôi được hiệu là Đồng Chân, dự vào hàng Bồ Tát. Nay Phật hỏi nguyên nhân
được viên thông, xin thưa: Do tôi quán tánh nước
dung thông mà được vô sanh nhẫn. Đối với tôi, pháp Thủy quán là ưu
việt nhất.
21. DO PHONG ĐẠI ĐƯỢC VIÊN
THÔNG
Ngài Lưu Ly Quang Pháp Vương Tử đứng dậy
cung kính chắp tay bạch Phật: Tôi nhớ lại hằng sa kiếp trước có Phật ra
đời hiệu là Vô Lượng Thanh. Phật khai thị cho các Bồ Tát về: Bản
giác diệu minh. Dạy các Bồ Tát quán: Thế giới và chúng sanh đều do
sự vận động của sức gió vọng duyên chuyển biến mà h́nh
thành. Riêng tôi, lúc bấy giờ, tôi quán không gian an lập; quán thời gian
trôi đi măi; quán thân, khi động khi dừng; quán tâm, niệm trước diệt, niệm
sau sanh… Tất cả những chuyển động biến diệt, tôi thấy không hai không
khác. Tôi nhận thức rơ rằng tánh của các thứ động: Đến không chỗ từ, đi
không chỗ tới. Tất cả chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế giới có
trong pháp giới mười phương do sức gió vọng duyên mà h́nh
thành, mà sanh hoạt với nhau trong tánh bản giác diệu minh, chơn tâm
minh diệu. Giống như hàng vạn muỗi ṃng trong một cái đồ đựng, kêu
vo vo rầm rỉ, ào ào rối rít với nhau.
Tôi quán sát tư duy như vậy, không bao
lâu, tôi được vô sanh pháp nhẫn làm vị Pháp Vương tử. Nay Phật hỏi
viên thông, xin thưa: Do tôi quán tánh phong đại "đi
không chỗ từ, đến không chỗ tới" mà tỏ ngộ tâm Bồ Đề. Đối với tôi th́ quán
phong đại là đệ nhất.
22. DO KHÔNG ĐẠI ĐƯỢC VIÊN
THÔNG
Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát đứng dậy cung
kính chắp tay bạch Phật: Tôi nhớ lại tôi cùng Như Lai đồng chứng được "vô
biên thân" hồi thời Phật Định Quang. Lúc đó tay tôi cầm bốn đại bảo châu
chiếu sáng cơi Phật mười phương như số vi trần đều hóa thành hư không. Bấy
giờ tâm tôi sáng suốt thành trí Đại Viên Cảnh. Tôi quán sát khắp phù trần
hương sát cùng tột hư không, nhập vào thân tôi. Thân tôi và hư không không
ngăn ngại ǵ nhau. Do vậy, tôi khéo vận dụng hài ḥa vào cơi nước như vi
trần làm Phật sự được thuận lợi lớn lao. Sức thần to lớn đó do tôi quán
sát tứ đại không có chỗ sở y. Do vọng tưởng mà thấy có diệt có sanh. Hư
không không hai, cơi Phật vốn đồng. Do tôi phát minh được tánh đồng mà
chứng được vô sanh pháp nhẫn. Nay Phật hỏi duyên nhơn nào được viên
thông, xin thưa: Do tôi quán chiếu hư không vô biên
mà thể nhập tam ma đề là phương tiện ưu việt nhất.
*****Top
23. DO THỨC ĐẠI ĐƯỢC VIÊN
THÔNG
Băng 50
Ngài Di Lặc Bồ Tát đứng dậy cung kính chắp
tay bạch Phật: Tôi nhớ lại vi trần kiếp trước có Đức Phật hiệu Nhật Nguyệt
Đăng Minh. Tôi được theo Phật xuất gia, nhưng tâm c̣n trọng hư danh thế
gian, ưa giao du với các hàng vọng tộc. Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh dạy tôi
tu tập định: Duy tâm thức và tôi được nhập tam ma đề. Trải
hằng sa số kiếp đến nay, tôi sử dụng tam muội ấy, phụng sự hằng sa chư
Phật, tâm cầu danh, được diệt hết. Đến thời Phật Nhiên Đăng ra đời tôi mới
chứng được tam muội thức tâm diệu viên vô thượng. Bấy giờ
tôi quán thấy cơi nước của chư Như Lai, tột bờ mé hư không, tịnh, uế, có,
không đều do thức tâm biến hiện.
Bạch Thế Tôn ! Do tôi tỏ ngộ Duy tâm
thức, thức tánh của tôi xuất hiện vô lượng Như Lai, và hiện nay
được Phật thọ kư, tôi sẽ được bổ xứ thành Phật ở cơi Ta Bà sau này. Nay
Phật hỏi nguyên nhân viên thông, xin thưa: Tôi quán mười
phương đều Duy thức. Thức tâm tṛn sáng th́ xa ĺa tánh biến kế, nhận thức
đúng thực thể của tánh y tha khởi th́ chứng nhập tánh viên thành thật,
được vô sanh nhẫn. Đối với tôi đó là pháp quán ưu việt nhất.
24. DO KIẾN ĐẠI ĐƯỢC VIÊN
THÔNG
Băng 51
Ngài Đại Thế Chí Pháp Vương Tử cùng với 52
vị Bồ Tát đồng tu một pháp môn cùng đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật:
Tôi nhớ hằng sa kiếp trước có Đức Phật ra đời hiệu Vô Lượng Quang. Thời đó
có 12 đức Phật ra đời trong một kiếp. Đức Phật sau hết hiệu là Siêu Nhật
Nguyệt Quang dạy cho tôi phép niệm Phật tam muội: Rằng Thập phương Như Lai
thương nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con. Nếu con cũng đồng nhớ mẹ như mẹ nhớ
con th́ đời đời mẹ con không xa cách. Tâm chúng sanh nhớ tưởng Phật th́
tâm ấy là Phật. Nhất định thấy Phật, không cần phương tiện nào khác. Ví
như người ướp hương th́ toàn thân thể sẽ thành thơm, ấy gọi là hương quang
trang nghhiêm. Chính tôi nhờ niệm Phật mà được vô sanh nhẫn. Nay ở cơi Ta
Bà, tôi nguyện hướng dẫn người niệm Phật để có được tịnh độ. Phật hỏi nhân
duyên nào được viên thông, xin thưa: Tôi thu nhiếp tất cả
sáu căn không vọng niệm. Do chánh niệm tương tục mà được tam ma đề đối với
tôi đấy là pháp môn thù thắng nhất.
TRỰC CHỈ
Băng 52
Đại có nghĩa là bao trùm phổ biến khắp
không gian và thời gian. Địa, thủy, hỏa, phong, không, kiến, thức. Phật
học gọi đó là thất đại, v́ bảy thứ này phổ biến không chỗ nào không có.
Không gian, thời gian, hàm tàng thất đại không dư không thiếu; nói cách
khác tự thể không gian, thời gian là thất đại ấy. Nếu tách bỏ thất đại ra,
không thể có khái niệm không gian và thời gian. Do thất đại mà khái niệm
không gian và thời gian được cụ thể hóa, được h́nh thành. Thất đại là
nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng vạn hữu, duyên khởi sanh ra hiện
tượng vạn hữu. Tuy nhiên nó chưa phải là một đơn vị thực thể cố định bất
di bất dịch, một yếu tố đầu tiên của hiện tượng vạn hữu nào. Theo Phật
học, không có một sự vật nào có một thực thể cố định bất di bất dịch của
tự nó. Không có một sự vật nào sanh ra mà không kết hợp tương quan với
những yếu tố khác. Chỉ len đan thành chiếc áo len, nhưng chỉ len không
phải là yếu tố đầu tiên của chiếc áo len ấy. Địa, thủy, hỏa, phong, không,
kiến, thức là những h́nh thái của chủng tử được biểu hiện rơ nét hơn trong
Như Lai Tàng bản thể mà thôi.
Nếu ḥa hợp bởi năm đại: Địa, thủy, hỏa,
phong và không là đủ yếu tố duyên khởi ra núi sông, đất liền, cây cỏ…
trong vũ trụ.
Nếu ḥa hợp đủ bảy đại th́ sẽ duyên khởi
sanh ra những loại chúng sanh có tri giác trong vũ trụ.
Trong các loại hữu t́nh có giác tri, con
người là ưu việt nhất.
Núi sông đất liền cỏ cây hoa lá gọi là khí
thế gian hoặc cũng gọi là vô t́nh chúng sanh.
Những loài có tri giác gọi là chánh báo
thế gian cũng gọi là hữu t́nh chúng sanh.
Nh́n bên khí thế gian để t́m hiểu nguyên
ủy của hiện tượng vạn hữu, người ta gọi đó là
vũ trụ quan.
Nh́n bên hữu t́nh thế gian để t́m hiểu
nguồn gốc nguyên thỉ của con người, người ta gọi đó là
nhân sanh quan.
Qua giáo lư đoạn kinh Thủ Lăng Nghiêm này,
ta thấy vũ trụ nhân sanh đồng một bản thể. Như Lai Tàng bản thể duyên sanh
hiện tượng vạn hữu như nước duyên khởi sóng ṃi bọt bong bóng vậy. Với cái
nh́n của người đạt đạo, nhận thức rơ chân lư của hiện tượng vạn pháp qua
quy luật: tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên; người ta tự tại an nhiên
thoải mái cả trong vấn đề sống chết:
"Trường
không túng sử song phi cốc
Cự hải hà pḥng nhất điểm âu".
Tuệ Trung thượng sĩ, một thiền sư Việt Nam
đời Trần, quan niệm sự sống chết dễ dàng, không chút sợ sệt, lo âu như
vậy. Tạm dịch hai câu thơ đó như sau:
"Cổ xe ảo
ảnh trong không
Có ai tham đắm nặng ḷng ước ao?
Mặt hồ sóng bọt lao xao
Có ai đau khổ bọt tan sóng b́nh"?
Do con người nhận thức sai lầm vạn hữu,
đánh giá quá thấp hoặc quá cao. Sự sai lầm đó, phủ lên hiện tượng vạn hữu
lớp sương mù "biến kế chấp" làm cho con người không nhận được thực chất "y
tha duyên" của hiện tượng vạn hữu. Do đó càng không thể biết được nguồn
gốc thanh tịnh bản nhiên của "viên thành thật" trong bản thể Như Lai tàng.
Do đó vọng sanh quan niệm:
Sanh, diệt, hữu, vô, đoạn, thường, khứ, lai…
loạn khởi.
Các Bồ Tát ngược ḍng quán chiếu, thấy rơ
sự thật "y tha" dùng đuốc trí tuệ rọi tan sương mù "biến kế", nhận chân
cái thật tánh "viên thành" của thất đại. Th́ ra: địa, thủy, hỏa, phong,
không, kiến, thức vốn là chân không thanh tịnh bản nhiên, châu biến pháp
giới. Không có một pháp nào mang theo, đem đến cho ai một mảy may vương
víu một tí tị phiền năo khổ đau nào !
Do vậy, 25 vị thánh đệ tử, dựa trên căn trần, thức
và thất đại đều chứng được quả giải thoát viên
thông.
*****Top
Băng 53
CHƯƠNG THỨ SÁU
DO NHĨ CĂN ĐƯỢC VIÊN THÔNG
BỒ
TÁT QUÁN THẾ ÂM TRẦN THUẬT PHÁP
TU CHỨNG CỦA M̀NH
Khi bấy giờ Bồ Tát Quán Thế Âm đứng dậy
cung kính chắp tay thưa: Bạch Thế Tôn ! Tôi nhớ hằng hà sa kiếp trước, có
đức Phật ra đời hiệu là Quán Thế Âm và tôi đă phát Bồ Đề tâm thời ấy. Đức
Phật Quán Thế Âm dạy tôi phương pháp nghe, suy nghĩ và
tu để được thể nhập tam ma đề (chánh định).
Bạch Thế Tôn ! Trước hết tôi sử dụng tánh
nghe: Nghe động và nghe tĩnh, rồi tôi xóa đi ư niệm động tĩnh ấy; từ đó
sức tịch tĩnh tăng dần, tôi dứt được năng văn và sở
văn. Sức tịch tĩnh không dừng ở đó bấy giờ giác tánh tôi lại hiển
hiện ra. Tôi tiếp tục tư duy: Dù là giác tánh nhưng tánh "năng giác", "sở
giác" hăy c̣n, tôi bèn xóa đi về ư niệm giác; bấy giờ tâm tánh tôi rỗng
rang lặng lẽ như hư không. Tôi lại diệt đi cái giác tri "như hư không" ấy.
Cuối cùng tôi diệt cả cái khái niệm "diệt". Khi tôi diệt hết khái niệm vi
tế về "diệt sanh, sanh diệt" bỗng dưng tôi nhận thấy toàn thể pháp giới
trong mười phương chỉ c̣n là cảnh giới "bất nhị" tịch diệt hiện tiền. Tâm
tánh của tôi viên măn khắp giáp mười phương vượt hẳn tầm nhận thức thường
t́nh của thế gian, tôi được hai món thù thắng: Một là tâm tôi hợp với bản
giác nhiệm mầu của mười phương Như Lai, đồng một từ tâm hướng hạ cứu độ
chúng sanh. Hai là hợp với tâm của lục đạo chúng sanh trong mười phương,
đồng một bi tâm hướng thượng cầu Vô thượng Bồ Đề.
DO TỪ TÂM BỒ TÁT QUÁN
THẾ ÂM
HIỆN 32 ỨNG THÂN
Bạch Thế Tôn ! Do tôi cúng dường Quán Thế
Âm Như Lai, được Phật truyền thụ cho tôi như huyễn văn huân văn tu
kim cang tam muội nên thân tôi thành tựu 32 ứng thân vào các cơi
nước.
Bạch Thế Tôn !
-
Nếu các Bồ Tát vào tam ma đề tiến tu
pháp vô lậu, thắng giải viên măn, tôi hiện thân Phật v́ họ mà thuyết pháp
khiến cho được giải thoát.
-
Nếu các hàng hữu học tu pháp tịch tĩnh
diệu minh viên măn, tôi hiện thân Độc Giác v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu các hàng hữu học đoạn 12 nhơn
duyên, phát ra thắng tánh viên măn, tôi hiện thân Duyên Giác v́ họ mà
thuyết pháp.
-
Nếu các hàng hữu học được pháp không
của tứ đế, tu đạo đế, thể nhập diệt đế, thắng tánh viên măn, tôi hiện thân
Thanh Văn v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu chúng sanh muốn tâm tỏ ngộ, không
vướng vào ngũ dục, muốn thân được thanh tịnh, tôi hiện thân Phạm Vương v́
họ mà thuyết pháp.
-
Nếu chúng sanh muốn làm thiên chủ thống
lănh chư thiên, tôi hiện thân Đế Thích v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu chúng sanh muốn thân được tự tại
dạo khắp mười phương, tôi hiện thân Tự Tại Thiên v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu chúng sanh muốn thân được tự tại,
bay đi trên hư không, tôi hiện thân Đại Tự Tại Thiên v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu có chúng sanh thích thống lănh quỷ
thần cứu quốc hộ dân, tôi hiện thân Thiên Đại Tướng Quân, v́ họ mà thuyết
pháp.
-
Nếu chúng sanh muốn thống lănh quỷ
thần, cứu giúp cơi nước, tôi hiện thân Thiên Đại Tướng Quân v́ họ mà
thuyết pháp.
-
Nếu các chúng sanh muốn sanh ở thiên
cung, tôi hiện thân Thái tử, con Tứ Thiên Vương v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu các chúng sanh muốn làm vua cơi
người, tôi hiện thân Vua v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu các chúng sanh muốn làm chủ gia
đ́nh danh tiếng, thế gian kính nhường, tôi hiện thân Trưởng giả v́ họ mà
thuyết pháp.
-
Nếu các chúng sanh thích luận lời hay,
giữ ḿnh trong sạch tôi hiện thân Cư sĩ v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu các chúng sanh muốn kinh bang tế
thế, tôi hiện thân Tể quan v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu các chúng sanh thích chú thuật
toán số, thu nhiếp nhân tâm, tôi hiện thân Bà La Môn v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu các thiện nam muốn xuất gia tu
học, tôi hiện thân tỳ khưu v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu có người tín nữ muốn xuất gia, tôi
hiện thân tỳ khưu ni v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu có người thiện nam muốn giữ giới
tu hành, tôi hiện thân ưu bà tắc v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu có người tín nữ, muốn thọ năm giới
tập tu, tôi hiện thân ưu bà di v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu có người nữ thích đường chánh trị
phụ quốc an bang tôi hiện thân là mệnh phụ phu nhân, thân nữ chúa v́ họ mà
thuyết pháp.
-
Nếu chúng sanh nam căn chưa ô nhiễm,
tôi hiện thân đồng nam v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu có người nữ thích thân xử nữ, tôi
hiện thân là đồng nữ v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu có hàng chư thiên muốn ra khỏi
loài trời, tôi hiện thân Chư Thiên v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu có rồng muốn ra khỏi loài rồng,
tôi hiện thân rồng v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu có dược xoa muốn ra khỏi loài
ḿnh, tôi hiện thân dược xoa v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu có càn thát bà muốn thoát khỏi
loài ḿnh, tôi hiện thân càn thát bà v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu có a tu la muốn ra khỏi loài ḿnh,
tôi hiện thân a tu la v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu có khẩn na la muốn thoát khỏi loài
ḿnh, tôi hiện thân khẩn na la v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu có ma hầu la già muốn thoát khỏi
loài ḿnh, tôi hiện thân ma hầu la già v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu có chúng sanh thích làm người, tôi
hiện thân người v́ họ mà thuyết pháp.
-
Nếu có loài phi nhân hoặc có h́nh hoặc
không h́nh, hoặc có tưởng hoặc không tưởng, muốn thoát khỏi loài ḿnh, tôi
hiện thân như họ v́ họ mà thuyết pháp.
Đó là 32 ứng thân nhiệm mầu có thể hiện
vào các cơi nước trong mười phương, do kết quả của văn huân văn tu
tam muội mà thành tựu sức nhiệm mầu "vô tác" như vậy.
TRỰC CHỈ
Ở đoạn kinh trước, Phật gạn hỏi đại chúng
về nguyên nhân của sự đạt đạo được
viên thông,
thứ lớp trước sau có 25 vị Thánh đệ tử, mỗi người đều tŕnh bày cái nguyên
nhân chứng đắc của ḿnh.
Như chúng ta đă biết, 6 căn, 6 trần, 6
thức và 7 đại đều là dữ kiện tạo nên Thánh quả chứng đắc
viên thông.
Nhĩ căn viên thông
lẽ ra phải được theo thứ lớp mà tŕnh bày ở trong nhóm người dựa trên 6
căn được viên thông
ở đoạn kinh trước. Nhưng ở đây trái lại,
nhĩ căn viên thông được Bồ Tát Quán Thế Âm tŕnh bày sau rốt. Đó
không phải là một sự kiện b́nh thường, càng không nên hiểu đó là sự ngẫu
nhiên hay do sơ sót, mà đó là tánh chất trọng đại của nhĩ căn, ta
sẽ thấy rơ ở đoạn kinh sau.
Hằng hà sa số kiếp trước có Phật ra đời
hiệu là Quán Thế Âm,
đến thời Phật Thích Ca lại có Bồ Tát cùng hiệu
Quán Thế Âm.
Điều này nhằm dạy cho mọi người đệ tử Phật phải hiểu rằng: Cùng là
nhĩ căn
năng văn; cùng là âm trần
sở văn, mà người sử dụng khác nhau th́ hiệu quả giải thoát giác ngộ cũng
khác nhau.
Quán
là trí quán
niệm của con người.
Âm
là đối tượng nghe,
là thanh trần đó.
Niệm
quán âm
là chỉ cho lúc trí năng quán
và âm văn
sở quán chưa được thường xuyên liên tục. Khi con người vận dụng
trí năng quán và âm văn sở quán không
gián đoạn, chính lúc đó là Quán Thế Âm Bồ Tát hiện thân
trong ta, thuyết pháp cho ta nghe rồi đó.
Kinh nói: Bồ Tát hiện 32 ứng thân vào các
cơi nước khắp mười phương thuyết pháp cho chúng sanh theo sở thích đáp ứng
theo yêu cầu của họ. Sự kiện này phải được hiểu rằng tất cả chúng sanh trừ
ba hạng người ác nghiệp cực trọng ở loài địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh,
c̣n lại tất cả mọi hạng người từ phàm phu đến Thánh vị đều có thể được Bồ
Tát Quán Thế Âm
hiện thân cứu độ. Nói một cách khác là những bậc thượng căn phát tâm tu
hành cầu thành Phật quả cho đến những người hạ trí, nhơn và phi nhơn đều
có khả năng quán niệm
về âm văn
để được có an lành, tự tại giải thoát và giác ngộ theo khả năng tŕnh độ
của chính bản thân ḿnh.
Nếu có ít nhiều thiền định tư duy nếu biết
dụng ư lắng nghe người ta có thể nghe trong mọi nơi chốn, mọi trường hợp
những âm văn
thanh tịnh giải thoát. Âm
văn đó, nghe được nhiều hay
ít là do ta vận dụng quán
trí của ta nó liên tục được
ít hay nhiều. Cho nên kinh nói:
Quán Thế Âm
hiện thân thuyết pháp cho chúng sanh bằng "Vô
tác diệu lực" nghĩa là bằng
sức mầu nhiệm "không có làm". Nói "hiện thân" nhưng kỳ thực chẳng tốn sức
"thần biến" "hóa hiện" ra thân. Nói "thuyết pháp" kỳ thực chẳng tốn một tí
hơi và một âm thanh nào vang dội. Quán Thế Âm hiện thân bằng chính bản
thân của mọi người. Quán Thế Âm thuyết pháp bằng chính âm thanh thanh tịnh
trong ḷng trong sáng của mọi người, khi người đó biết sử dụng tánh nghe.
Quán Thế Âm là Diệu âm; Quán Thế Âm là
Phạm âm; Quán Thế Âm là Hải Triều âm; Quán Thế Âm c̣n là âm thanh vượt hơn
những âm thanh của thế gian thường nghe và xưng gọi ấy nữa. Quán Thế Âm là
Thánh của thanh tịnh, của giải thoát và giác ngộ; v́ tánh quan trọng tàng
ẩn một chân lư thẩm sâu, nên đặt cách để vấn đề
nhĩ căn viên thông
của Bồ Tát Quán Thế Âm rốt sau 25 vị Thánh.
*****Top
Băng 54
DO
BI TÂM BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM
THÀNH TỰU 14 ĐỨC VÔ ÚY THÍ
Bạch Thế Tôn ! Do vô tác diệu lực VĂN HUÂN
VĂN TU kim cang tam muội cho nên tôi và tất cả lục đạo chúng sanh trong
mười phương ba đời cùng có một bi tâm hướng thượng cho nên tôi và tất cả
chúng sanh thành tựu được 14 thứ công đức vô úy:
-
Tôi không quán âm thanh đối tượng mà
tôi quán cái tâm năng quán của ḿnh, khiến cho chúng sanh khổ năo trong
mười phương quán âm thanh như vậy th́ được giải thoát.
-
Tôi xoay tri kiến của ḿnh soi rọi nội
tâm, khiến chúng sanh dù vào trong lửa mà lửa không đốt cháy (lửa dâm, lửa
sân, lửa hận thù…)
-
Tôi quán tánh nghe xoay vào nội tâm,
khiến chúng sanh dù có bị nước to cuốn đi mà không hề bị ch́m đắm (nước
ái, nước nhẹ dạ yếu ḷng, nước yêu thương mù quáng…).
-
Tôi đoạn diệt hết vọng tưởng, không c̣n
tâm sát hại, khiến chúng sanh dù phải vào trong cơi nước của quỷ, quỷ cũng
không hại được (quỷ sát, quỷ đạo, quỷ dâm, quỷ thấy ác… nghe ác và làm
ác…).
-
Tôi huân tập cái tánh nghe, nghe vào tự
tánh. Tánh thấy, tánh ngửi, tánh nếm, tánh xúc, biết cũng như vậy, khiến
chúng sanh đang khi bị hại dao mác, vũ khí găy rơi từng khúc chẳng xúc
phạm được (dao hai lưỡi, dao ưu sầu, dao tâm…).
-
Tánh nghe, tôi huân tập đến độ tinh
thuần, sáng suốt khắp trùm pháp giới; tất cả những ǵ đen tối không tồn
tại được, khiến cho chúng sanh dù ở gần bên với ác quỷ: Dược xoa, cưu bàn
trà, tỳ xá xà, phú đơn na v.v… mà chúng không nh́n thấy được (quỷ thô bạo,
quỷ bất nghĩa, quỷ vô lương…).Băng
55
-
Tánh năng văn tôi quán xoay vào, thanh
trần đối tượng tiêu vong, khiến chúng sanh xa tránh tất cả gông cùm xiềng
xích không vương chạm đến thân
(gông luật pháp, cùm hận thù vay trả, thích đấu tranh thị phi ân oán giang
hồ…).
-
Tôi diệt âm thanh đối tượng, tánh nghe
viên măn sanh sức từ cùng khắp, khiến chúng sanh đi qua đường hiểm mà giặc
cướp không thể cướp được (giặc phiền năo có 6 thằng túc trực phục kích ở
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư để cướp của báu công đức của ta).
-
Do tôi huân tập tánh nghe được thanh
tịnh, tách khỏi trần tướng. Sắc, thanh… không cám dỗ được, khiến cho những
chúng sanh đa dâm xa ĺa được ḷng tham dục nặng nề.
-
Tôi chỉ lưu lại thuần một viên âm
thanh tịnh, không c̣n đối tượng thanh trần, căn cảnh viên dung, dứt đối
đăi năng văn sở văn khiến chúng sanh xa ĺa được tham sân si phẩn nhuế.
-
Tiêu diệt thanh trần đối tượng tôi
xoay cái nghe về tánh bản minh, thân tâm cảnh giới trong sáng như lưu ly,
chẳng vương chút trần ai vọng chấp, khiến chúng sanh xiển đề mê tối xa ĺa
câm điếc tối tăm (nói không chơn lư là câm, không nghe nổi chơn lư là
điếc, không nhận được chân lư là tối tăm).
-
Viên dung các hiện tượng, tôi xoay
tánh nghe trở về bất động. Hài ḥa thế gian mà không hủy hoại thế gian;
cúng dường Như Lai mười phương như số vi trần, tôi ở bên mỗi mỗi Phật làm
Pháp Vương Tử, khiến trong pháp giới những chúng sanh không con, cầu có
con trai, sanh được con trai phúc đức trí tuệ (phúc đức trí tuệ chính là
con trai đó !).
-
Sáu căn tôi viên thông,
soi sáng không hai, khắp trùm thập phương thế giới, đứng trước đại viên
kính ở trong Như Lai Tàng, tôi vâng lănh những pháp môn bí mật của thập
phương Như Lai như vi trần không hề thiếu sót, khiến cho trong pháp giới
những chúng sanh không con, cầu con gái, sanh được con gái tướng tốt đoan
chính, phúc đức và dịu dàng được nhiều người kính quư.
-
Trong tam thiên đại thiên thế giới này
các Pháp Vương Tử đông như số cát 62 sông Hằng. Trí tuệ và phương tiện
giáo hóa chúng sanh mỗi Ngài đều khác. Vậy mà chúng sanh chấp tŕ một danh
hiệu của tôi, bằng ngang với công đức chấp tŕ danh hiệu số lượng Pháp
Vương Tử nói trên.
Bạch Thế Tôn ! Sở dĩ tôi được những điều
ưu việt như vậy là do tôi tu tập pháp văn huân văn tu kim
cang tam muội, cho nên tôi được tánh viên thông chơn thật,
gọi đó là 14 đức vô úy thí đem lại phúc lành cho tất cả chúng sanh.
TRỰC CHỈ
Nếu mọi người đệ tử Phật biết quay về
quán chiếu
cái âm văn
của chính ḿnh th́ Quán Thế Âm Bồ Tát thể nhập vào thân ta rồi vậy. Thân
tâm ta lúc bấy giờ trở thành Quán Thế Âm Bồ Tát v́ chính ta là người đang
quán
cái âm văn
mầu nhiệm thanh tịnh sẵn có ở ḷng ḿnh.
Kinh nói: "Do vô tác diệu lực
văn huân văn tu kim cang tam muội
cho nên tôi và tất cả lục đạo chúng sanh trong mười phương ba đời cùng có
một bi tâm như nhau, cho nên tôi và tất cả chúng sanh thành tựu được 14
thứ công đức vô úy thí".
Rằng do 14 đức "vô úy thí" của
Quán Thế Âm
mà khiến cho chúng sanh xa ĺa các khổ nạn…, nhưng xét thâm nghĩa tàng ẩn
bên trong giáo lư, ta thấy: "Không phải do Quán Thế Âm có 14 đức vô úy thí
rồi Bồ Tát đem bố thí để thay thế để cứu khổ cứu nạn chúng sanh. Sự thật,
Kinh đă nói:
Quán Thế Âm và tất cả chúng sanh trong
mười phương cùng có ḷng Bi như nhau, ư chí hướng thượng như nhau (Bi
ngưỡng); cho nên nói rằng Quán Thế Âm có, đồng nghĩa với tất cả chúng sanh
cũng đă có. Quán Thế Âm tu pháp
văn huân văn tu
Kim Cang tam muội đă được tự tại giải
thoát th́ chúng sanh hành theo pháp
văn huân văn tu…
rồi cũng được giải thoát xa ĺa tất cả khổ ách là lẽ tất nhiên.
Là đệ tử Phật hăy chín chắn tư duy. Đừng
để thói quen ỷ lại nơi cái gọi là "tha lực" siêu h́nh ám ảnh, trông cậy
Quán Thế Âm bằng những ư niệm mong chờ ṃn mỏi, những ngôn ngữ cầu khẩn
thiết tha mà thiệt mất một đời: "vào biển tính số cát, đến ngân khố đếm
tiền" vô ích cho bản thân một kiếp !
Đức Thế Tôn ta hy sinh cả cuộc đời vương
giả, đi t́m chân lư chẳng ngại gian lao… Rồi 49 năm dài, rày đây mai đó
thuyết giáo độ sanh nói hẹp, nói rộng, nói biệt, nói viên, nói tiệm, nói
đốn, vận dụng vô vàn phương tiện, để lại cho chúng ta ba kho tàng giáo lư.
Đó không phải là "Tha lực
Phật" gia bị cho chúng ta là
ǵ? Là đệ tử Phật mà phủ nhận "Tha
lực Phật" "Tha
lực Bồ Tát" gia bị là bọn
con cái của ma, nhưng toàn bộ giáo lư Phật trước sau như một, không có vấn
đề ân sủng ô dù, v́ ô dù ân sủng là hành động phản bội quy luật nhân quả
phát triển khách quan của hiện tượng vạn hữu trong vũ trụ.
*****Top
Băng 56
QUÁN THẾ ÂM CÓ BỐN ĐỨC NHIỆM MẦU
KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN
Bạch Thế Tôn ! Tôi được viên thông
vô thượng cho nên có bốn đức vô tác nhiệm mầu không thể nghĩ bàn:
-
Tôi xoay tánh nghe để nghe tiếng mầu
nhiệm của nội tâm. Tánh nghe này không chút nhiễm ô. Tôi ngăn dứt tất cả
âm thanh đối tượng của nhĩ căn; bấy giờ tánh thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc,
biết của sáu căn c̣n là một tánh giác thanh tịnh có thể dùng thay thế cho
nhau mà không ngăn ngại. Tôi c̣n có thể hiện ra nhiều h́nh tướng và nói vô
số chân ngôn bí mật; từ 1 đầu, 3 đầu, 5 đầu, 7 đầu, 9 đầu, 11 đầu, 108
đầu, 1.000 đầu, 10.000 đầu cho đến 84.000 đầu. Tôi có thể hiện ra 2 tay, 4
tay, 6 tay, 12 tay, 14 tay, 16 tay, 18 tay, 20 tay, 24 tay, 108 tay rồi
1.000 tay, 10.000 tay cho đến 84.000 tay uyển chuyển. Tôi có thể hiện ra 3
mắt, 4 mắt, 9 mắt, 108 mắt, rồi 1.000 mắt, 10.000 mắt, cho đến 84.000 con
mắt thanh tịnh, hoặc từ, hoặc uy, hoặc định, hoặc tuệ cứu độ chúng sanh
được đại tự tại.
-
Tánh nghe và suy nghĩ của tôi thoát
ngoài sáu trần, như âm thanh luồn xuyên qua vách. Do sức nhiệm mầu vô tác,
tôi hiện nhiều h́nh tướng nói nhiều chơn ngôn đem lại cho chúng sanh sức
vô úy. V́ vậy cơi nước trong mười phương nhiều như vi trần đều gọi tôi là
vị Bồ Tát "thí vô úy".
-
Sự tu tập của tôi là phát huy căn bản
thanh tịnh sẵn có nên tôi được viên thông mầu nhiệm. Đi đến
thế giới nào, chúng sanh cũng xả thân, hy sinh trân bảo cầu được tôi
thương xót.
-
Tôi có được Phật tâm, chứng ngộ đến chỗ
cứu cánh cho nên có thể đem các thứ trân bảo cúng dường thập phương Như
Lai. Đến như lục đạo chúng sanh trong pháp giới muốn cầu con được con,
muốn cầu tam muội được tam muội, muốn cầu trường thọ được trường thọ, cho
đến cầu đại Niết bàn cũng được đại Niết bàn.
Bạch Thế Tôn ! Nay Phật hỏi nguyên nhân
chứng đắc viên thông xin thưa rằng: Tôi từ cửa ngơ nhĩ
căn quán chiếu đến tột cùng viên măn về âm văn (nghe
và tiếng) mà được tam muội. Đối với tôi, tư duy và quán chiếu tánh
nghe và tiếng của nhĩ căn
là ưu việt nhất.
Bạch Thế Tôn ! Đức Quán Âm Như Lai
từ thuở xa xưa ấy đă khen tôi khéo được pháp môn viên thông, ở trong đại
chúng, Phật thọ kư cho tôi danh hiệu Quán Thế Âm bởi v́ tánh nghe
và thấy tṛn sáng châu biến mười phương, danh
hiệu Quán Thế Âm cũng phổ cập trong lục đạo chúng sanh mười
phương thế giới.
TRỰC CHỈ
Như chúng ta đă biết,
Quán Âm
hay Quán Thế Âm
chỉ là nhân cách hóa một pháp môn
chỉ quán
mà lục đạo chúng sanh trong mười phương ai cũng sẵn có cái khả năng
chỉ quán
như vậy để được chứng viên
thông. Người đệ tử Phật có
tư duy trong yên tĩnh có thực hành
chỉ quán
sẽ nghe
được tiếng lương tâm mầu nhiệm của ḿnh, không cần có
thanh trần
đối tượng. Chừng nào hành giả
nghe
được âm vang đó thường xuyên liên tục ở ḷng ḿnh th́ 32 ứng thân, 14 đức
vô úy, 4 diệu đức nhiệm mầu chỉ là sự biểu hiện vô tác, không cần gắng sức
dụng công mà tự có, như ánh sáng sẵn có của mặt trời rạng rỡ buổi ban mai.
Nhiều đầu tất nhiên nhiều óc. Có được
nhiều bộ óc, con người sẽ có khả năng tư duy nhận thức nhiều. Người không
có tư duy không thể là người thông minh được. Nhận thức chơn lư, đ̣i hỏi
phải nhiều tư duy hơn cả người thông minh của thế trí. Do vậy, Bồ Tát cần
có nhiều đầu, nhiều bộ óc để tư duy.
Mắt để mà thấy. Thấy để mà nhận biết. Muốn
thấy nhiều cần có mắt nhiều. Là đệ tử Phật, phàm phu cũng như thánh vị,
phát chí tu nhân, ai cũng mong giác ngộ chân lư giải thoát vô minh, cho
nên cần thấy nhiều để nhận thức, biết nhiều để quán sát tư duy. Một tướng
lănh ở thời đại văn minh khoa học quan sát chiến trường cần có viễn vọng
kính để tầm quan sát được rộng xa, để nhận thức đánh giá lực lượng tương
quan giữa quân ta và quân địch. Sự "hóa hiện" nhiều mắt của Bồ Tát Quán
Thế Âm nhằm dạy bảo mọi người đệ tử Phật về sự cần thiết: thấy xa và hiểu
rộng.
Tay để mà làm việc. Mọi thành tựu cụ thể
trong cuộc sống con người là do tay. Nói cách khác, tay là công cụ hữu
hiệu nhất để thực hiện, cụ thể hóa nguồn trí tuệ thông qua bộ óc điều
khiển của con người. Trí tuệ, tài năng hay sự khéo léo… không thể không
biểu lộ qua sự thực hiện của tay.
Bồ Tát là người đang đi trên đường t́m
chân lư, v́ cần tư duy nhiều nên nói Bồ Tát đầu nhiều; v́ cần thấy biết
nhiều nên nói mắt nhiều; v́ cần thực hành nhiều nên nói tay nhiều; v́ cần tri hành hợp nhất
cho nên nói Bồ Tát nhiều đầu, nhiều mắt và nhiều tay.
Sự thật tất nhiên, không thể có một con
người đầu, mắt loạn khởi, tay mọc tua tủa, nh́n qua như trái chôm chôm.
Nếu có một con người thật như vậy th́ quả là một quái thai vô tiền khoáng
hậu !
Đức Thích Ca Mâu Ni là một Đức Phật. Phật
là đấng lưỡng túc tôn, lưỡng
túc tề tôn. Chẳng lẽ Quán Thế Âm vượt ngoài hàng
"lưỡng túc" của thập giới thánh phàm ? Người đệ tử Phật hăy sử dụng lư trí
mà tư duy. Đừng để cho Phật đau ḷng chỉ v́ "Y Kinh giải nghĩa mà hàm oan
cho ba đời chư Phật".
*Top
Băng 57
PHẬT BẢO VĂN THÙ SO SÁNH
CHỌN CĂN ƯU VIỆT NHẤT
Bấy giờ, Đức Thế Tôn ngồi trên ṭa sư tử,
ngũ thể đồng phóng ra ánh sáng báu soi sáng trên đảnh của thập phương Như
Lai, các pháp vương tử, các Bồ Tát như số vi trần. Chư Như Lai trong mười
phương cũng phóng ánh sáng như vậy soi đến đảnh Phật Thích Ca và các Bồ
Tát các chúng Thanh Văn trong đại hội. Rừng cây ao hồ đều diễn ra tiếng
pháp, ánh sáng của chư Phật giao xen như lưới tơ báu. Tất cả đại chúng
được cái chưa từng có. Trời mưa hoa sen báu đủ màu: Xanh, vàng, đỏ, trắng
xen lộn lẫn nhau. Thập phương hư không thành màu thất bảo. Cơi Ta bà bỗng
nhiên không hiện chỉ c̣n thấy vi trần quốc độ trong mười phương hợp thành
một cơi, tiếng ca ngâm thanh thoát tự nhiên d́u dặt nổi lên.
Phật bảo Bồ Tát Văn Thù: Ông hăy xét
nghiệm thành quả tu chứng viên thông của 25 vị Bồ Tát và
Thanh Văn vừa đă tŕnh bày. Vẫn biết rằng lục căn, lục trần, lục thức,
thất đại đều là những dữ kiện tu chứng viên thông, nhưng nay
Như Lai muốn cho ông A Nan nghe và nhận xét để tự chọn một pháp môn tu
thích hợp. Như Lai cũng cần một pháp môn phương tiện để dạy cho chúng sanh
mạt thế cơi Ta bà, những người đại thừa cầu vô thượng đạo một phương pháp
tu hành hiệu quả tốt, chóng thành công phổ biến mọi căn cơ sau Như Lai
diệt độ.
Bồ Tát Văn Thù vâng từ chỉ của Phật cung
kính chắp tay, nói bài kệ kính dâng lên Phật:
Băng 58
Biển giác tánh lặng trong
Vốn nhiệm mầu trong sáng
Tánh bản minh chiếu ra như "sở"
Chấp tướng "sở" mất tánh bản minh
Do phân biệt vọng thấy hư không
Tựa hư không h́nh thành thế giới
Chủng tử vô tri thành cơi nước
Sắc tâm minh liễu tức nhơn sinh
Hư không sanh trong "Đại Giác"
Như bong bóng nổi giữa đại dương
Cơi nước hữu lậu như vi trần
Sanh khởi trong bầu hư không ấy
Hư không chưa ví tày nước bể!
Th́ sá chi ba cơi vốn bọt bèo
Về nguồn không hai đích
Phương tiện có nhiều đường
Quả chứng chẳng ngại nhau
Thuận nghịch là phương tiện
Sơ tâm vào tam muội
Mau chậm chẳng đồng nhau.
TRỰC CHỈ
Phật Thích Ca ở cơi Ta bà cùng chư Phật
mười phương đồng phóng ra ánh sáng báu… Hiện tượng này nhằm nói lên chơn
lư: Phật và chư Phật đă biểu đồng t́nh. Chơn lư mà Phật Thích Ca nói cũng
tức là chơn lư của mười phương chư Phật nhất trí với nhau rồi. Nói Phật
phóng ra ánh sáng thất bảo, có nghĩa rằng: Trí tuệ giác của Phật là trí
tuệ tuyệt trần vô thượng, chẳng c̣n thứ trí tuệ nào hơn. Tuy nhiên, Bồ
Tát, Thanh Văn, La Hán và tất cả chúng sanh hằng tắm ḿnh trong ánh sáng
trí tuệ ấy. Trí tuệ của chúng sanh chưa chiếu sáng, ví như bóng đèn khói
đóng quá nhiều. Ngày nào lau sạch khói đen th́ cùng những ánh đèn rực rỡ
xen lộn lẫn nhau lung linh màu sắc.
Vô thường, khổ, vô ngă và bất tịnh, chúng
sanh bị dày ṿ, đau khổ, ở trên mặt đất này. Thường, lạc, ngă, tịnh của
Niết bàn Phật có, cũng ở trên mặt đất này. Với tâm hồn thanh tịnh thể nhập
bản giác tịnh minh th́ nh́n đâu cũng là
hoa,
nghe đâu cũng là nhạc.
Phật th́ biết quá rơ Căn nào ưu việt đối
với chúng sanh cơi Ta bà rồi. Nhưng Phật bảo Bồ Tát Văn Thù so sánh để rồi
"lựa", cốt cho hợp tinh thần dân chủ và khách quan. Đức Phật hy sinh một
cuộc đời vương giả, đấu tranh giai cấp để xóa bỏ áp bức bất công cho xă
hội mà c̣n độc tài phi dân chủ th́ phí đi cái lư tưởng "vị nhân sinh" cao
đẹp thuở ban đầu.
Qua lời kệ mở đầu của Bồ Tát Văn Thù, ta
có thể nhận thấy: Tất cả chúng sanh vốn có tánh giác minh trong sáng nhiệm
mầu. Trong tánh giác minh không có tướng "Sở",
tướng "Năng",
không có ai là chủ thể, ǵ là đối tượng. Hữu t́nh, vô t́nh cùng một bản
thể chơn như nhiệm mầu trong sáng ấy. Hư không sanh trong giác tánh như
chiếc bong bóng nổi giữa đại dương. Hư không chỉ là một hiện tượng đối đăi
có không sanh diệt (… tứ sở hiển thị cố…) tam hữu sanh trong hư không càng
nói rơ cái vai tṛ ảo hóa. Thành đô Niết bàn là đích đến phương tiện di
chuyển có chậm mau. Máy bay, tàu thủy, ô tô hay đi bộ c̣n tùy người sử
dụng.
*****Top
SO
SÁNH SỰ ƯU KHUYẾT CỦA SÁU TRẦN,
NĂM CĂN, SÁU THỨC VÀ BẢY ĐẠI
1. Nhược điểm của sáu trần
Sắc bị vọng tưởng tác động vào thanh
trần làm mất đi cái hồn nhiên như thị khách quan của sự vật, khó mà tu
chứng viên thông.
Thanh âm kết hợp bởi ngữ ngôn, biểu hiện
cụ thể của âm thanh là danh ngôn và cú nghĩa. Tác dụng của âm thanh c̣n
phiến diện khó mà tu chứng viên thông.
Hương có hợp mới thành tác dụng; nếu để ly
ra, dù hương có cũng như không. Hương trần không tương tục hiện hữu, khó
mà tu chứng viên thông.
Vị không phải đương nhiên tự có, cần phải
nếm mới biết có vị. Đối với vị giác cũng không liên tục, nên khó mà tu
chứng viên thông.
Xúc có vật chạm mới biết, nếu không cái
biết xúc không thành. Xúc trong lúc hợp, chẳng xúc được lúc ly, khó mà tu
chứng viên thông.
Pháp c̣n gọi là nội trần. Trần là đối
tượng "Sở tri". Năng, sở không là một, khó mà tu chứng viên thông.
2. Nhược điểm của năm căn
Tánh thấy vốn rỗng rang bao quát nhưng chỉ
thấy được phía trước chẳng thấy được phía sau; bốn hướng tám phương mất đi
một nửa, khó mà tu chứng viên thông.
Mũi thở ra thở vào, chặng giữa không có
thở; không dung thông, c̣n cách trở, khó mà tu chứng viên thông.
Lưỡi không vị, tánh nếm không thành. Vị
không phải lúc nào cũng sẵn có nên khó mà tu chứng viên thông.
Thân biết xúc, nhưng phải có đối tượng.
Năng sở xúc không thường liên tục th́ khó mà tu chứng viên thông.
Ư căn thường xen với vọng tưởng. Loạn
tưởng dừng th́ chẳng thấy biết ǵ. Tưởng niệm không dễ ǵ dứt bỏ th́ khó
mà tu chứng viên thông.
Băng 59
Băng 60
Tất niên Giáp Tuất sinh hoạt- không giảng kinh
3. Nhược điểm của sáu thức
Cái thấy của mắt phải có căn trần. Cạn xét
tột cùng nó không tự thể; không tự thể th́ không có ǵ nhất định nên khó
mà tu chứng viên thông.
Sử dụng cái nghe, nghe suốt mười phương,
hàng sơ tâm không dễ dàng thực hiện khó mà tu chứng viên thông.
Quán điểm trắng ở tỷ căn đó chỉ là quyền
phương tiện, nhằm thu nhiếp để trụ tâm. Trụ mà trở thành "sở trụ" th́ khó
mà tu chứng viên thông.
Thuyết pháp vận dụng âm thanh văn tự chỉ
khai ngộ cho những ai Phật chủng đă trồng sâu. Danh cú, văn tự không phải
là vô lậu th́ khó mà tu chứng viên thông.
Giữ giới chỉ câu thúc cái thân, ngoài cái
thân lấy ǵ câu thúc ? Giới và thân vốn không cùng khắp th́ khó mà tu
chứng viên thông.
Thần thông do tập nhân từ trước, không
dính dáng với ư thức phân biệt pháp trần. Niệm lự, không rời sự vật th́
khó mà tu chứng viên thông.
4. Nhược điểm của bảy
đại
Đất, tánh của nó là ngăn ngại, nếu quán
cái tánh của địa đại th́ không thể thông suốt. Vả lại pháp hữu vi không là
giác tánh th́ khó mà tu chứng viên thông.
Nước do quán mới thấy có. Nếu quán thủy
đại cần vận dụng nhiều quán trí. Đă là quán trí th́
không phải chơn, chưa đạt đến như như phi giác quán, th́ khó
mà tu chứng viên thông.
Lửa đem so sánh với nỗi khổ của dâm tâm,
nếu quán hỏa đại để trừ lửa dâm ở nội tâm, đó chỉ là người chán cái khổ
hoành hành, chưa phải là viễn ly chơn thật. Đó là phương tiện không phải
phát xuất bởi tâm ban đầu nên khó mà tu chứng viên thông.
Gió lúc động lúc yên, nếu quán cái tánh
của phong đại th́ đó chỉ là pháp đối đăi. C̣n đối đăi th́ không là tánh
giác minh vô thượng, khó mà tu chứng viên thông.
Không th́ rỗng suốt chẳng có ǵ, nếu quán
cái tánh của không đại th́ đồng như vô tri vô giác. Vô tri vô giác trái
với Bồ Đề th́ khó mà tu chứng viên thông.
Thức th́ sanh diệt không thường, nếu quán
cái tánh của thức đại chỉ là quán sự phân biệt diệt sanh hư vọng, khó mà
tu chứng viên thông.
Kiến là tánh thấy, kiến đại biểu hiện qua
tưởng niệm. Tất cả các hành đều vô thường, tưởng niệm vốn trong ṿng sanh
diệt. Đem nhân sanh diệt, cầu được quả chân thường bất diệt, khó mà tu
chứng viên thông.
5. Sự ưu việt của nhĩ căn
Tôi nay kính bạch Thế Tôn:
Phật ra đời ở cơi Ta Bà
Trong cơi này giáo môn thích ứng
Hiệu quả tốt ở: nói
và nghe
Muốn thành tựu được tam ma đề
Phải vận dụng tánh nghe mà nhập
Ĺa khổ được giải thoát
Hay thay Quán Thế Âm
Kiếp số như cát sông Hằng
Vào cơi nước vi trần Phật độ
Sức tự tại không thể nghĩ lường
Vô úy b́nh đẳng thí chúng sanh
Quán Thế Âm là Diệu Âm
Quán Thế Âm tức Phạm Âm
Quán Thế Âm, hải triều âm đó
Cứu thế vững an khang
Xuất thế hằng thường trú
Tôi kính bạch Như Lai
Như lời Quán Âm nói
Ví như ngồi chỗ tĩnh
Mười phương cùng đánh trống
Mười hướng thảy đồng nghe
Đấy là viên chơn thật
Cách vách nghe âm hưởng
Xa gần có thể nghe
Năm căn không sánh được
Thông chơn thật,
nhĩ căn
Tiếng không, tánh nghe không diệt
Tiếng có, chẳng phải mới sanh
Có không, không quan hệ
Thường chơn thật
của nhĩ căn
Dù có đang say ngủ
Chẳng v́ ngủ không nghe
Tánh nghe ngoài suy nghĩ
Thân ư chẳng so bằng
Hiện tại cơi Ta Bà
Thanh luận
được biểu dương
Mê muội đối với tánh nghe
Bị thanh trần cuốn theo ḍng lưu chuyển
Dùng tánh nghe
trú tŕ Phật Pháp
Hăy tự ḿnh nghe
lấy tánh nghe
Băng 61
Xoay cái nghe thoát khỏi thanh trần
Tánh nghe ấy là tánh nghe thường trú
Một căn đă xoay về bản tánh
Th́ năm căn sẽ được giải thoát theo
Sắc thanh… trần như bệnh ḷa huyễn hóa
Ba cơi dường hoa đốm trong không
Xoay tánh nghe là trừ hết bệnh ḷa
Trần tưởng diệt, giác tâm hiển hiện
Tột thanh tịnh trí quang thông suốt
Tịch như mặt trời chiếu tợ thái dương
Quay nh́n xem hiện tượng thế gian
Như vật sắc chiêm bao chẳng khác
Ma Đăng Già há không là mộng huyễn
Th́ c̣n ai quyến rũ ! Hởi A Nan ?
Như các huyễn sư khéo tạo h́nh người
Giỏi trang điểm làm ra trai hay gái
Dù các căn có cử động rung rinh
Do cái máy giật dây điều khiển
Động cơ nghỉ, tứ chi "người" tê liệt
Tṛ múa men đến lúc trở thành không
Tư duy kỹ, sáu căn người cũng thế
Phát xuất từ một thể tánh tịnh minh
Chia ra thành sáu thứ "hợp" "ḥa"
Một đă tịch th́ sáu căn đều thanh tịnh
Trần cấu c̣n th́ gọi là học vị
Giác tột cùng th́ gọi đó Như Lai
Hởi A Nan ! Và đại chúng hiện tiền
Hăy chỉ tức nghe thanh trần điên đảo
Xoay tánh nghe, nghe tự tánh của ḿnh
Nghe tự tánh
là thành Vô Thượng Giác
Xin đảnh lễ Như Lai Tàng
tánh
Gia bị cho mạt thế chúng sanh
Đủ khả năng làm chủ lấy nhĩ
căn
Giàu nghị lực sống với viên, thông, thường ba chơn
thật tánh
*****Top
SỰ CHUYỂN BIẾN TỐT SAU KHI
NGHE VÀ
NHẬN THỨC TÍNH ƯU VIỆT CỦA NHĨ CĂN
Băng 62
Ông A Nan và đại chúng được sự hướng dẫn
rơ ràng của Bồ Tát Văn Thù, mọi người cảm thấy khinh an sảng khoái, tâm
trí sáng bừng, nhận thức rơ: Rằng Bồ Đề Niết Bàn Phật là gia bảo chung của
tất cả chúng sanh, mọi người đều có quyền thừa hưởng. Từ lâu ḿnh tự bỏ
cha bỏ nhà đi hoang, biến ḿnh thành những kẻ lạc loài cùng khổ, xa quê
hương rời nguyên quán, đánh mất gia tài cự phú vô tận của cha ông. Nay đại
chúng nhận rơ: Rằng dù họ chưa về nhưng đă biết đường về và tin ở khả năng
trở về của họ. Họ xác định rơ cái quyền thừa hưởng của họ đối với sự
nghiệp vĩ đại của ông cha ḿnh.
Hàng hữu học vô học nhị thừa, hàng sơ phát
tâm Bồ Tát đông như số cát mười sông Hằng, xa ĺa trần cấu được pháp thân
thanh tịnh. Vô lượng chúng sanh phát tâm cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác.
TRỰC CHỈ
Chúng ta đă biết 25 vị đại đệ tử Phật đều
tu chứng viên thông
dựa trên cơ sở trần, căn, thức, đại. Qua nhăn quan của bậc đại trí, ở đoạn
kinh này Bồ Tát Văn Thù phân tách rơ chỗ ưu khuyết của 25 dữ kiện.
Nh́n bên bản thể, trần, căn, thức, đại vốn
là hiện tượng biểu hiện từ Như Lai Tàng. Tự tướng của chúng không có cái
nào làm nên tội lỗi và cũng không có món nào là nguyên nhơn của tội lỗi.
Tuy nhiên, đứng bên hiện tượng mà nh́n th́ mỗi mỗi khác nhau, sự tác động
qua lại của căn trần thức không đồng, công dụng biểu hiện có hơn kém từ sự
phản vọng quy chân có ưu khuyết là lẽ đương nhiên vậy.
Nói một cách khác, Bồ Tát Văn Thù "phê
phán" là đứng bên phương diện "tục đế" để mà tỉ giảo chọn lấy cái tối ưu.
Nếu đứng bên "chơn đế" mà nh́n th́: "Một là tất cả, tất cả là một", không
c̣n có vấn đề hơn kém.
Do đó, vấn đề ưu khuyết của trần, căn,
thức, đại vẫn là sự thật có trở ngại trên đường tu chứng viên thông. Tuy
nhiên cái có thể trở ngại, không thích hợp của người này lại là dữ kiện
thuận lợi cho một căn cơ khác. Mă tiền, thạch tín ai cũng biết là độc
dược, nhưng cũng chính chúng là diệu dược cứu tử bệnh nhơn khi sử dụng
đúng người, đúng bệnh và đúng liều.
Người học hăy ư thức rằng: Sự "phê phán"
của Bồ Tát Văn Thù không phải "phê phán" để mà "phê phán". Mà phê phán
nhằm để giới thiệu tính ưu việt
của nhĩ căn:
"Ngă kim
bạch Thế Tôn
Phật xuất Tà Bà giới
Thử phương chân giáo thể
Thanh tịnh tại âm văn
Dục thủ tam ma đề
Thực tùng văn trung nhập".
*****Top
PHẬT
KHAI THỊ VỀ BA MÔN VÔ LẬU HỌC
VÀ BỐN ĐIỀU CƠ BẢN XUẤT TRẦN
Băng 63
Ba môn vô lậu học
Trước Phật và đại chúng. Ông A Nan sửa áo
chỉnh tề, chắp tay thưa: Bạch Thế Tôn ! Tôi nay đă nhận thức rơ pháp môn
thành Phật không c̣n nghi hoặc. Tôi từng nghe Phật dạy: tự ḿnh chưa được
thành Phật mà phát tâm cứu độ chúng sanh, đó là chỗ phát tâm của các bậc
Bồ Tát. Tự ḿnh giác ngộ viên măn rồi giáo hóa khiến cho người khác cũng
được giác ngộ, đó là sự ứng thân vị nhân thế của các Như Lai. Tôi tuy chưa
giác ngộ hoàn toàn song tôi nguyện độ chúng sanh đời mạt pháp. Chúng sanh
cách Phật ngày xa, tà sư ngụy thuyết càng nhiều, nếu muốn cho đệ tử Phật
được tam ma đề (chánh quán niệm) th́ phải học thế nào để khỏi rơi vào ma
sự, không thoái thoát Bồ Đề tâm ?
Phật bảo: A Nan ! Lời thưa hỏi của ông có
lợi lạc cho chúng sanh hậu thế.
A Nan ! Trong giáo pháp của Như Lai các
ông hăy siêng năng thu nhiếp tâm ḿnh. Người thu nhiếp làm chủ được tâm
gọi là người có giới. Nhơn nơi giới mà có được định tâm.
Nhơn nơi định tâm mà phát sanh trí tuệ. Đó là ba môn học làm cho
những người phát tâm tu hành không lọt rớt trong lục thú tam đồ.
TRỰC CHỈ
Giáo, lư, hành, quả, là một quá tŕnh liên
tục không thể tách rời trong toàn bộ giáo lư Phật. Từ chương một mở đầu
cho đến đây, ông A Nan và đại chúng tiếp thu có kết quả tốt. Toàn chúng
nhất trí nói lên cảm nghĩ và nhận thức của ḿnh đối với quả Bồ Đề Niết Bàn
Vô Thượng: Rằng đến sớm hay muộn chỉ c̣n là vấn đề tinh tấn đi nhanh hay
giải đải lang thang, bằng ḷng làm người "cùng tử"; c̣n đường đi và đích
đến, đại chúng đă nói lên sự quả quyết rằng đă nắm vững lộ tŕnh. Đó là
kết quả bước đầu của Đức Phật trong sự nghiệp giáo hóa chúng sanh trên
chặng đường giáo lư
của thời pháp Thủ Lăng Nghiêm.
Ba môn
vô lậu học, bốn điều cơ bản…
Đức Phật đang dạy và sẽ dạy cho ông A Nan mở đường cho giai đoạn
hành quả
cuối cùng để đến thành đô Niết bàn Phật. Giới, định, tuệ tương quan mật
thiết với nhau, ví như bóng đèn, ngọn đèn và ánh sáng của cái đèn dầu. Nhờ
bóng mà ngọn đèn đứng yên. Nhờ ngọn đèn đứng yên mà tỏa ra ánh sáng. Nhơn
giới sanh định, nhơn định phát tuệ đó là nền tảng để xây dựng lâu đài Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Trong quá tŕnh tu học: "Lư tuy đốn ngộ,
sự nải tiệm trừ". Hiểu th́ có thể hiểu nhanh, nhưng hành phải có quá tŕnh
tu tập. Ở đoạn kinh này ông A Nan cầu Phật chỉ dạy phương pháp tu hành tế
độ quần sanh, kiến lập đạo tràng… càng xác định rơ:
hành quả
không thể không có giáo lư
và giáo lư
không phải để thỏa măn cho sự hiểu biết suông !
*****Top
Băng 64
1. Đoạn tâm dâm dục
A Nan ! Người có thu nhiếp cái tâm th́ tâm
được thanh tịnh. Phật gọi đó là người có giới. Giới là phương tiện thù
thắng ngăn dứt những hậu quả khổ đau. Gốc rễ của khổ đau, dâm dục là một
trong những mầm nhân gây ra khổ quả. Ông và các chúng sanh tu tập tam ma
đề là nhằm xa lánh mọi nghiệp nhân bất thiện để mong ra khỏi trần lao.
Nhưng nếu các ông không đoạn tâm dâm th́ trần lao không sao ra khỏi được.
Dù có thiền định trí tuệ rốt cuộc cũng lạc vào con đường của ma. Hạng ưu
thành ma vương, hạng giữa thành ma dân, hạng thấp thành ma nữ. Các bọn ma
kia cũng có đồ chúng và tự xưng ḿnh thành đạo vô thượng. Sau khi tôi diệt
độ có nhiều bọn ma này sôi nổi trong thế gian ra sức ngợi khen về dâm dục,
dụ dỗ người đời sa vào cạm bẫy dâm dục. Họ tự xưng là thiện tri thức mê
hoặc nhiều người sa vào hầm ái kiến lạc mất nẻo Bồ Đề, dấn thân măi vào
hang sâu ái dục đen tối khổ đau.
A Nan ! Ông phát tâm muốn cứu thế nên dạy
cho những người tu tập pháp tam ma đề đoạn hẳn cái tâm đắm nhiễm dâm dục.
Đó là lời dạy chân chính, điều cơ bản thứ nhất của các Như Lai Thế Tôn.
Nương đó mà tu tập sẽ được Niết bàn Vô thượng. Nếu nói ngược lại lời dạy
của Như Lai là lời của bọn ma ba tuần không nên tin mà lầm lạc!
2. Trừ tâm sát sanh
A Nan ! Sát sanh đoạn mạng người là biểu
hiện của tâm hung ác. Muốn tu tập tam ma đề, tạo nhân giải thoát giác ngộ
mà không trừ bỏ tâm sát sanh th́ không thể nào ra khỏi trần lao. Dù có tu
tập thiền định trí tuệ mà c̣n tâm háo sát rốt cuộc lạc vào thần đạo. Bậc
thượng thành đại lực quỷ, bậc trung thành phi hành dạ xoa, bậc hạ thành
địa hành la sát. Các loài quỷ đó cũng có môn đồ đệ tử và cũng tự xưng là
thành đạo vô thượng. Sau Như Lai diệt độ có nhiều quỷ thần loại này xuất
hiện sôi nổi trong thế gian. Họ rao giảng cho môn đồ rằng: Giết hại chúng
sanh cũng được đạo Bồ Đề.
A Nan ! Ông nay phát tâm tế độ chúng sanh,
hăy dạy cho những người ham tu tập pháp tam ma đề phải trừ bỏ tâm hung
hăng giết hại. Đó là lời dạy chân chính, là điều cơ bản thứ hai của các
Như Lai Thế Tôn. Nếu nói ngược lại lời dạy của Như Lai là lời của ma ba
tuần, không nên tin mà lầm lạc !
3. Dứt tâm thâu đạo
A Nan! Tất cả chúng sanh trong thế gian
nếu không dứt bỏ tâm trộm cướp th́ ḍng sanh tử c̣n tương tục để trả đền.
Những người ham tu tập tam ma đề nhằm ra khỏi trần lao, dứt ḍng sanh tử
cần phải diệt hẳn tâm tham lam trộm cướp. Nếu tâm trộm cướp c̣n dù có tu
thiền định trí tuệ th́ cũng lạc vào tà đạo. Hạng trên th́ thành tinh linh,
hạng giữa thành yêu mị, hạng dưới thành người tà đạo bị các loài quỷ dựa
vào. Các bọn tà đạo kia cũng có môn đồ đệ tử và cũng tự xưng ḿnh thành
đạo vô thượng. Sau Như Lai diệt độ, trong hậu thế có nhiều yêu mị, tà đạo
ấy sôi nổi trong thế gian. Chúng gian dối tự xưng ḿnh là thiện tri thức,
là người đă được pháp thượng nhân, lừa gạt những kẻ dễ tin đe dọa tinh
thần, lôi kéo đi theo con đường tín ngưỡng xằng bậy làm cho một số yếu
ḷng lung lay chánh tín đối với đạo vô thượng. Những người tin theo chúng
lần lần tài sản hao ṃn, gia đ́nh tan nát, v́ những lời rao giảng bịp bợm
không có chơn lư. Chúng mượn cách phục sức của đạo Phật, h́nh thức dáng vẻ
của sa môn, buôn bán danh nghĩa Như Lai, tạo nhiều nghiệp ác.
4. Bỏ tâm vọng ngữ
A Nan ! Lục thú chúng sanh, giả sử dứt hết
được sát sanh, trộm cướp và dâm dục nhưng nếu mắc phải đại vọng ngữ th́ tu
tập tam ma đề cũng không thành tựu.
Thế nào là đại vọng ngữ ? Rằng chưa đạt
đạo tự khoe ḿnh đạt đạo, chưa chứng quả tự tuyên bố rằng ḿnh chứng quả…
Rằng ta đă thành A La Hán, là Bồ Tát, Phật, Như Lai… Những người đáng
thương ấy chỉ v́ lợi dưỡng, v́ sự lễ bái cúng dường của tín thí đàn việt,
họ tự hủy diệt hạt giống Phật, thành nhất xiển đề trong Phật Pháp, sẽ bị
ch́m đắm măi trong biển khổ luân hồi không lượng được ngày ra.
Như Lai dạy các hàng Thanh Văn Duyên Giác,
Bồ Tát trong mạc thế tương lai có thể hiện thân qua các dạng người: Hoặc
sa môn, bạch y cư sĩ, vua, quan, đồng nam, đồng nữ, quả phụ, dâm nữ, thậm
chí dạng người trộm cướp để đồng sự với chúng sanh, để khen ngợi Phật
thừa, hướng dẫn những người lầm lạc trở về chánh đạo, thành tựu tam ma đề.
Nhưng tuyệt đối không được tự xưng là: A La Hán, Bồ Tát, Phật Như Lai…
A Nan ! Ông đă phát tâm v́ chúng sanh hậu
thế, nên dạy cho những người ham tu tập tam ma đề bỏ dứt tâm đại vọng ngữ.
Đó là lời dạy chơn chính, là điều cơ bản thứ tư của các Như Lai Thế Tôn.
Nếu nói ngược lại lời dạy của Như Lai là lời của ma ba tuần, không nên tin
mà lầm lạc
TRỰC CHỈ
"Bốn điều cơ bản xuất trần", nói cách khác
là "bốn trọng giới trong môn giới luật". Trong quá tŕnh thuyết giáo độ
sinh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, giáo lư Ngài dạy gồm trong hai nội
dung: tri
và hành.
Nội dung thứ nhất nhằm đào tạo bồi dưỡng cho con người có nhiều kiến giải
để nhận thức chân lư của vũ trụ thiên nhiên. Thành tựu nội dung đó không
có cách nào khác hơn là cần phải có
trí
để tri, để mà tư duy nhận thức. Cho nên Phật vận dụng
nhiều ngôn từ, nhiều thí dụ, nhiều phương tiện trong suốt quá tŕnh giáo
hóa độ sanh. Những tư tưởng, ngôn từ, phương tiện đó được ghi chép để lại
hậu thế, người ta gọi là kinh tàng.
Nội dung thứ hai nhằm hướng dẫn cho người
chịu học theo nền giáo lư Phật phải thực hiện những điều đă học hỏi, đă
nhận thức về chơn lư, cần cải tạo đời sống cho sáng sủa hơn, an lành hơn,
hạnh phúc hơn và đỉnh cao của cuộc sống là giác ngộ và giải thoát. Để hiện
thực hóa lư tưởng đó, Đức Phật dạy cho các đệ tử về
môn giới luật.
Thực hiện giới luật tức là pháp
hành.
Hành theo quy tắc, hành trong khuôn khổ, hành trong giới luật không cho
sai phạm những điều Phật đă chế ra để làm cái hàng rào ngăn cách những hố
sâu tội lỗi. Những điều ngăn cấm đó, được ghi chép để lại, hậu thế gọi đó
là luật tàng.
Bốn điều cơ bản xuất trần, phát xuất từ
nội dung thứ hai, nó thuộc về
giới học,
là một trong tam vô lậu học.
Giới có giới trọng giới khinh, nói cách
khác là có tánh giới
và giá giới.
Bốn điều cơ bản này thuộc về tánh giới.
Tánh giới là giới trọng. Tánh giới có Phật ra đời hay không có Phật ra
đời; Phật chế ra hay không đề cập đến, nếu một người nào trong xă hội phạm
phải những điều đó th́ luật pháp của xă hội cũng kết tội và trừng trị.
Phật chế giới dâm là ngăn cấm người xuất
gia làm việc dâm dục. Dâm dục và thực dục là hai thứ đam mê làm cho con
người đam mê hơn tất cả. Theo Phật học v́ đam mê dâm dục và thực dục cho
nên gọi người đó là người ở trong cơi
dục.
Cơi dục mà chưa ra khỏi th́ làm sao hy vọng giải thoát giác ngộ của quả Vô
Thượng Bồ Đề. Cho nên điều cơ bản thứ nhất Phật dạy đoạn dâm dục và đoạn
cả tâm móng khởi đam mê dâm dục. Có vậy mới có tâm hồn thanh tịnh tu chỉ
quán để thành tựu tam ma đề.
Sát sanh đoạn mạng là hành động biểu hiện
của con người tham sân cực độ. Phật dạy tu tập tam ma đề mong ra khỏi trần
lao phải trừ bỏ tâm tham sát sanh đoạn mạng, đó là chơn lư tất nhiên.
Trộm cướp là hành động của con người mạt
hạng vô lương trong xă hội. Tu cốt để tiến lên thánh quả đến giải thoát
giác ngộ đến Vô Thượng Bồ Đề Niết Bàn mà c̣n trộm cướp hay c̣n tâm trộm
cướp th́ quả là điều phi lư, ai cũng biết; v́ nhân quả tương phản rơ ràng
như trắng với đen vậy.
Vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu gọi
chung là vọng ngữ. Người thế gian phạm phải vọng ngữ luật pháp xă hội quy
thành hành động "bội tín" rồi. Bội tín là một cái tội, luật pháp xă hội
không dung tha; người đệ tử Phật phạm phải th́ c̣n ǵ để gọi là tu với
hành được nữa !
Đến như đại vọng ngữ lại c̣n tệ hại hơn
nhiều. Ngoài cái tội vọng ngôn bội tín của xă hội, đại vọng ngữ c̣n mắc
thêm cái tội lạm xưng danh nghĩa Bồ Tát… Phật… để dối bịp chúng sanh, bán
buôn Bồ Tát, Phật để làm nghề sanh nhai bất chánh.
Nói rút lại dâm, sát, đạo, vọng là tánh
giới, là trọng giới cơ bản trong môn giới luật. Đó là pháp
hành,
là cụ thể hóa về những nhận thức của
tri.
Tri hành
hợp nhất được biểu hiện qua giáo lư
vị tằng hữu thuyết về thiên thủ thiên nhăn
của Quán Thế Âm Bồ Tát
ở đoạn kinh trước.
(HÁN BỘ HẾT QUYỂN
6)Top
Băng 65
CHƯƠNG THỨ BẢY
I - PHẬT KHAI THỊ VỀ HIỆU NĂNG CỦA
MẬT GIÁO
Phật dạy: A Nan ! Người muốn thể nhập tam
ma đề (chánh quán) tu học pháp môn nhiệm mầu, cầu đạo Bồ tát, trước hết
cần giữ luật nghi trong như giá, sạch như sương để chặn đứng những hành
động bất thiện của thân khẩu ư tam nghiệp. Và cũng từ đó lục căn tự tại
đối với lục trần, các ma sự không có cơ hội lung lạc hoành hành. Nếu người
nặng nhiều bất thiện nghiệp, tập khí khó trừ th́ nên nhất tâm tŕ tụng
thần chú "Vô thượng Phật đảnh quang minh ma ha tát đát đa bát đát ra". Đó
là tâm chú vô kiến đảnh tướng của Như Lai là vô vi tâm Phật, từ nơi đảnh
Phật hiện ra đức Hóa Như Lai ngồi trên hoa sen báu mà nói.
A Nan ! Ông cùng nàng Ma Đăng Già do nhân
duyên nhiều kiếp trước, tập khí ái ân lâu đời c̣n vương vấn. Song một phen
Như Lai tuyên dương thần chú th́ nàng Ma Đăng Già dứt bỏ ái tâm thành A La
Hán quả. Vốn là một dâm nữ, căn lành kém ít, thế mà sức thần chú c̣n giúp
cho cô ta chứng quả vô học, c̣n bọn ông là hàng Thanh văn trong Lăng
nghiêm hải hội, có chí cầu tối thượng thừa th́ quyết định sẽ thành Phật
quả ví như bụi bặm gặp gió cuốn, những ǵ vẩn đục sẽ tan biến hết nào có
khó khăn ǵ.
A Nan ! Đời sau, nếu có người muốn kiến
lập đạo tràng chuyên tŕ Thủ Lăng Nghiêm tâm chú, phải cần lấy cho được
cái phân của con "đại lực bạch ngưu" ở Tuyết sơn, đem về ḥa trộn với các
thứ hương chiên đàn, trầm thủy mà tráng lên mặt đất để làm nền. V́ con
"đại lực bạch ngưu" nầy chỉ ăn toàn cỏ non, thơm trong sạch ở Tuyết sơn và
nó chỉ uống nước trên núi cho nên sạch mịn và không nhơ nhớp như những con
trâu b́nh thường khác. Nếu không t́m được phân "đại lực bạch ngưu" ở núi
Tuyết có thể tạm lấy đất ở b́nh nguyên, nhưng phải đào bỏ lớp đất mặt
xuống sâu năm mét, chọn lấy đất vàng thật sạch đem về ḥa trộn với mười
thứ bột hương: chiên đàn, trầm thủy, tô hợp, huân lục, uất kim, bạch giao,
thanh mộc, linh lăng, cam tùng và kê thiệt tô trên mặt đất làm nền.
Kiến thiết đạo tràng theo h́nh bát giác,
rộng 6 mét lọt ḷng. Tám phía vách bên trong mỗi vách treo một tấm gương
lớn, đối diện và phản chiếu lẫn nhau. Trên nóc đàn cũng treo tám tấm gương
chiếu xuống. Trung tâm đàn xây một trụ cột bát giác cao khoảng 1m,65,
đường kính chừng 1m,50, mỗi cạnh cũng treo mỗi tấm gương phản chiếu với
tám tấm gương lớn tám phía bên ngoài. Trên đầu trụ cột thiết kế một ṭa
sen to, làm bằng vàng, đồng, bạc hoặc gỗ sơn thết như hoa sen thật. Giữa
đài sen để một cái bát đựng nước mù sương tháng tám và tùy ư cắm các loại
hoa hiện có. Chung quanh trang trí 8 tấm gương tṛn, trước mỗi tấm gương
có hai lư hương cộng có 16 lư hương cả thảy. Các lư hương để đốt trầm
thủy, chiên đàn cúng dường Phật và Bồ tát, nhưng đốt mà không cho thấy
lửa.
Trong đàn tôn trí h́nh tượng chư Phật và
chư Bồ tát lồng bóng trong các tấm gương trên dưới, tám hướng, bốn phương
làm cho h́nh ảnh chư Phật, Bồ tát ảnh hiện trùng trùng nhiều lớp.
Hành giả ở trong đàn thân tâm thanh tịnh,
chí thành lễ bái danh hiệu Phật, Bồ tát trong mười phương, ngày đêm 6 thời
đi kinh hành tŕ Thủ Lăng Nghiêm tâm chú 108 biến mỗi thời. Nhiếp tâm tinh
tấn hành tŕ từ 1 thất, 2 thất, 3 thất cho đến 7 thất hoặc 100 ngày, những
người căn tánh nhanh nhẹn có thể ngay nơi đạo tràng được quả Tu đà hoàn và
tự biết ḿnh sẽ thành Phật
TRỰC CHỈ
Băng 66
"Kiến lập đạo tràng" điều đó đủ nói lên
rằng: pháp môn đó chỉ là một pháp môn "phương tiện". H́nh thức đạo tràng
được kiến tạo theo như một cái đàn "bát giác". Rồi thiết kế đài sen, rồi
tôn trí tượng chư Phật, chư Bồ tát, chưng hoa đẹp, đốt hương thơm, cúng
bánh ngon, mật ngọt, nào những tấm gương lồng bóng làm cho Phật và Bồ tát
xuất hiện trùng trùng… tất cả đều là thứ
Đạo Tràng
"phương tiện".
Đạo Tràng
"đệ nhất nghĩa", ta hăy nghe Bồ tát Duy Ma Cật nói:
Trực tâm
là đạo tràng, không có các điều hư dối.
Phát hạnh
là đạo tràng: làm tất cả điều thiện.
Thâm tâm
là đạo tràng: chân thành trên con đường đạo.
Bồ đề tâm
là đạo tràng: nhận thức chơn lư không sai lầm.
Bố thí
là đạo tràng: xứng tánh mà làm không mong cầu phước báo.
Tŕ giới
là đạo tràng: nguyện lành được đầy đủ.
Nhẫn nhục
là đạo tràng: đối với chúng sanh tâm không chướng ngại.
Tinh tấn
là đạo tràng: không biếng trễ trên con đường Bồ đề.
Thiền định
là đạo tràng: tâm nhu thuận và an ổn.
Trí tuệ
là đạo tràng: nhận thức rơ thực tướng của các pháp.
Từ
là đạo tràng: đồng sự với chúng sanh.
Bi
là đạo tràng: nhẫn chịu các sự khó nhọc v́ chúng sanh.
Hỉ
là đạo tràng: ưa thích và vui mừng được sống trong chánh pháp.
Xả
là đạo tràng: dứt sạch hết tâm thương ghét.
Thần thông
là đạo tràng: thành tựu pháp lục thông.
Giải thoát
là đạo tràng: chống trái với những tập quán vô minh. Đánh đổ hủ tục lạc
hậu.
Phương tiện
là đạo tràng: hay giáo hóa chúng sanh.
Tứ nhiếp
là đạo tràng: không bỏ một chúng sanh nào.
Đa văn
là đạo tràng: nghe chánh pháp, hành chánh pháp, và truyền bá chánh pháp…
Như vậy đó Thiện nam tử ! Bồ tát Duy Ma
Cật nói với Đồng tử Quảng Nghiêm; nếu Bồ tát theo đúng các pháp ba la mật
giáo hóa chúng sanh th́ nhất cử nhất động phải biết, đều là từ nơi "đạo
tràng" mà ra, ở nơi chỗ Phật mà đến vậy.
Trong đạo Phật, các thiền gia kim cổ
thường ví cái tâm giác ngộ của con người như con trâu trắng lớn, c̣n tâm
mê muội chưa tí nào giác ngộ ví như con trâu đen. Người tu hành thường
xuyên canh giữ cái tâm tạp vọng loạn tưởng như canh giữ con trâu đen chưa
thuần nết. Ngày con trâu trở thành toàn trắng, đó là nói lên cái kết quả
của quá tŕnh cải tạo chuyển hóa cái tâm đến hồi nhu nhuyến thuần thiện.
Hành giả hăy lấy cái tâm thuần thiện nhu nhuyến đó làm nền tảng mà kiến
lập đạo tràng.
Hăy luôn luôn soi xét về thân về khẩu về ư
của ḿnh qua những tấm gương ḷng trong sáng, qua lớp lớp chiếu soi và
chợt thấy rằng h́nh ảnh của chư Phật, chư Bồ tát và h́nh ảnh của chính
ḿnh giao hiệp với nhau trùng trùng trong một bầu pháp giới nhất chân
không ranh giới. Cho nên, đừng cầu khẩn thương t́nh, đừng quỳ lụy van xin
với Phật với Bồ tát ở một thế giới xa xăm nào là luống công vô ích.
Trầm thủy, chiên đàn, cam tùng, kê thiệt,
linh lăng v.v… dù có thơm tho đến cỡ nào, Như Lai há chẳng biết đó là "vật
hữu vi, như mộng, huyễn, bào, ảnh…" hay sao ? Chỉ có giới, định, tuệ, giải
thoát và giải thoát tri kiến mới là thứ hương cung dưỡng Phật và Bồ tát có
chân giá trị. Bánh ngon, hoa đẹp chưng dọn lên cúng Phật cũng chỉ là cách
nói: "Phổ vị thế giới tất đàn". Nếu ai có làm theo th́ cũng biểu hiện được
"một tấm ḷng" tôn kính…
Con số 108 là con số tiêu biểu, phiền năo
nghiệp của chúng sanh mê vốn có. Lục trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp khả dĩ tạo thành ba bậc nhiễm ô. Bậc một, nó làm cho con người đam mê
đến độ không c̣n lư trí. Bậc hai, nó đáp ứng cho con người sự đắc ư vui
ḷng. Bậc ba, những thứ làm cho con người sanh ghét, chê cần khử trừ triệt
hạ.
V́ vậy, khi sáu căn tác động vào sáu trần
có khả năng sanh ra 36 món nhiễm ô. 36 món nhiễm ô nầy xuất hiện trong ba
thời: đă, đang và sẽ. Đó là hệ quả của con số 108 được đặt ra. Ngày đêm
sáu thời, mỗi thời tŕ tụng 108 biến, nhằm nhắc nhở với mọi người: Ḷng
hăy dặn ḷng rằng: tŕ chú cốt yếu để hóa giải những phiền năo chướng có
thể xảy đến, thông qua 6 căn, 6 trần và 6 thức của chính ta đó. V́ thế,
không nhất thiết khư khư với con số 108 biến rồi thôi. Mà tŕ càng nhiều,
càng liên tục, càng chiếm lĩnh th́ giờ rảnh rỗi của tạp tưởng mông lung,
càng tỏ rơ sức tinh tấn kiên tŕ th́ hiệu lực "tam mật tương ưng" càng
nhanh chóng.
Đó là sự thành công có hiệu quả, là đỉnh
cao của pháp môn Mật Giáo
được đánh giá trên "Tam Mật Tương Ưng" vậy.
*****Top
Bấy giờ đức Thế Tôn từ nơi nhục kế phóng
ra hào quang bách bảo, hào quang nầy hiện ra hoa sen báu ngàn cánh. Có đức
Hóa thân Như Lai ngồi trên hoa sen. Trên đỉnh đầu Như Lai phóng ra mười
đạo hào quang bách bảo. Trong mỗi mỗi hào quang đều hiện ra những vị thần
Kim Cang mật tích, số lượng bằng mười số cát sông Hằng. Ông cầm chày, vị
vác núi đầy khắp cơi hư không. Đại chúng ngước xem vừa kính yêu, vừa lo
sợ, cầu Phật thương xót chở che và đồng nhất tâm lóng nghe đức Phóng quang
Như Lai nơi vô kiến đảnh tướng của Phật tuyên nói thần chú:
1. Nam mô tát đát tha tô già đa gia a la ha đế tam miệu tam bồ đà tỏa.
2. Tát đát tha Phật đà cu chi sắt ni sam.
3. Nam mô tát bà bột đà bột địa tát đa bệ tệ.
4. Nam mô tát đa nẩm tam miệu tam bồ đà câu chi nẩm.
5. Ta xa ra bà ca tăng già nẩm.
6. Nam mô lô kê A La Hán đa nẩm.
7. Nam mô tô lô đa ba na nẩm.
8. Nam mô ta yết rị đà dà di nẩm.
9. Nam mô lô kê tam miệu dà đa nẩm.
10. Tam miệu dà ba ra đễ ba da na nẩm.
11. Nam mô đề bà ly sắt noăn.
12. Nam mô tất đà da tỳ địa da đà ra ly sắt noăn.
13. Xá ba nô yết ra ha ta ha ta ra ma tha nẩm.
14. Nam mô bạt ra ha ma nê.
15. Nam mô nhân đà ra đa.
16. Nam mô bà dà bà đế.
17. Lô đà ra da.
18. Ô ma hát đế.
19. Ta hê dạ da.
20. Nam mô bà già bà đế.
21. Na ra dă noa gia.
22. Bàn giá ma ha tam mộ đà ra.
23. Nam mô tất yếu rị đa gia.
24. Nam mô bà già bà đế.
25. Ma ha ca ra gia.
26. Địa rị bát lạt na già ra.
27. Tỳ đà ba noa ca ra gia.
28. A địa mục đế.
29. Thi ma xá na nê bà tất nê.
30. Ma ha đát rị già noa.
31. Nam mô tất yết rị da gia.
32. Nam mô bà già bà đế.
33. Đa tha già đa câu ra gia.
34. Nam mô bát đầu ma câu na gia.
35. Nam mô bạt xà ra câu ra gia.
36. Nam mô ni câu ra gia.
37. Nam mô già xà câu ra gia.
38. Nam mô bà già bà đế.
39. Đế rị trà du ra tây na.
40. Ba ra ha ra noa ra xà gia…
………………………………
420. Đát điệt tha.
421. Án.
422. A na lệ.
423. Tỳ xá đề.
424. Bệ ra bạt xa ra đà rị.
425. Bàn đà bàn đà nể.
426. Bạt xà ra báng ni phấn.
427. Hổ hồng độ rô úng phấn.
428. Ta ba ha.
A Nan ! Đức Phật dạy tiếp, đó là những câu
tâm chú bí mật, nhiệm mầu "tát đát đa bát đát ra" (dịch là Đại bạch tán
cái) của Hóa thân từ hào quang trên đảnh của Như Lai. Tâm chú đó sản sanh
tất cả chư Phật trong mười phương.
Mười phương Như Lai Nhân tâm chú
nầy mà thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Mười phương Như Lai Nắm tâm chú nầy
mà nghiêm trị các ma quân, chế ngự bọn ngoại đạo.
Mười phương Như Lai Cởi tâm chú này
mà ngồi được ṭa sen báu, có mặt trong các cơi nhiều như số vi trần.
Mười phương Như Lai Ngậm tâm chú
nầy mà chuyển bánh xe pháp các cơi nước trong mười phương.
Mười phương Như Lai Giữ tâm chú nầy
mà trong lúc tu nhân được chư Phật thọ kư.
Mười phương Như Lai Nương tâm chú
nầy mà hóa giải tất cả khổ trong bát nạn, tam đồ.
Mười phương Như Lai Theo tâm chú
nầy mà phụng sự thiện tri thức trong mười phương, cúng dường như ư, được
suy tôn là bậc pháp vương.
Mười phương Như Lai Hành tâm chú
nầy mà thu phục được nhân tâm, khiến cho hàng Tiểu thừa nghe tạng bí mật
không sanh tâm kinh sợ.
Mười phương Như Lai Tụng tâm chú
nầy mà được thành bậc Vô thượng Bồ đề và Vô thượng Niết bàn.
Mười phương Như Lai Truyền tâm chú
nầy mà sau khi diệt độ, phó chúc Phật pháp cữu trụ và truyền tŕ giới luật
được thanh tịnh. A Nan ! Sự lợi ích của Thủ Lăng Nghiêm tâm chú, nếu Như
Lai nói từ sáng đến tối liên tục không ngừng, và ngôn từ không trùng điệp,
nói măi nói hoài trải qua số kiếp như cát sông Hằng cũng không sao hết
được. V́ vậy chú nầy c̣n được gọi là Như Lai Đảnh.
TRỰC CHỈ
Hào quang được tượng trưng cho trí tuệ,
cho nên đă là Phật th́ Phật nào cũng có hào quang và kinh điển rải rác đề
cập việc Phật sử dụng hào quang. V́ không có hào quang đồng nghĩa với
không có trí tuệ. Mà không có trí tuệ đồng nghĩa với chưa được Bồ Đề, th́
không là Phật được.
Lúc ông A Nan sắp sa ngă trước sức cám dỗ
của Ma Đăng Già nữ là lúc vô minh phát triển thế lực hoành hành. Nhằm soi
thủng màn đen vô minh, đức Phật hiện hào quang để nói thần chú. Sự kiện đó
có ư ngầm bảo cho đại chúng biết: "Gặp lúc như vậy cần sử dụng đến trí
tuệ". Hăy đem trí tuệ mà công phá vô minh. Hăy phóng hào quang để xé tan
màn u tối.
Thật tánh của vô minh vốn là Phật tánh,
cho nên vô minh chỉ là một
Huyễn Pháp. V́ vậy, cho nên
Như Lai chỉ cần hiện ra vị
Huyễn Phật nói
Huyễn Chú
là đă diệt được Vô Minh Như
Huyễn của ông A Nan rồi !
Thần Kim Cang mật tích đông như số cát của mười sông Hằng bảo hộ thần chú
Thủ Lăng Nghiêm. Đó là vận dụng văn tự ngữ ngôn để làm chỗ nương tựa tâm
hồn, để an ḷng những ai muốn phát tâm tu hành đi theo con đường Mật Giáo.
Chứ sự thật, một chơn lư hiển nhiên, người tŕ chú tu tập Thủ Lăng Nghiêm
định th́ sẽ tự tại an nhiên bất động tựa hồ như có vô số Kim Cang thần bảo
hộ đầy khắp hư không. V́ các tai họa không có lư do bộc khởi, mọi đau khổ
không c̣n dữ kiện phát sanh.
Băng 67
Băng 68
Không giảng vô kinh, Thày giảng về Jesse Herman trong Câu chuyện ḍng
sông. Băng này hay lắm
Các bậc tiền bối như ngài Đơn Hà, ngài
Trường Thủy v.v… cho rằng Thủ Lăng Nghiêm chú chỉ có tám câu, kể từ câu
420 về sau:
420 - Án
421 - A na lệ
422 - Tỳ xá đề
423 - Bệ ra bạt xà ra đà rị
424 - Bàn đà bàn đà nể
425 - Bạt xà ra báng ni phấn
426 - Hổ hồng độ rô hung phấn
427 - Ta bà ha
C̣n lại 419 câu về trước, được xem là mật
ngữ của chư Phật, mỗi chữ mỗi câu hàm nhiều ư nghĩa, cho nên xưa nay vẫn
để nguyên âm, các dịch giả không một người nào dịch. Có lẽ đó cũng là cách
áp dụng nguyên tắc "ngũ chủng bất phiên", của ngài Huyền Trang đề xuất:
-
Trang trọng bất phiên
-
Đa hàm bất phiên
-
Bí mật bất phiên
-
Thuận cổ bất phiên
-
Thử phương vô bất phiên
Tŕ Thủ Lăng Nghiêm chú, điều quan trọng
là c̣n phải sống trong môi trường Thủ Lăng Nghiêm định th́ hiệu quả giải
thoát giác ngộ mới phát huy cao. Nếu xa rời Thủ Lăng Nghiêm định, chỉ
chuyên tŕ tụng bằng âm thanh, văn tự, thêm vào đó vọng tâm tham muốn
"Linh thiên hiệu nghiệm…" th́ có thể phản tác dụng gây điều nguy hại không
lường trước được. Hành giả nên lưu ư quan tâm !
Sự thành tựu hiệu quả lớn lao của Thủ Lăng
Nghiêm chú, các đức Như Lai không phải chỉ có
Tụng. Nói cách khác là đối với Thủ Lăng
Nghiêm ngoài cách Tụng, các đức Như Lai c̣n:
Nhân. Nắm. Cởi. Ngậm. Giữ. Nương. Theo.
Hành. Truyền trong mọi cơ
hội mọi môi trường qua cuộc sống của ḿnh. Do vậy, mà Phật nói:
"Các đức Như Lai được Vô thượng Bồ Đề và
Đại Niết bàn, du hí thần thông tự tại ở khắp mười phương".
*****Top
III -
SỰ LƠỊ ÍCH CỦA THỦ LĂNG NGHIÊM CHÚ
VỚI MỌI GIAI TẦNG XĂ HỘI
Phật dạy: A Nan ! Nay tôi v́ ông mà tuyên
nói thần chú Thủ Lăng Nghiêm và cũng nhằm giúp cho thế nhân ở đời sau có
thể tu học được nhiều lợi ích.
A Nan ! Chú Thủ Lăng Nghiêm nếu ai chuyên
tâm tŕ tụng đúng như pháp mà tu hành th́ kết quả thành tựu Thủ Lăng
Nghiêm tam muội, bấy giờ vào lửa, lửa không đốt cháy, vào nước, nước không
nhận ch́m được, các thứ độc hại không hại được. Quỉ thần, tịnh mị, ác ma
không khuấy phá được. Những người thiện nam, thiện nữ hoặc biên chép hoặc
đọc tụng, hoặc truyền bá Thủ Lăng Nghiêm chú sẽ được phước đức vô biên,
hiện kiếp không sa đọa vào cảnh nghèo nàn hạ tiện. Những người đó dù không
có cơ hội làm phước, nhưng mười phương Như Lai có bao nhiêu phước đều cho
họ hết và người đó được cùng chư Phật ở chung. Nếu là người nữ muốn cầu có
con trai sẽ sanh con trai phước đức trí tuệ, muốn cầu con gái th́ được con
gái tướng hảo đoan chánh mọi người kính quí, cho đến người cầu trường thọ,
cầu phước báo, cầu sắc lực mạnh khỏe, cầu được b́nh an… đều được toại
nguyện.
Ở một quốc độ chẳng may có nhiều khổ nạn:
Dịch tể, mất mùa, giặc giă, đao binh, hạn hán, thủy tai mà vua quan cùng
dân chúng trong nước một ḷng tin kính, biên chép, tŕ tụng, lễ bái, tôn
trọng, đeo mang, truyền bá tu hành, th́ thiên long bát bộ, các thiện thần
hoan hỉ, khiến mọi khổ nạn vượt qua, mưa thuận gió ḥa, chốn chốn thái
b́nh, người người no ấm.
TRỰC CHỈ
Nhằm khuyến khích cho mọi căn cơ cho nhiều
hạng người trong xă hội phát tâm tu học theo kinh Thủ Lăng Nghiêm mà đức
Phật vận dụng lối thuyết pháp: "Thế giới tất đàn", cho nên đọc đoạn kinh
văn trên, nghe qua ai cũng thấy pháp môn tu tập nầy có đáp ứng nguyện vọng
của ḿnh đang mong muốn. Và sự thật, nếu ai đó nghe qua, rồi v́ cái lợi
trước mắt dựa trên ngôn ngữ văn tự ấy mà tu th́ vẫn có được lợi, nhưng cái
lợi đó hẳn không phải là cái lợi cứu cánh lâu dài.
Nếu chỉ sao chép, tôn thờ, ấn tống truyền
bá, đọc tụng và đeo mang, mà cầu ǵ được nấy, diệt họa trừ tai cho cá
nhân, cho xă hội một cách quá dễ dàng th́ thử hỏi tám vạn bốn ngàn pháp
môn khác, đức Phật bỏ cả cuộc đời khổ công dạy bảo để làm ǵ ? Nền giáo lư Nhân quả
trong nếp sống tu hành của người đệ tử Phật, không c̣n giá trị nữa hay sao
?
Người học Phật "Lăm ngũ thời bát giáo để
làm kỷ cương kinh luật luận… chiếu thất đại tứ khoa biết thế nào là khai
hợp văn tư tu" sẽ được có cái lợi trong sự nhận thức kinh điển như giáo lư
của đoạn kinh nầy.
*****Top
Băng 69
IV - HỎI VỀ CẤP BẬC VÀ ĐỊA VỊ
TRÊN ĐƯỜNG TU CHỨNG
Bạch Thế Tôn, ông A Nan thưa, từ lâu chúng
tôi ngu độn, chỉ ham học rộng nghe nhiều mà chưa có ư chí mong cầu giải
thoát phiền năo trần lao vượt ra hữu lậu. Nhờ ḷng từ bi rộng lớn của Phật
khai thông giác đạo chỉ nẻo Niết Bàn khiến cho chúng tôi được lợi ích lớn
lao.
Nay chúng tôi cầu xin Phật chỉ dạy cho
chúng tôi về cấp bậc và địa vị trên đường tu chứng:
Càn Tuệ địa là hạng người như thế nào ?
Trong 44 tâm, đạo hạnh phải như thế nào
th́ được gọi là Bồ tát đăng địa ?
Đẳng giác Bồ tát là người như thế nào ?
*****
Băng 70
V - ĐỨC PHẬT CHỈ RƠ HAI NGUYÊN NHÂN
ĐIÊN ĐẢO VỌNG CHẤP VỀ THẾ
GIỚI
VÀ CHÚNG SANH, TRƯỚC KHI GIẢI
ĐÁP
VỀ VẤN ĐỀ ĐỊA VỊ TRÊN ĐƯỜNG TU
CHỨNG
Đức Phật dạy: A Nan ! Ông nên biết: Diệu
Tánh Viên Minh rời các danh tướng, xưa nay không có thế giới và chúng
sanh. Nhân vọng mà thấy có sanh; nhân sanh mà thấy có diệt; sanh diệt gọi
là vọng; diệt vọng gọi là chân. Đó là hai cách chuyển y thành tựu Vô
thượng Bồ Đề và Đại Niết Bàn của chư Phật.
A Nan ! Nay ông muốn tu tam ma đề để thẳng
đến Niết bàn Phật, trước hết ông phải nhận biết cho rơ hai nguyên nhân
điên đảo về thế giới và chúng sanh. Chừng nào hết điên đảo th́ ngay nơi đó
là tam ma đề vậy.
Thế nào là điên đảo về chúng sanh ?
Nầy A Nan ! Tâm chúng sanh bản tánh vốn
Minh. Tánh minh ấy viên măn khắp cùng. Nhân tánh minh ấy mà vọng nhận cho
là có tánh. Do đó mà vọng kiến sanh ra. Đă có vọng kiến th́ những pháp vốn
không, trở thành pháp có. Những pháp được cho là có, truy t́m nguyên nhân
của nó vốn phi nhân. V́ thế, t́m xét nguyên nhân th́ hoàn toàn không có
gốc nguồn. Tánh vọng kiến năng trụ, tướng cảnh giới sở trụ cả hai đều là
pháp vô trụ. Dựa trên pháp vốn vô trụ ấy mà kiến lập thế giới và chúng
sanh.
V́ mê không nhận được tánh viên minh vốn
sẵn có nên sanh ra hư vọng. Tánh hư vọng không có tự thể, không chỗ gá
nương. Do vậy, cho nên mong ư trở về chân làm cho chân hóa ra vọng. Không
vọng tức là chân, đừng móng ư "trở về" hay nguyện ước mong t́m cái chân ở
nơi đâu khác.
V́ không nhận thức chân lư cho nên thế
giới và chúng sanh vốn không phải sanh cho là thật có sanh, không phải
thật trụ cho là trụ, không phải tâm cho là tâm, không phải pháp cho là
pháp. Do vậy, vọng kiến ngày một sâu rộng thêm theo quá tŕnh huân sanh
huân trưởng, sanh diệt diệt sanh biểu hiện qua hành động thân khẩu ư của
cuộc sống con người, gọi đó là nghiệp báo. Hễ đồng nghiệp th́ cảm hợp
nhau. Dị nghiệp th́ chống trái nhau, thương th́ sanh nhau, ghét th́ diệt
nhau. Do nhận thức sai lầm như thế, nên gọi đó là: Điên Đảo về Chúng
Sanh.
Băng 71
Thế nào là điên đảo về thế giới ?
Nầy A Nan ! Đă cho là có pháp sở hữu, có
vật chất th́ khái niệm kích thước, diện tích, cự ly, qui mô… giả dối sanh
ra. V́ vậy khái niệm "không gian" được thành lập. Do phi nhân làm nhân cho
nên không thật có sở trụ và năng trụ. V́ không có năng trụ, sở trụ nên mọi
hiện tượng luôn luôn trong quá tŕnh vận động trong tiến tŕnh chuyển
biến, không có sự vật nào đứng yên nguyên trạng của ḿnh. V́ thế mà khái
niệm "Thời gian" được thành lập. Bốn phương ba đời ḥa hợp tác động lẫn
nhau mà biến hóa mà h́nh thành 12 loại chúng sanh trong thế giới. V́ vậy
cho nên trong thế giới nhân động có thanh, nhân thanh có sắc, nhân sắc có
hương, nhân hương có xúc, nhân xúc có vị, nhân vị có pháp, sanh khởi hỗ
tương. Do sáu thứ trần tướng ấy làm điều kiện mà sanh khởi sáu thứ vọng
tưởng rối ren kết thành nghiệp chủng của các loài: thai sanh, noăn sanh,
thấp sanh, hóa sanh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu sắc,
phi vô sắc, phi hữu tưởng, phi vô tưởng, 12 loại chúng sanh như vậy.
-
A Nan ! Do v́ trong thế giới có tánh "hư
vọng" phổ biến và thiên nặng về "động", ḥa hợp với "khí" thành 84.000
loạn tưởng, thứ bay thứ lặn, cho nên có thứ tế bào chủng thuộc loại mầm
trứng, sanh ra các loại: cá, chim, rùa, rắn… (noăn sanh).
-
Do v́ trong thế giới có tánh "tập nhiễm"
phổ biến và thiên nặng về "Dục", ḥa hợp với chất "nhuận" thành
84.000 loạn tưởng thuộc giống đứng thẳng, giống xương sống nằm ngang, cho
nên có thứ tế bào chủng bọc nước phôi thai để rồi sanh ra các loại: Người,
súc… (thai sanh).
-
Do v́ trong thế giới có tánh "Chấp mắc"
phổ biến và thiên nặng về "cơi" (ngũ thú) ḥa hợp với "khí ấm"
thành 84.000 loạn tưởng ngữa nghiêng nên có thứ tế bào chủng, chất thịt
ướt, sanh ra các loài: nhung nhúc cựa quậy… (thấp sanh).
-
Do v́ trong thế giới có tánh "biến dịch"
phổ biến và thiên nặng về "giả" ḥa hợp với "xúc" thành 84.000 loạn tưởng
thay cũ đổi mới, cho nên có thứ tế bào chủng chất thịt cứng, sanh ra các
loài ḅ, bay, lột vỏ, thoát xác… (hóa sanh).
-
Do v́ trong thế giới có tánh "lưu ngại"
phổ biến và thiên nặng về "chướng" ḥa hợp với "dính mắc" thành 84.000
loạn tưởng vừa "tinh vừa diệu" cho nên có thứ tế bào chủng sắc
tướng sanh ra các loại thần: Hưu trưng, cửu trưng… (hưu trưng là thiện
thần, cửu trưng thuộc ác thần) (hữu sắc).
-
Do v́ trong thế giới có tánh "tiêu tán"
phổ biến và thiên nặng về "hoặc" (lầm lẫn) ḥa hợp với "Ám" (ngu
độn) thành 84.000 loạn tưởng thầm ẩn, cho nên có thứ tế bào chủng vô sắc,
sanh ra các loại thần quỉ mỵ không tán tiêu trầm… (vô sắc).
-
Do v́ trong thế giới có tánh "vơng tượng"
phổ biến và thiên nặng về "ảnh tượng" ḥa hợp với "kư ức" thành 84.000
loạn tưởng tiềm tàng cho nên có thứ tế bào chủng hữu tưởng, sanh ra các
loại thần, quỉ, linh ứng (hữu tưởng).
-
Do v́ trong thế giới có tánh "ngu độn" phổ
biến và thiên nặng về "si" ḥa hợp với "ngoan cố" thành 84.000 loạn
tưởng khô khan cho nên có thứ tế bào chủng vô tưởng hóa thành các loại:
đất, đá, cây, kim loại… (vô tưởng).
-
Do v́ trong thế giới có tánh "băi bui" phổ
biến, thiên nặng về "dối trá" ḥa hợp với "nhiễm" thành 84.000 loạn tưởng
nhân y cho nên có thứ tế bào chủng không phải sắc mà sắc sanh ra loài thủy
mẫu dùng tôm làm mắt… (phi hữu sắc).
-
Do v́ trong thế giới có tánh "hấp dẫn" phổ
biến thiên nặng về "tánh" (dị tánh tương hấp, đồng tánh tương cự) ḥa hợp
với "chú" (chú thuật) thành 84.000 loạn tưởng hú gọi cho nên có thứ
tế bào chủng phi vô sắc mà vô sắc sanh ra loại trù ếm bùa chú… (phi vô
sắc).
-
Do v́ trong thế giới có tánh "hợp vọng"
phổ biến thiên nặng về "lừa đảo" ḥa hợp với "dị" (loài khác) thành 84.000
loạn tưởng tráo trở cho nên có thứ tế bào chủng phi hữu tưởng mà có tưởng
sanh ra loài bồ lô… (loài sanh rồi do một trợ duyên khác để bảo tồn và
trưởng thành. Chẳng hạn như loài vịt xiêm đẻ ra không ấp, nhờ giống khác
ấp trứng để nở con và nuôi dưỡng, giống rùa đẻ trứng lấp đất bỏ đi… Các
bản dịch xưa nói "bồ lô" là con ṭ ṿ, không đúng. Ṭ ṿ bắt sâu nhốt vào
ổ để làm thức ăn cho con, khi con c̣n nhỏ chưa bay đi kiếm ăn được, chớ
không phải những con sâu đó hóa ra ṭ ṿ như người xưa lầm hiểu).
-
Do v́ trong thế giới có tánh "oán hại" phổ
biến và thiên nặng về "sát" ḥa hợp với "quái" (quái dị) thành 84.000 loạn
tưởng ăn thịt cha mẹ cho nên có thứ tế bào chủng phi vô tưởng mà vô tưởng
sanh ra loài chim thổ kiêu ấp đất cục, chim phá kính ấp trái độc làm con…
con lớn lên ăn thịt cha mẹ…
A Nan ! Đó gọi là 12 loại chúng sanh xoay
chuyển trôi lăn trong ba cơi. Sự luân hồi lên xuống như vậy chẳng khác nào
dụi con mắt thấy hoa đốm nhiều thứ phát sanh ra. Chơn tâm của con người
vốn mầu nhiệm trong sáng tṛn đầy, một khi vô minh điên đảo th́ đầy dẫy
những vọng tưởng rối ren, giả dối sanh ra, cũng như vậy.
Nay ông muốn tu chứng tam ma đề chư Phật,
Như Lai sẽ chỉ dạy cho ông về "ba món tiệm thứ", ông hăy y đó mà tu hành
để diệt trừ cho hết mọi nguyên nhân điên đảo. Ví như cái b́nh pha lê muốn
đựng cam lồ th́ cần phải rửa sạch hết chất bẩn, chất độc vậy.
TRỰC CHỈ
Vấn đề "thế giới" và "chúng sanh" nh́n bên
mặt chân th́ tất cả là một thể nhiệm mầu, trong sáng, b́nh đẳng như như.
Nó xa rời tất cả danh tướng, xưa nay không có tên gọi.
Đề cập đến "thế giới" và "chúng sanh" là
do con người đă đem cái nh́n chủ quan của ḿnh đề nh́n hiện tượng vạn pháp
ở mặt "sanh diệt" của chúng.
Do v́ vọng kiến cho nên thấy hiện tượng có
thật sanh. Đă thấy có thật sanh th́ cũng chấp nhận rằng có thật diệt. Thực
chất của hiện tượng vạn pháp, sanh không có thật sanh và diệt cũng không
có thật diệt. Cho nên sanh diệt gọi là vọng. Nhưng vọng không thật vọng,
v́ vọng không có thật tánh. Cho nên mọi chúng sanh đều có khả năng diệt
vọng. Diệt hết vọng th́ gọi đó là chơn. V́ vậy: chơn không ngoài vọng.
Biết vọng không theo vọng ngay nơi đó đă chơn rồi. Người học đạo không cầu
chơn ở cảnh giới xa xăm nào khác.
Hai pháp chuyển y: chuyển phiền năo thành
Bồ đề, chuyển sanh tử thành Niết bàn, đức Thế tôn ta thực hiện thành công
ngay trên cơi đời nầy mà không tốn một tí hơi khẩn nguyện, không phí sức
dù một lạy để qú lạy van xin.
Đến như "tam ma đề" cũng chẳng phải là
những ǵ siêu thực, viễn vông. Chừng nào "điên đảo" không sanh th́ ngay
nơi đó là "tam ma đề" rồi vậy !
"Thế" là thời gian. "Giới" là không gian.
Thấy thế giới là do vọng kiến phân biệt của con người nương gá vào các
pháp hiện tượng "duyên sanh như huyễn" ấy. Đă đánh giá hiện tượng vạn pháp
là thật th́ cũng chấp nhận kích thước, ngắn dài, diện tích rộng hẹp, qui
mô cao thấp… của vạn pháp là thật. Do vậy, mà khái niệm "không gian" được
lập ra. Đă nhận thức rằng hiện tượng vạn pháp là thật th́ cũng nhận thức
rằng chúng luôn luôn vận động theo quá tŕnh: sanh, trụ, dị, diệt, sanh,
lăo, bịnh, tử, thành, trụ, hoại, không. Do vậy, khái niệm "thời gian" được
con người xác lập.
Thời gian có 3. Không gian có 4. Ba tác
động vào bốn: 3 x 4 = 12. Bốn tác động vào ba: 4 x 3 = 12. Do vậy, Như Lai
nói: Nhận thức "thế giới" bên mặt "sanh diệt" của hiện tượng vạn pháp chỉ
là cái nhận thức Điên Đảo về thế giới mà thôi !
Mười hai loại chúng sanh trong thế giới
cũng chỉ là những hiện tượng "Duyên sanh như huyễn". Duyên th́ trùng trùng
vô tận. Thế giới th́ vô thỉ vô chung.
Hoa đốm trùng điệp trong hư không, đối với
người bệnh nhặm mắt họ vẫn thấy là có thật. Hoa đốm sẽ không là ǵ hết,
chừng nào con mắt ai đó trong sáng không c̣n bệnh nhặm ḷa.
*****Top
Băng 72
CHƯƠNG THỨ TÁM
I - PHẬT DẠY BA MÓN TIỆM THỨ
Thế nào là ba món tiệm thứ
?
Một là tu tập, trừ các trợ nhân.
Hai là chân tu, trau dồi chánh tánh.
Ba là tăng tiến, ngược ḍng hiện nghiệp.
Thế nào là trừ các loại trợ
nhân ?
Nầy A Nan ! Mười hai loại chúng sanh trong
thế giới không thể tự toàn thánh thiện, cần phải nương theo bốn cách ăn mà
được tồn sinh. Đó là đoàn thực, xúc thực, tư thực và thức thực. V́ vậy,
Như Lai nói tất cả chúng sanh nhờ ăn mà được sống c̣n.
Đoàn thực là ăn các thứ ngũ cốc, ngũ quả,
ăn từng nắm vắt, từng miếng, từng cái, mà chúng sanh thọ dụng hàng ngày.
Xúc thực là nhờ sự tiếp xúc của căn và
trần sanh ra cảm thọ vui buồn, như coi hát, xem phim… làm cho con người
thấy khỏe khoắn kéo dài sự sống.
Tư thực là nhớ nghĩ những điều thích thú
đă qua, hy vọng ǵ toại ḷng sắp đến, cũng là cách giúp cho sự sống tồn
sinh.
Thức thực là A lại da thức duy tŕ ḍng
sanh mệnh, làm chỗ y chỉ cho tiền thất thức.
Chúng sanh các ông đă quay về đạo vô
thượng của Như Lai, th́ hăy khéo léo điều ḥa các cách ăn của ḿnh, đừng
để rơi vào tửu nhục bê tha, sắc thanh phóng túng, hy vọng đảo điên với một
tâm hồn đen tối, trong một thể xác buông trôi trong biển đời ô trược.
Hăy chủ động các cách ăn, gọi là tu tập
trừ các trợ nhân. Đó gọi là món tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ nhất.
Thế nào là trau dồi chánh
tánh ?
A Nan ! Hành giả muốn vào tam ma đề, trước
hết phải giữ ǵn giới luật cho thanh tịnh. Phải đoạn tâm dâm và tâm sát.
Người tu hành không dứt tâm tham dâm hiếu sát mà mong ra khỏi ba cơi là
điều không thể có. Phải giữ tứ trọng và bát khí của Thanh văn tiến lên
hành tŕ tam tụ tịnh giới của Bồ tát. Giữ giới dâm được thanh tịnh th́ cắt
đứt nghiệp nhân sanh nhau, giết nhau ở thế gian. Giữ giới trộm cướp thanh
tịnh th́ không c̣n nợ trần vay trả kiếp nầy kiếp nọ trong lục thú. Thành
tựu tam ma đề th́ cái nhục thân cha mẹ sanh ra không cần thiên nhăn tự
thấy được thế giới trong mười phương, thấy Phật, nghe pháp, chính ḿnh
vâng lănh thánh chỉ của Phật, được đại thần thông dạo khắp thập phương thế
giới… Đó gọi là món tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ hai.
Thế nào là ngược ḍng hiện
nghiệp ?
A Nan ! Người giữ giới cấm thanh tịnh, tâm
ư trong sáng, tam nghiệp điều thuận, không rong ruổi theo lục trần và tự
biết tánh bản nguyên. Trần chẳng tương duyên th́ tâm không bị dính mắc
buộc ràng, đi ngược ḍng hiện nghiệp trở về thể tánh tịnh minh; sáu thức
trong sáng như pha lê, nh́n cơi nước trong mười phương một màu trong suốt
như ngọc lưu ly toàn bích có ánh trăng tṛn sáng ảnh hiện vào trong. Thân
tâm hành giả, bấy giờ khinh an khoan khoái trong thể tánh nhiệm mầu và
mười phương Như Lai một thời cùng hiện, hành giả chứng nhập pháp nhẫn vô
sanh. Sự tu tập từ đó dần dần tăng tiến, rồi dựa trên mức độ giải thoát
giác ngộ của hành giả mà an lập địa vị thánh hiền. Đó là món tiệm thứ tu
hành tăng tiến thứ ba.
TRỰC CHỈ
"Tiệm" và "đốn" là hai thuật ngữ của đạo
Phật. Tiệm có nghĩa là dần dần, tu dần dần, học hiểu dần dần và dần dần
chứng đắc, từ quả vị thấp đến quả vị cao. "Đốn" là nhanh chóng, thẳng tắt
vượt bậc. Như nghe pháp liễu nghĩa đại thừa, liền tỏ ngộ một cách sâu sắc,
không bị sự phân vân đấu tranh trong quá tŕnh nhận thức chơn lư. Do đó,
sự giải thoát giác ngộ vượt bậc không hạn cuộc bởi thời gian và pháp môn
tu tập nào. Luận xét về căn cơ của chúng sanh th́ có nhiều hạng. Có người
chỉ tu tập pháp "tiệm tu tiệm ngộ". Có người th́ "đốn ngộ" nhưng cần phải
"tiệm tu". Có người th́ "đốn tu" mà "tiệm ngộ". Chỉ có hạng "đốn ngộ đốn
tu" là hạng người "bạt tục siêu quần, vạn trung vô nhất".
Cùng một đích đến, mà phương tiện di
chuyển khác nhau th́ sự hiện diện sau trước khác nhau. Ai đi máy bay th́
đến trước, sử dụng ô tô th́ phải chịu hạng nh́, cỡi xe gắn máy thậm chí
với người đi bộ, trước sau vẫn đến, nhưng sự có mặt hoàn toàn lệ thuộc với
thời gian. Vấn đề đốn tiệm trong việc tu hành tiến bộ chậm mau hoàn toàn
tùy thuộc vào căn cơ chủng tánh.
Phật dạy ba môn tiệm thứ nhằm mở rộng cửa
Niết bàn, đón nhận hết mọi thứ chủng tánh, căn cơ.
Địa vị Hiền, Thánh, Đẳng giác và Phật, cả
thảy 55 bậc. Tiêu chuẩn xét đoán đều căn cứ nơi "tâm" và "hạnh" mà ước
định quả vị ở vào thứ bậc nào. Thứ bậc có trên dưới, quả vị có thấp cao,
người đệ tử Phật uyên thâm giáo lư, hiểu ngay rằng: Đó là phương tiện giả
lập. Tâm hạnh của người đạt đạo làm sao lấy thước mà đo ? Người chứng đắc
đạo quả, thấy rằng ḿnh có chứng đắc vốn đă là sai. Nói có địa vị thấp
cao, phải hiểu đó là phương tiện của Như Lai vận dụng !
*****Top
Băng 73
II - CÁC ĐỊA VỊ TRONG TIẾN TR̀NH TU CHỨNG
1. ĐỊA VỊ CÀN TUỆ
Phật bảo: A Nan ! Khi có người thiện nam
phát ư tu hành đến giai đoạn ái dục khô cạn, căn cảnh không c̣n dính mắc
nặng sâu, tâm luyến ái được vơi nhẹ, nhờ vậy họ thường giữ tâm trụ ở chỗ
rỗng không và trong sáng. Họ chỉ sử dụng thuần một mặt lư trí mà quan sát
mà đánh giá nhận thức hiện tượng vạn pháp trong thế giới mười phương. Họ
khô cạn hết những tập khí dục nhiễm luyến ái ở cơi đời, nhưng họ chưa tiếp
thu được ḍng nước pháp hỉ khinh an của Như Lai, họ chỉ có một thứ lư trí
khô khan, cho nên gọi là CÀN TUỆ ĐỊA.
TRỰC CHỈ
Dựa trên công dụng chuyển mê khai ngộ của
con người, Như Lai phương tiện triển khai các thành vị. Càn tuệ địa nói dễ
hiểu là những hạng người tu hành bắt đầu khô khan t́nh cảm của thế gian.
Họ chinh phục và chiến thắng được những dục nhiễm luyến ái của thường
t́nh, họ bắt đầu sống nghiêng nặng về mặt lư trí trong sáng, cứng rắn.
Người phát tâm tu hành, công việc đầu tiên
phải học tập và tự huấn luyện cho ḿnh sống nhiều lư trí. V́ đỉnh cao của
lư trí chính là vị CÀN TUỆ nầy.
Con người tâm hồn ướt át, t́nh cảm rạt rào
mà mong học tu đạo giải thoát, chẳng khác nào đào giếng t́m nguồn nước để
uống với một nhát cuốc đầu tiên tung tóe mịt mù cát bụi !
2. ĐỊA VỊ THẬP TÍN
-
Tín tâm.
Từ địa vị Càn tuệ phát huy tánh nhiệm mầu tṛn sáng của chơn tâm, ức chế
các vọng tưởng, hướng tâm vào chân lư trung đạo.
-
Niệm tâm.
Có tín tâm chân chánh, chánh trí phát sanh ngũ ấm, lục nhập, thập nhị xứ,
thập bát giới không c̣n là những chướng ngại ngăn che mà c̣n có thể nhớ
lại những việc xa xưa của đời ḿnh trong nhiều kiếp.
-
Tinh tấn tâm.
Chánh trí ngày càng hiển hiện, tập khí bất thiện vô thỉ bị đồng hóa theo
tánh tịnh minh và giữ vững tánh tịnh minh tiến dần đến chỗ chân tịnh.
-
Tuệ tâm.
Tâm tánh tịnh minh được liên tục hiện tiền, thường sống và tư duy trong
trí tuệ.
-
Định tâm.
Duy tŕ và phát huy trí tuệ đă có. Tâm ư an trụ trong cảnh tịch tĩnh và
sanh ra một định lực trong sáng.
-
Bất thối tâm.
Do định lực phát sanh trí tuệ ngày một tăng tiến mà không có thoái thất.
-
Hộ pháp tâm.
Định tuệ tự nhiên tăng trưởng theo đà tiên tiến, hành giả giao tiếp từng
phần phước, trí hùng lực của thập phương Như Lai.
-
Hồi hướng tâm.
Thường giác tĩnh trong tánh giác minh. Xoay tánh giác minh an trú nơi trí
quang Phật, như hai tấm gương đối chiếu, những h́nh ảnh trong gương y hệt
nhau.
-
Giới tâm.
Xoay về an trú nơi trí quang Phật. Nhờ vậy, tâm càng thêm thanh tịnh an
trụ trong tịch tĩnh vô vi, xa rời những lối sinh hoạt h́nh thức hữu vi.
-
Nguyện tâm.
Giới tâm đă tự tại cho nên hành giả có thể vân du khắp cơi nước mười
phương tùy nguyện của ḿnh.
3. ĐỊA VỊ THẬP TRỤ
-
Phát tâm trụ:
Hành giả vận dụng phương tiện phát khởi mười tâm ở hàng thập tín cho đến
khi tâm tánh ấy c̣n ṛng rặc một thể tịnh minh, viên dung thành một chân
tâm sáng suốt viên măn.
-
Trị địa trụ:
Nương nơi tâm trong sáng đă có trau dồi sửa trị cái tâm hiện tại khiến cho
chân tâm trong sáng càng trong sáng hơn như khối lưu ly trong suốt và
trong đó hiện ra vàng ṛng.
-
Tu hành trụ:
Tâm địa thông suốt, công dụng nhận thức của sáu căn không c̣n bị ngăn ngại
bởi sáu trần, tri kiến của hành giả có khả năng vận dụng quan sát khắp
mười phương không có ǵ ngăn ngại.
-
Sanh quí trụ:
Đạt đến chỗ hạnh đồng như Phật và tiếp thụ từng phần Bồ đề Niết bàn của
Phật, gia nhập ḍng dơi của Như Lai, như thân trung ấm t́m cha mẹ âm tín
đă thầm giao cảm với nhau rồi.
-
Phương tiện cụ túc trụ:
Đă vào đạo thai, nhờ sự nuôi dưỡng của giác tánh ví như bào thai đă thành
h́nh đầy đủ.
-
Chánh tâm trụ:
H́nh dung giống Phật, tâm tưởng cũng vậy.
-
Bất thoái trụ:
Thân tâm đều thanh tịnh và sự thanh tịnh ngày một tăng mà không có lui
sụt.
-
Đồng chơn trụ:
Mười thân có đủ trong một thời (1).
-
Pháp vương tử trụ:
Ví như h́nh vóc đă trưởng thành ra khỏi bào thai. Và chính ḿnh đă trở
thành con của đấng Pháp vương.
-
Quản đảnh trụ:
Ví như vị hoàng tử đă đến tuổi lớn khôn, nhà vua truyền trao quốc sự cho
Thái tử bằng một nghi lễ, xối nước bốn biển gội đầu.
4. ĐỊA VỊ THẬP HẠNH
-
Hoan hỉ hạnh:
Người thiện nam tử khi đă trở thành Phật tử rồi, có đầy đủ những đức tánh
nhiệm mầu của Như Lai, bấy giờ có thể hoan hỉ và tùy thuận tất cả.
-
Nhiêu tích hạnh:
Người Phật tử khéo biết làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.
-
Vô sân hận hạnh:
Hai hạnh tự giác và giác tha của người Phật tử đồng nhau và không chống
trái nhau.
-
Vô tận hạnh:
Tùy loại chúng sanh mà hiện thân hóa độ, ba đời b́nh đẳng mười phương
thông suốt cho đến cùng tận vị lai.
-
Ly si loạn hạnh:
Có trí tuệ trong sự nhận thức: Các pháp dị, hợp, thành, đồng. Pháp Phật
nhiều vô lượng, nhận thức không c̣n sai lầm.
-
Thiện hiện hạnh:
Các pháp đồng phân giải ra dị, nhiều pháp dị tổng hợp thành đồng.
-
Vô trước hạnh:
Đồng có thể hiện dị, dị có thể hiện đồng. Mỗi vi trần hiện mười phương thế
giới, mỗi thế giới hiện mười phương hư không, hiện vi trần, hiện thế giới,
hiện hư không mà không ngăn ngại ǵ nhau.
-
Tôn trọng hạnh:
Nhận thức rằng tất cả sự vật hiện tượng trước mắt đều là đệ nhất ba la mật
đa.
-
Thiện pháp hạnh:
Nhận thức mọi hiện tượng vạn pháp viên dung tương tức tương nhập và sự
nhận thức đó phù hợp thành một qui tắc chung của chư Phật mười phương.
-
Chân thật hạnh:
Nhận thức rằng tất cả pháp đều là thanh tịnh vô lậu, là vô vi trong pháp
giới nhất chân. V́ tánh của các pháp vốn là như vậy.
5. ĐỊA VỊ THẬP HỒI HƯỚNG
-
Cứu hộ nhất thiết chúng
sanh ly chúng sanh tướng hồi hướng:
Người Phật tử đầy đủ thần thông thành tựu Phật sự, thân tâm trong sáng, xa
ĺa các lỗi lầm, bấy giờ ra làm việc độ sanh mà diệt bỏ quan niệm năng độ
sở độ, chỉ xoay tâm vô trụ chấp hướng về Niết bàn tịch tĩnh.
-
Bất hoại hồi hướng:
Hành giả có khả năng hoại những thứ cần diệt hoại. Có khả năng viễn ly
những ǵ cần viễn ly. Năng giữ bản tâm trong sáng của ḿnh.
-
Đẳng nhất thiết Phật hồi
hướng: Tánh bản giác trong sáng
của hành giả hiển hiện như ngang bằng với Phật.
-
Chí nhất thiết xứ hồi
hướng: Phát minh tận cùng cái
chân giác, tâm địa của hành giả gần như tâm Phật.
-
Vô tận công đức tạng hồi
hướng: Thế giới và Như Lai,
trước mắt hành giả chỉ là một, chân lư và chân trí dung hợp nhau không có
khoảng cách năng sở.
-
Tùy thuận b́nh đẳng thiện
căn hồi hướng: Nhận thức rằng:
tâm địa Phật và tâm địa của chúng sanh vốn đồng và trong chỗ đồng phát huy
các nhân thanh tịnh riêng khác để thủ đắc Niết bàn.
-
Tùy thuận đẳng pháp nhất
thiết chúng sanh hồi hướng: Căn
bản trí đă hiển lộ, nhận thức rằng: chính ḿnh và tất cả chúng sanh đồng
một bản thể chân như thanh tịnh.
-
Chân như tướng hồi hướng:
Nhận thức rằng: Tất cả là một, một là tất cả. Ly nhất thiết tướng mà không
ly tướng nào. Ly và tức viên dung vô ngại.
-
Vô phược giải thoát hồi
hướng: Đă thể nhập chân như lư,
hành giả tự tại trước mọi hiện tượng vạn pháp trong mười phương.
-
Pháp giới vô lượng hồi
hướng: Thành tựu viên măn công
đức thanh tịnh trong thể tánh chân như, bấy giờ trước mắt hành giả, pháp
giới trở thành "nhất chân", quan niệm ranh giới cách ngăn không c̣n nữa
6. ĐỊA VỊ TỨ GIA HẠNH
A Nan ! Người đệ tử Phật vượt qua các địa
vị Hướng, Hạnh, Trụ, Tín và Càn tuệ 41 tâm ấy rồi tiến lên tu tập bốn địa
vị gia hạnh nầy.
-
Noăn vị:
Hành giả liên tục phát huy cái tuệ giác Phật làm tâm ḿnh, ví như dùi gỗ
lấy lửa để đốt gỗ, lửa sắp phát ra mà chưa phát.
-
Đảnh vị:
Hành giả lấy tâm ḿnh làm chỗ nương để phát huy tuệ giác Phật, giống như
nương mà không phải nương, ví như người leo lên đảnh núi, thân đă vào hư
không, nhưng chân c̣n bám một tí núi chưa rời khỏi.
-
Nhẫn vị:
Tâm ta và tâm Phật như nhau, khéo nhận thức lư trung đạo, ví như người
biết nhẫn, không phải ôm vào cũng không phải xua ra.
-
Thế đệ nhất vị:
Tâm hành giả đạt đến chỗ vô sở trụ, diệt hết những phân biệt danh ngôn,
xóa bỏ hết những ǵ thuộc về lượng số. Vấn đề mê, giác, trung đạo đối với
hành giả như chẳng c̣n giá trị ǵ.
7. ĐỊA VỊ THẬP ĐỊA
Phật dạy: A Nan ! Dựa trên công dụng tu
hành, căn cứ thành quả giải thoát giác ngộ, th́ quả vị thập địa gồm có
những hạng người như sau:
-
Hoan hỉ địa:
Người đệ tử Phật đối đại Bồ đề thông suốt sâu sắc, tuệ giác của họ gần như
Phật, có khả năng nhận thức tột cùng cảnh giới của Phật.
-
Ly cấu địa:
Tất cả tánh dị biệt của vạn hữu hành giả nhận thấy là chung cùng, tánh
chung cùng hành giả không có cái chung cùng chơn thật, v́ đó chỉ là hợp
lại của những tánh dị biệt kia.
-
Phát quang địa:
Tâm thanh tịnh của hành giả đến độ tột cùng, bấy giờ trí tuệ trong sáng tự
nhiên sanh ra mà hành giả không cần khởi công vận dụng.
-
Diệm tuệ địa:
Trí tuệ sáng suốt tột cùng, hành giả thường sống trong giác tĩnh trong mọi
nơi chốn, mọi thời gian.
-
Nan thắng địa:
Khái niệm đồng dị, thân sơ, bĩ thử đối với hành giả không c̣n.
-
Hiện tiền địa:
Thể tánh tịnh minh vốn có nay đă hiện bày tỏ rơ, tâm thường trú hiển lộ
trong cuộc sống của hành giả thường xuyên.
-
Viễn hành địa:
Nhận thức rơ tột về bản thể chân như và sống hợp với bản thể chân như ấy.
-
Bất động địa:
Hành giả thể nhập với bản thể chân như.
-
Thiện tuệ địa:
Thể nhập bản thể chân như rồi, hành giả vận dụng chân như biểu hiện ra
diệu dụng của chân như.
-
Pháp vân địa:
Hạnh tu tập đă xong, công đức viên măn, lợi ḿnh và tùy ư làm lợi cho
người, ví như bóng mây lành che mát khiến cho chúng sanh vui chơi lặn lội
trong biển Niết bàn.
8. QUẢ VỊ ĐẲNG GIÁC VÀ
DIỆU GIÁC
Nầy A Nan ! Như Lai th́ ngược ḍng ngoảnh
lại. Bồ tát th́ thuận ḍng mà tu tập tiến tới. Tuệ giác của hai đường giáp
tuyến gặp nhau. Ở vào giai đoạn đó gọi là địa vị ĐẲNG GIÁC.
A Nan ! Từ địa vị Càn tuệ đến địa vị Đẳng
giác là 53 địa vị. Tột cùng của địa vị Đẳng giác gọi là Kim Cang tâm.
Ngoảnh nh́n lại trên quá tŕnh tu tập từ ban đầu chặng giữa chẳng có chút
ǵ sai khác: Lấy mười thí dụ làm đối tượng để tư duy quán chiếu. Đến khi
CHỈ QUÁN quân b́nh là tột cùng quả Diệu Giác viên măn thành tựu VÔ THƯỢNG
BỒ ĐỀ.
A Nan ! Thành tựu Bồ đề Niết bàn Vô
thượng, mười phương Như Lai cũng dựa vào ba món tiệm thứ mà tu hành tăng
tiến rồi kéo bồi dưỡng và phát huy theo quá tŕnh tiệm tiến trải qua 55
địa vị ấy mà đến Vô thượng Bồ đề.
Người Phật tử tu học hiểu như thế là đúng
chánh pháp, tin hiểu khác đi là người ngoại đạo, tu tập sai lầm sẽ không
có ngày thành tựu.
TRỰC CHỈ
Sau Càn tuệ địa, tiến lên: Thập tín, Thập
trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, rồi Đẳng giác và Diệu giác 52
địa vị. Diệu giác là vị cao tột, tức là quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác.
Sự giác ngộ và giải thoát thực ra chẳng có
lấy ǵ để đo chính xác và cũng chẳng có tên ǵ để gọi cho đúng đắn được.
Tất cả những tên gọi ấy chỉ là những phương tiện giả đặt của Như Lai. Cái
danh tiêu biểu phần nào của hạnh, dựa trên hạnh mà giả đặt cái danh. Người
tu hành không nên chấp nê quả vị hay khởi ư mong cầu. Người nấu nước, chỉ
cần đun lửa tốt th́ ấm nước tự sôi, vấn đề độ nóng bao nhiêu… chỉ là
phương tiện danh ngôn giả lập.
Như Lai th́ ngược ḍng trở lại. Từ địa vị
giác ngộ chân lư hoàn toàn, v́ thương chúng sanh mà sống và sinh hoạt như
chúng sanh để có cơ hội hướng dẫn cải tạo những mê mờ đau khổ của chúng
sanh, c̣n Bồ tát th́ thuận ḍng, từ bể khổ sanh tử vươn lên, phát huy trí
tuệ. Càn tuệ địa là điểm khởi hành. Trải qua 51 địa vị, đó là thời gian
khai thác nhất thiết trí, đạo chủng trí, nhất thiết chủng trí, vô sư trí
và tự nhiên trí của ḿnh. Cuối cùng giao điểm giữa Phật và Bồ tát gặp nhau
ở quả vị được gọi là đẳng giác.
Ở vào địa vị Đẳng giác, Bồ tát có được thứ
trí Kim cang. Dùng trí Kim cang chiếu phá sạch những bóng đen sanh tướng
vô minh vi tế tối hậu. Sanh tướng vô minh dứt sạch. Bồ đề, Niết bàn tự
tánh hiện ra. Bồ tát nh́n lại quá tŕnh tu tập trải qua giống như người
vừa tỉnh giấc chiêm bao. Những chuyện khổ, vui, tội phước, tiêu trưởng
vinh hư là chuyện của một cơn trường mộng ! Đời là diệu dụng biểu hiện từ
bản thể chân như. Bồ tát nh́n hiện tượng vạn hữu có mà không phải có thật,
không mà chẳng phải thật không. Tất cả đều là như vật sắc trong chiêm bao,
như h́nh ảnh khóc cười trên màn bạc, như trăng đáy nước, như hoa đốm trong
không, như càn thát bà thành, như bóng trong gương, như mù sương buổi
sáng, như điện nhoáng lưng trời, như bong bóng dưới cơn mưa… Nhờ vậy, Bồ
tát tự tại và nhẹ nhàng tiến bước trên con đường Bồ Đề Niết Bàn Vô thượng,
rồi nh́n lại, th́ ra chính ḿnh chẳng có được ǵ !
… "Đáo dĩ hoàn lai vô biệt sự
Lô sơn vân vũ chiết giang triều".
*****Top
Băng 74
Đáp lời thưa hỏi của Bồ tát Văn Thù, đức
Phật dạy: Kinh nầy có thể gọi nhiều tên:
* Đại Phật đảnh tất đát đa bát đát ra, vô
thượng bảo ấn, thập phương Như Lai thanh tịnh hải nhăn.
* Cứu hộ thân nhân độ thoát A Nan cập thủ
hội trung tánh Tỳ kheo ni đắc Bồ đề tâm nhập biến tri hải.
* Như Lai mật nhơn tu chứng liễu nghĩa.
* Đại phương quảng Diệu Liên Hoa vương
thập phương Phật mẫu đà la ni chú.
* Quán đảnh chương cú, chư Bồ tát vạn hạnh
Thủ Lăng Nghiêm.
Văn Thù, các ông nương theo đó mà phụng
tŕ. Đại chúng nghe lời Phật dạy, liền tỏ ngộ diệu lư thiền na, tâm được
rỗng rang, nhiều người dứt trừ được hoặc kiến tư, cắt đứt nhân sanh tử ưu
bi trong tam giới.
IV - NHỮNG MỐI NGHI NGỜ SÂU SẮC
CÓ TÍNH PHỔ BIẾN ĐƯỢC PHẬT
DẠY BÀY
Bấy giờ ông A Nan đứng dậy cung kính chắp
tay thưa:
Bạch Thế Tôn ! Theo lời Phật dạy, chân tâm
vốn trong sáng nhiệm mầu, xưa nay tṛn đầy khắp giáp và núi sông đất liền
cỏ cây hoa lá điểu thú côn trùng đều cùng chung một bản thể chân như, tất
cả đều là những dữ kiện tu hành thành tựu Phật quả của các Như Lai, hàng
Thanh văn hữu học chúng tôi chưa dứt được mối nghi ngờ sâu sắc ấy !
Bạch Thế Tôn ! Bản thể chân như ấy vốn đă
chân, cớ ǵ lại sanh ra các nẻo: Trời, người, A tu la, địa ngục, quỉ thần
và súc sanh ? Sáu đường ấy bản lai tự có hay do những nghiệp thiện của
chúng sanh chiêu cảm mà hiện khởi sanh ra ? C̣n sự kiện Tỳ kheo ni Bảo
Liên Hương, lén lút làm việc dâm dục rồi lư luận sai lầm phá kiến giới của
Phật, hiện đời bị địa ngục là thế nào ? Sự kiện vua Lưu Ly tận diệt ḍng
họ Cù đàm rửa oán, đối với sự hiểu biết thông thường của nhiều người vẫn
c̣n là điều bí ẩn ! Vấn đề Thiện Tinh tỳ kheo bác không nhân quả, chủ
trương đoạn diệt, hiện thế sa vào ngục A tỳ, thực tế phải hiểu như thế nào
? Các địa ngục vốn có sẵn để h́nh phạt những chúng sanh ác hay sau khi
những chúng sanh kia tạo ác, địa ngục mới có ra để h́nh phạt những người
bất thiện ?
Phật khen những câu hỏi của ông A Nan có ư
nghĩa sâu xa, nhờ đó những chúng sanh đời sau khỏi rơi vào tà kiến.
Nầy A Nan ! Phật dạy, chân tánh của chúng
sanh vốn chân vốn tịnh. Do nhận thức sai lầm chân lư, sống theo thói quen
trái chân lư làm cho tánh chân tịnh bị chi phối mà sanh t́nh niệm
chủ quan và tưởng niệm khách quan.
T́nh niệm chủ quan
là phần trong của con người. Do sự ái nhiễm của vọng tâm mà sanh ra vọng
t́nh. T́nh chứa măi không thôi bèn sanh ra một thứ nước, gọi đó là nước,
"ái". V́ vậy mà tâm chúng sanh khi nhớ đến thức ăn th́ miệng nước bọt chảy
ra, tâm nhớ người thương, con mắt lệ tràn, tâm nhớ giận đứa con hư cũng
sụt sùi trào tuôn nước mắt, nước mũi, tâm nghĩ tưởng sự ân ái, hai căn nam
nữ tân dịch tiết ra…
A Nan ! Ái có nhiều thứ khác nhau nhưng
cái tánh ứa nước, chảy nước giống nhau. Tánh ướt th́ nặng, tánh nước chảy
th́ xuống không thể cất lên, đó là tánh tự nhiên của nó.
A Nan ! Tưởng niệm khách quan là
phần ngoài của con người. Do thèm muốn khát vọng mà phát sanh ra lư tưởng.
Tưởng chứa măi không thôi bèn sanh ra một thứ khí thù thắng. Do vậy, tâm
chúng sanh có giữ giới hạnh thanh tịnh th́ người nhẹ nhàng sảng khoái, tâm
chuyên tŕ chú ấn th́ đôi mắt ngó có thần, tâm muốn sanh thiên, hành thập
thiện nghiệp, chiêm bao thấy ḿnh nhẹ nhàng, bay bổng trong không, tâm
chuyên niệm hướng vào cơi Phật th́ cảnh giới trang nghiêm thanh tịnh đẹp
đẽ hiện ra, tâm phụng sự thiện tri thức, th́ tự xem rẻ thân ḿnh.
A Nan ! Tưởng có nhiều thứ khác nhau,
nhưng cái tánh nhẹ nhàng cất lên th́ đồng. Tưởng nhẹ có tánh cất lên là
tánh tự nhiên của nó.
A Nan ! Tất cả thế gian sống chết nối
nhau. Sống th́ bằng ḷng, chết th́ nghịch ư. Khi con người sắp chết, lúc
hơi nóng chỉ c̣n hâm hấp mong manh, bấy giờ hành động thiện ác cả một đời
đều hiện ra như trước mắt. Sự sống và sự chết hai tập khí mănh liệt cạnh
tranh đối kháng trước phút giây con người từ giă cơi đời. Thuần tưởng th́
bay lên được sanh vào các cơi trời, nếu có phúc đức, trí tuệ, có chí
nguyện thanh tịnh th́ tự nhiên tâm được sáng suốt thấy được cơi nước thanh
tịnh của chư Phật trong mười phương, rồi tùy ư của ḿnh mà sanh vào thế
giới đó.
T́nh ít tưởng nhiều, cất lên được nhưng
không xa. Hạng nầy thành đại lực quỉ vương, phi hành dạ xoa, địa hành la
sát. Họ có thể đi khắp bốn cơi trời Tứ thiên vương, nếu có nguyện lành hộ
tŕ Phật pháp, bảo vệ người tŕ giới, người tu thiền th́ họ được thân cận
dưới pháp tọa của Như Lai.
T́nh và tưởng bằng nhau, th́ sanh làm
người ở nhân gian. Do có phần tưởng sáng suốt nên có chất thông minh, v́
có phần t́nh mê ám nên có lẫn phần ngu độn.
T́nh nhiều tưởng ít sanh vào loại bàng
sanh, nặng nghiệp xấu sanh làm giống lông mao, nhẹ nghiệp hơn sanh làm
giống lông vũ.
Bảy phần t́nh, ba phần tưởng có thể ch́m
tận thủy luân hoặc sanh nơi mé hỏa luân chịu sự nóng đốt của lửa hừng hoặc
thân thành ngạ quỉ thiêu nướng. Có gặp được nước, nước nóng như lửa, cho
nên trải trăm ngàn kiếp không được uống ăn.
Chín phần t́nh, một phần tưởng sa rớt suốt
thấu hỏa luân, đến giữa ranh giới phong luân, nhẹ th́ rơi vào địa ngục hữu
gián, nặng th́ rơi vào địa ngục vô gián.
Thuần một thứ t́nh hắc ám th́ sa vào địa
ngục A tỳ, nếu có thêm tội hủy báng Đại thừa, đả phá kiến giới của Phật,
tạo tội ngũ nghịch thập ác th́ sa vào địa ngục A tỳ từ kiếp này sang kiếp
khác luân chuyển khắp thế giới mười phương.
A Nan ! Tùy ác nghiệp của chúng sanh đă
tạo, mỗi người tự cầm lấy cái khổ địa ngục của riêng ḿnh. Nhưng v́ chúng
sanh tạo ác nghiệp có giống nhau nên chịu quả khổ địa ngục cũng giống
nhau, v́ vậy mà địa ngục in tuồng như có chỗ định sẵn.
TRỰC CHỈ
Thể tánh của con người vốn tịnh minh, v́
ai cũng có chân tâm thường trú. Chúng sanh hữu t́nh hay chúng sanh vô t́nh
đều là hiện tượng tùy duyên trong bản thể chung cùng bất biến, cũng như
những ngọn sóng lung linh màu sắc dưới ánh trăng vàng ngh́n sai muôn khác
đều phát khởi từ một thể nước phẳng lặng của một đại dương. Hội nhập được
ư nghĩa hiện tượng không ngoài bản thể, ứng thân là diệu dụng của pháp
thân. Thiền Lăo, một thiền sư Việt Nam thời Lư đă nói:
Trúc biếc mai vàng, trăng thanh mây bạc là
diệu dụng của bản thể chân như biểu hiện qua hai câu thơ:
"Túy trúc huỳnh hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân"
Phật dạy: Sáu nẻo luân hồi không do một
bàn tay, một đấng thiêng liêng nào sắp đặt cả. Cái động cơ quay lăn trong
sáu nẻo dựa trên tiêu chuẩn: "T́nh" và "Tưởng" nhiều ít của chúng sanh.
T́nh là sự biểu hiện của tâm ái nhiễm sâu nặng. Nặng về t́nh người ta dễ
mất hết lư trí, sống theo thói quen dục vọng. Đă đam mê dục vọng th́ không
c̣n đủ trí tuệ để nhận thức chân lư. V́ vậy, con người rất sợ chết và rất
muốn sống. Trái lại, người giác ngộ chân lư, vấn đề sống và chết không
tham mà cũng chẳng sợ, v́ biết rơ rằng sự sống chết của kiếp người, sự
diệt sanh của vạn pháp, nó đă thành qui luật đối với người trí, nó là chân
lư khách quan đối với thiên nhiên vũ trụ. Sợ chết, chỉ đem vào cho đầu óc,
cho tâm trí con người một thứ khổ sở ghê gớm mà lẽ ra con người không có
và không nên có. V́ mê mờ chân lư, chúng sanh rất tham sống và sợ chết, v́
vậy khi sắp chết: thoi thóp với một ít khí nóng chưa tàn, hai luồng tư
tưởng đấu tranh mănh liệt. Và v́ quá sợ chết nên sự kinh hoàng, sự hốt
hoảng, sự tiếc thương, sự hối hận, sự oán ghét, sự tuyệt vọng, sự luyến
ái… đă huân tập tích lũy cho một đời hiển hiện ra đầy đủ, giống như cuộn
phim Vidéo đă được quay từ trước, nay đến lúc đem ra chiếu lại…
Tất cả những cảnh tượng khổ đau ở địa ngục
chỉ là hậu quả phản ảnh của tâm độc ác, mê mờ u tối của kiếp sống mê t́nh,
vọng t́nh và si t́nh mà tác giả cơi địa ngục chính là con người đang chịu
đau khổ dày ṿ trong địa ngục ấy.
Tưởng nhiều th́ dễ sanh trí tuệ. Có trí
tuệ dễ nhận thức chân lư và sống hợp chân lư. Có phước đức, trí tuệ mới
trông thấy được cảnh giới trang nghiêm thanh tịnh trong mười phương, rồi
tùy phước nghiệp mà cảm nhận mà thọ sanh vào cảnh giới đó.
Cảnh giới trang nghiêm thanh tịnh của chư
Phật trong mười phương phải do phước đức và trí tuệ mới được thấy. Trái
lại, cảnh khổ đau địa ngục do tích lũy cực tham, cực sân, cực si và bất
thiện nghiệp mà hiện ra. Không có phước đức trí tuệ sẽ không thấy được cơi
Phật thanh tịnh. Không có những cực ác nghiệp sẽ không t́m đâu có cảnh địa
ngục khổ đau. Nhiều người càng tạo nhân phước trí tuệ giống nhau nên cùng
thấy cơi Phật thanh tịnh giống nhau; V́ vậy cơi Phật in tuồng như có sẵn.
Nhiều chúng sanh tạo những bất thiện nghiệp giống nhau, nên cùng bị h́nh
phạt đau khổ ở địa ngục giống nhau, v́ vậy mà địa ngục cũng in tuồng như
có sẵn.
Cái từ "Na lạc ca" dịch ư có nghĩa là "địa
ngục". Địa ngục có nghĩa là: khả yếm, khả cụ, khổ khí, bất lạc. Có thể tóm
gọi là "cảnh giới của sự khổ đau cùng cực, không một chút xíu tạm an".
Người đệ tử Phật đừng bao giờ hiểu địa ngục như "một thành tŕ" "một cơ
quan" có phương sở nhất định:
Kinh Hoa Nghiêm nói:
"Nhược nhơn dục liễu tri
Tam thế nhất thiết Phật
Ưng quán pháp giới tánh
Nhất thiết duy tâm tạo…"
Ai muốn hiểu rơ hết
Tất cả Phật ba đời
Nến quán tánh tướng các pháp giới
Tất cả duy tâm tạo.
Tất cả pháp giới đều do tâm tạo. V́ vậy,
địa ngục chỉ là do tâm cực ác của ai đó tự tạo nó ra !
*****Top
Băng 75
V - DO NHỮNG TẬP NHÂN BẤT THIỆN
TỰ CHIÊU CẢM ÁC QUẢ KHỔ ĐAU
Thế nào là những tập nhân
bất thiện ?
A Nan ! Tập nhân thứ nhất là thói quen dâm
dục. Do sự giao hợp với nhau sanh ra sự cọ xát, cọ xát nhiều sanh ra khí
nóng. Ví như người dùng hai tay chà xát th́ cảm giác nóng sanh ra. Do lửa
dục đốt mà có hiện tượng giường sắt nóng, cột đồng nung… cho nên Phật, Bồ
tát xa lánh dâm dục như lánh xa hầm lửa.
Tập nhân thứ hai là thói quen tham cầu. Do
tâm tham cầu so đo hơn thiệt hút vào, hút măi thành ra hơi lạnh, lạnh cực
thành băng, ví như người hút gió th́ có cảm xúc lạnh, do sự tham cầu mà có
âm thanh lạnh run phát ra tiếng: tra tra tra, ba ba ba… vậy nên Phật, Bồ
tát tránh tham cầu như tránh biển độc.
Tập nhân thứ ba là thói ngă mạn. Do ngă
mạn đi đến ỷ thế cậy quyền mà có sự bôn ba sôi nổi. Sự sôi nổi nầy ngưng
đọng thành nước. Ví như miệng nhai vị th́ nước miếng tự chảy ra. Do vậy mà
có sông huyết, cát nóng, biển độc, nước đồng sôi… cho nên Phật và Bồ tát
tránh ngă mạn như tránh vực thẳm.
Tập nhân thứ tư là thói quen giận dữ. Do
giận dữ sanh ra chống đối, xung đột. Lửa giận nung đốt hóa thành kim khí,
v́ vậy mà có núi dao, rừng gươm, gậy sắt, cưa xẻ, búa chặt, ví như người
bị hàm oan th́ sát khí bừng lên. Do vậy có hiện tượng cắt, chém, thiến,
chặt, đâm, dùi, đập, đánh… cho nên Phật, Bồ tát tránh sự giận dữ như tránh
chỗ chém giết.
Tập nhân thứ năm là thói quen giả dối. Do
giả dối lường gạt nhau đưa đến lôi kéo, xô đẩy nhau cho nên có hiện tượng
cây cọc, dây thừng, tḥng lọng, ví như nước thấm ướt mộng th́ cỏ cây sanh
trưởng. Do vậy hiện ra gông cùm, xiềng xích, roi đánh, gậy đập, côn đần,
mác chém, cho nên Phật, Bồ tát tránh sự giả dối như tránh cọp beo.
Tập nhân thứ sáu là thói quen lường gạt,
lừa đảo. Lường gạt lừa đảo măi gây thành điều gian dối. V́ vậy cảm ác quả
nhơ nhớp như đất bụi, đại tiểu tiện và những sự ch́m đắm, bay rơi, trôi
lăn, cho nên Phật và Bồ tát nhận xét sự lừa đảo gian dối như dẫm lên rắn
độc.
Tập nhân thứ bảy là thù oán hiềm khích
nhau. Do ôm ấp ḷng thù oán mà cảm thấy ác quả như quăng đá, ném gạch, hộp
nhốt, cũi giam, b́nh đựng. Ví như người hiểm độc ôm ấp điều ác. V́ vậy
thập phương Như Lai, Bồ tát nhận xét sự thù oán như là quỉ vi hại, như
uống nhầm rượu độc.
Tập nhân thứ tám là ác hiểm, chấp thủ,
tranh căi với nhau về thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ và giới cấm
thủ, cho nên cảm thấy có quan lại chứng thực, nắm giữ giấy tờ, có các việc
khám xét, tra khỏi, có đồng tử cầm sổ ghi chép việc thiện ác. Vậy nên,
thập phương Như Lai nhận xét ác kiến như hầm sâu, Bồ tát xem như hố độc.
Tập nhân thứ chín là vu vạ, làm hại cho
nhau. Do sự vu vạ hại người cảm ra ác quả như núi ép, đá kẹp, cối nghiền,
cày sắt, ví như kẻ sàm tặc áp bức vu oan người lương thiện, đồng thời cảm
thấy sự áp giải, đánh đập, ép huyết, lóc thịt. V́ vậy Phật và Bồ tát trong
mười phương nhận xét sự vu vạ như cọp điên, như sấm sét.
Tập nhân thứ mười là kiện cáo. Kiện cáo
căi vă lẫn nhau phát sanh sự che đậy. Do vậy, cảm thấy có gương soi, đuốc
rọi như giữa ban ngày không dấu bóng được, thấy có ác hữu tŕnh bày tội
lỗi, nghiệp kính hiện rơ những bất thiện nghiệp đó.
Vậy nên thập phương Như Lai, Bồ tát nhận
xét sự che đậy là giặc trong bóng tối, như đội núi cao lội trong biển lớn.
*****Top
VI
- SÁU THỨ KHỔ BÁO LÀ KẾT QUẢ CỦA
BẤT THIỆN NGHIỆP PHÁT XUẤT TỪ
LỤC CĂN VÀ LỤC THỨC CỦA CON NGƯỜI
Phật bảo: A Nan ! Tất cả chúng sanh tạo ác
nghiệp th́ phải nhận lấy ác quả. Sự tạo nghiệp và trả quả như vậy là do
sáu căn và sáu thức của chính ḿnh, chớ không do nơi ai khác. V́ vậy, con
người có thể tạo thiện nghiệp hay ác nghiệp mà chiêu cảm thiện báo hay ác
báo đều tùy thuộc ở nơi ḿnh.
Thế nào là sáu thứ khổ báo?
Một là ác báo do tánh thấy của nhăn thức.
Tánh thấy của người hằng ngày tiếp xúc và huân tập những cảnh bất thiện
nghiệp, ác đức, nhiễm ô… lúc sắp chết họ sẽ thấy toàn lửa rực trời cháy
khắp mười phương. Thần thức của người nầy bay lên theo khói rồi rơi xuống
sa vào địa ngục. Ở nơi địa ngục thần thức chỉ c̣n thấy hai hiện tượng:
sáng và tối. Thấy sáng th́ thấy những cảnh kinh hoàng, bạo ác, mọi vật trở
thành cảnh sợ hăi, chết chóc. Thần thức vô cùng khủng khiếp khổ sở đớn
đau, không một chỗ nơi có thể nương tựa hoặc kêu gào cầu cứu. Khi thấy tối
th́ một màu đen lặng lẽ bao trùm, thần thức cực độ đau thương, tuyệt vọng.
Tánh thấy bất thiện tác hợp với những tánh
nghe, ngửi, nếm, xúc, biết hiển hiện ra: vạc dầu sôi, nước đồng chảy, lửa
rực, khói đen, hoàn sắt nóng, ḷ than, sao lửa rưới khắp đầy ngập cơi hư
không, khiến cho thần thức người chết khổ sở đớn đau cùng cực.
Hai là ác báo do tánh nghe của nhĩ thức.
Cái tánh nghe của con người trong cuộc sống hằng ngày tiếp xúc và huân tập
nghe những điều ác đức, hiểm độc, lúc sắp chết nghe và thấy sóng cuộn ngập
trời. Thần thức người chết bị cuốn trôi theo ḍng nước mà vào địa ngục. Ở
nơi địa ngục thần thức chỉ c̣n nghe hai hiện tượng: rơ và điếc. Nghe rơ
th́ nghe những tiếng rít khủng khiếp, những tiếng nghiến rợn người làm cho
thần thức rối loạn, sợ hăi, khổ đau cùng cực. Lúc nghe điếc th́ lặng lẽ im
ĺm như màn đêm nơi hoang vu, như cơi chết khiến cho thần thức cực kỳ sợ
hăi đau thương.
Tánh nghe độc hại đau thương nầy tác động
hỗn hợp vào các tánh thấy, ngửi, nếm, xúc, biết của năm thức kia tạo thành
lời trách mắng tra hỏi, sấm sét, hơi độc, mưa mù và rưới các thứ sâu độc
đầy khắp thân thể, tưới các thứ máu mủ hôi tanh, các thứ phẩn tiểu nhơ
nhớp; c̣n hóa ra tia chớp kinh hồn, sấm rang long óc, mưa đá đập đè, thần
thức người chết khổ sở không sao kể xiết !
Ba là ác báo do tánh ngửi của tỷ thức. Cái
tánh ngửi của con người trong cuộc sống tiếp xúc và huân tập những thứ
hương trần không lành mạnh, lúc sắp chết cảm nghe mùi độc khí khắp mọi
nơi. Thần thức người chết tự thấy ḿnh từ đất trồi lên, rồi lại rơi vào
địa ngục. Ở nơi địa ngục, thần thức cảm nhận hai hiện tượng: thông và
nghẹt. Khi ngửi thông th́ hít phải toàn ám khí độc hại, ngột ngạt, thần
thức vô cùng khổ đau rối loạn, lúc ngửi nghẹt th́ lăn lộn vật vă, chết th́
không được mà sống cũng không xong.
Cái tánh ngửi độc hại nầy tác động hỗn hợp
vào với các tánh thấy, nghe, nếm, xúc, biết hóa thành lửa dữ, thiêu đốt,
nước sôi nung nấu, sóng to nhận ch́m, hóa thành núi, thành gạch to, đá lớn
bay rớt đập nát thân thể làm cho người chết đau khổ tột cùng…
Bốn là ác báo do tánh nếm vị của thiệt
thức. Cái tánh nếm vị của con người trong cuộc sống hàng ngày huân tập
thói quen những thức ăn có tánh tàn hại giết chóc, ác đức bất nhân th́ lúc
sắp chết thần thức thấy khắp cơi không gian bao trùm bằng một thứ lưới sắt
nung đỏ. Thần thức người chết từ dưới đất tung lên, bị vướng lưới lộn đầu
rơi xuống sa vào địa ngục, thần thức c̣n nhận biết có hai hiện tượng: nuốt
vô và mửa ra. Nuốt vô th́ cảm nhận nuốt toàn băng giá lạnh tê tái, lạnh
nứt nẻ cả thân thể; mửa ra th́ rừng rực thứ lửa dữ bay ra và tự đốt cháy
thân thể của chính ḿnh.
Cái tánh nếm tội lỗi ác hại nầy tác động
hỗn hợp với các tánh: thấy, nghe, ngửi, xúc và biết hóa thành sự xác nhận,
sự tự thú. Lại hóa thành binh khí sắc bén, đâm chặt, lồng sắt nung đỏ
nhốt, cung tên bắn vào thân làm cho thần thức người chết đau đớn cùng cực,
cầu sống không được, muốn chết cũng không được.
Năm là ác báo do tánh cảm xúc của thân
thức. Tánh cảm xúc của con người hằng ngày tiếp xúc và huân tập những ác
hạnh, lúc sắp chết thần thức thấy núi lớn bốn mặt hợp lại ép vào mà không
có lối thoát; lại thấy cái thành sắt lớn đầy chó lửa, rắn lửa, cọp, beo,
lang, sói, sư tử lửa như chực muốn ăn nuốt; lại thấy ngục tốt đầu trâu,
mặt ngựa, tay cầm gươm giáo lùa đẩy thần thức người chết tống vào địa ngục
- Ở nơi địa ngục, thần thức chỉ c̣n thấy hai hiện tượng: Hợp và ly. Hợp
th́ thấy núi ép thân thể xương thịt nát tan. Ly th́ thấy giáo gươm đâm
chỉa vào ḿnh, thi thể ruột gan banh nát…
Tánh xúc ác hại tác động hỗn hợp của các
tánh: Thấy, nghe, ngửi, nếm và biến hóa thành người săn đuổi, người bắn
giết, người xử tội; hóa thành sảnh đường, ṭa án; hóa thành đốt, nung,
đập, nhốt, trói buộc, chặt ném; hóa thành té ngă, bay lên, hóa thành nấu
luộc… làm cho thần thức đau đớn không sao kể xiết…
Sáu là ác báo do sự suy nghĩ của ư thức. Ư
thức của con người trong cuộc sống huân tập những tư tưởng bất thiện, lúc
sắp chết thấy cuồng phong tàn bạo thổi cơi nước tan tành, thần thức người
chết bị thổi bay trên không, xoáy lốc theo gió, lại rơi xuống sa vào địa
ngục. Bấy giờ thần thức chỉ c̣n cảm nhận hai hiện tượng: Mê sảng và tỉnh
biết. Lúc mê sảng th́ kinh hoàng, sợ hăi, chạy cuồng, chạy ngông không
ngừng nghỉ. Khi tỉnh biết lại bị đốt cháy liên tục đau đớn cùng cực, sống
không an, chết không được.
Ư thức bất thiện nầy tác động hỗn hợp với
các tánh: Thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc hóa thành phương sở quan thự, đài
gương soi, cáo trạng, người chứng, sương giá lạnh, gộp đá to nặng, ngục
lửa, tiếng kêu la, gào khóc, thần thức phải chịu muôn lần sống, muôn lần
chết trong một ngày khổ đau vô cùng vô cực.
A Nan ! Như Lai đă chỉ dạy cho ông mười
tập nhân và sáu quả báo ở địa ngục. Nhân quả ấy là do mê vọng của chúng
sanh tạo ra. Dựa trên sáu căn ba nghiệp của con người trong sự tạo ác
nghiệp mà thần thức có thể đọa vào 8 ngục vô gián hoặc 18 hoặc 36 hoặc 108
ngục khác nhau. Chúng sanh tạo nghiệp th́ riêng, nhưng tội trạng, tội danh
trùng hợp giống nhau cho nên chịu quả đồng phận như nhau, cảnh giới đó do
vọng tưởng sanh ra nó chớ không phải bản lai tự có.
TRỰC CHỈ
Dâm dục, tham lam, giận dữ, ngă mạn, giả
dối, lường gạt, oán thù, ác kiến, vu cáo, kiện thưa là những nguyên nhân
gây ra vô vàn ác khác, Phật gọi đó là mười nhân ác, nó đă thành thói quen
trong cuộc sống của con người không có ư thức phản tỉnh hồi quang, trau
dồi đạo đức.
Nhân xấu ác th́ không thể có quả an vui.
Những ác nhân ấy không phải trời xuôi đất khiến mà do chính con người; do
thân, miệng và ư của con người; khi con người đánh mất lư trí sáng suốt;
con người không c̣n làm chủ được thân, miệng, ư của ḿnh.
Những ác quả khổ đau cùng cực trong các
địa ngục dù khác nhau, nhưng tất cả đều chỉ là những h́nh ảnh phản chiếu
trung thực của nhất tâm của tam nghiệp của căn, trần, thức của con người.
Đó là giờ phút "ṭa án lương tâm" của con người hành xử cái chức năng:
"chí công vô tư" tuyệt đối, tuyệt đối của "thể tánh tịnh minh" vốn có của
chính con người.
Ngày, giờ, năm, tháng ở địa ngục không thể
tính số theo khái niệm nhận thức ở nhân gian. Ai có nằm mộng và có tư duy
về "hoàng lương mộng" có thể hiểu thời gian ở địa ngục tương đối dễ dàng
hơn. Giấc mộng khoảng một tiếng đồng hồ hơn kém, vậy mà đối với thư sinh
là cả 80 năm thăng trầm vinh nhục, 80 năm ân oán giang hồ, bừng tỉnh dậy
th́ ra ḿnh vẫn là một lư sinh thi trượt, đang mơ màng bên quán trọ với
tâm trạng âu sầu, thất vọng trên đường trở lại cố hương.
Cái khổ lâu dài ở địa ngục của những "linh
hồn" đă tạo nhiều ác nghiệp, một giờ hấp hối trong phút sắp lâm chung biết
đâu đó chẳng là 80 năm đau khổ nghiệp cảm tội hành do hậu quả trong một
đời tích lũy !
*****Top
VII - NÓI VỀ CÁC DƯ BÁO SAU
KHI RA KHỎI ĐỊA NGỤC
Nầy A Nan ! Những người trái phạm luật
nghi, phá Bồ tát giới, bất tín Tam bảo, chống báng Bồ đề, Niết bàn Phật
th́ vĩnh viễn họ sống trong địa ngục; c̣n những người phạm phải những
nghiệp phức tạp khác, sau khi chịu khổ quả ở địa ngục măn rồi, dư báo c̣n
lại phần nhiều luân hồi đọa vào con đường quỷ. V́ vậy, mà quỷ có nhiều
loại khác nhau do tạo nhân bất thiện chẳng đồng nhau.
Nặng về tham vật chất, dư báo tham hợp với
vật chất thành Quái quỷ.
Nặng về tham sắc dư báo tham hợp với gió
thành Bạt quỷ.
Nặng về dối trá dư báo tham hợp với súc
vật thành Mỵ quỷ.
Nặng về sân hận dư báo tham hợp các loài
sâu thành Cổ độc quỷ.
Nặng về oán thù dư báo tham hợp với vận
suy của kẻ thù thành Lệ quỷ.
Nặng về ngă mạn dư báo tham hợp với khí
thành Ngạ quỷ.
Nặng về lừa đảo, lường gạt dư báo tham hợp
với u ẩn thành Áp quỷ.
Nặng về ác kiến dư báo tham hợp với tinh
hoa thành Vọng lượng quỷ.
Nặng về vu oan giá họa dư báo tham hợp với
linh hiển thành Dịch sử quỷ.
Nặng về bè phái, ô lọng dư báo tham hợp
với con người thành Truyền tống quỷ.
A Nan ! Những thần thức đó do nặng t́nh và
thuần t́nh cho nên phải đọa lạc vào địa ngục và dư báo c̣n lại phải sanh
vào đường quỷ. Như vậy đều do vọng tưởng của tự tâm chuốc lấy, chớ không
do ai phạt, ai hành. Nếu có nhân duyên tột tỏ ngộ Bồ đề, Niết bàn tự tánh
th́ những thứ ác quả khổ đau đó vốn chẳng có thật.
Lại nữa, A Nan !
Quái quỷ theo vật chất, vật chất tiêu, báo
hết sinh nơi thế gian phần nhiều thành loài chim kiêu.
Bạt quỷ theo gió, gió tiêu, báo hết sanh
nơi thế gian phần nhiều thành các loài Cửu trưng kỳ dị.
Mỵ quỷ theo súc, súc tiêu, báo hết sanh
nơi thế gian phần nhiều thành loài chồn, cáo.
Cổ quỷ theo sâu, sâu tiêu, báo hết sanh
nơi thế gian phần nhiều thành loài có độc.
Lệ quỷ theo vận suy, vận suy tiêu, báo hết
sanh nơi thế gian phần nhiều thành giun.
Ngạ quỷ theo gió, gió tiêu, báo hết sanh
nơi thế gian phần nhiều thành loài cung cấp thịt ăn.
Áp quỷ theo u ẩn, u ẩn tiêu, báo hết sanh
nơi thế gian phần nhiều thành loài cung cấp đồ mặc.
Vọng lượng quỷ theo tinh hoa, tinh hoa
tiêu, báo hết sanh nơi thế gian phần nhiều thành loài chim mùa.
Dịch sử quỷ theo loại linh hiển, linh hiển
tiêu, báo hết sanh nơi thế gian phần nhiều thành loại hưu trưng kỳ dị.
Truyền thống quỷ theo người, người chết,
báo hết sanh nơi thế gian phần nhiều làm các loại quấn quít bên người.
Nầy A Nan ! Những loài như thế đều do quả
báo của tự tâm hư vọng của họ. Nếu có duyên lành tỏ ngộ Bồ đề, Niết bàn tự
tánh th́ đó chỉ là h́nh ảnh huyễn mộng vốn chẳng có ǵ !
Nầy A Nan ! Những ác quả của bọn Bảo Liên
Hương, Lưu Ly, Thiện Tinh Tỳ kheo đều do tự họ gây ra nghiệp nhân tội lỗi.
Tội lỗi ấy không phải trên trời cao xuống, không phải dưới đất phát ra,
không do người khác làm mà chính do vọng tưởng của họ gây ra rồi tự ḿnh
phải chịu quả báo. Đối với tâm tánh Bồ đề, th́ đó chỉ là sự kết động vọng
tưởng hư huyễn nào có đáng kể ǵ !
Nầy A Nan ! Vấn đề vay trả nợ nần thật là
phức tạp: có lúc làm súc sanh để trả nợ cho người; người ít phúc đức hưởng
quá phần nợ, phải làm súc sanh trả lại số dư cho người chủ nợ ở kiếp sau.
Do vậy, súc có thể thành người, người có thể thành súc để đền đáp nợ nần,
vay trả, trả vay. Trừ khi tu tập pháp xa ma tha, tam ma bát đề, thiền na
hoặc quay về nương học với Tam bảo th́ sự luân hồi vay trả không có lúc
ngừng quay.
Nầy A Nan ! Loại chim kiêu trả nợ đủ rồi
được sanh trong nhơn đạo nó tham hợp với hạng ngoan cố.
Giống Cửu trưng trả nợ đủ rồi được sanh
trong nhơn đạo nó tham hợp với hạng quái dị.
Loài chồn, cáo trả nợ hết rồi được sanh
trong nhơn đạo nó tham hợp với hạng đần độn, ngu si.
Những loài có độc trả nợ hết rồi được sanh
trong nhơn đạo, nó tham hợp với hạng người nham hiểm.
Loài giun trả nợ hết rồi được sanh trong
nhơn đạo, nó tham hợp với những hạng hèn nhát.
Loài cung cấp thịt ăn, trả nợ hết rồi được
sanh trong nhơn đạo, nó tham hợp với hạng người nhu nhược.
Loài cung cấp đồ mặc, trả nợ hết rồi được
sanh trong nhơn đạo, nó tham hợp với với hạng người lao lực.
Loài chim mùa, trả nợ hết rồi được sanh
trong nhơn đạo, nó tham hợp với hạng người có văn hóa.
Loài hưu trưng, trả nợ hết rồi được sanh
trong nhơn đạo, nó tham hợp với hạng người thông minh.
Loài quấn quít theo người, khi trả nợ hết
rồi được sanh trong nhơn đạo, nó tham hợp với hạng người hiển đạt.
A Nan ! Những hạng người đó đều do nghiệp
bất thiện của họ tạo ra; sanh nhau, giết nhau, ăn nuốt lẫn nhau rồi vay
trả, trả vay mà xoay vần như vậy. Nếu không gặp Như Lai, không nghe chánh
pháp của Như Lai th́ ở trong trần lao máy móc xoay vần không có ngày chấm
dứt. Như Lai gọi đó là những chúng sanh đáng thương xót.
VIII
- MƯỜI THỨ TIÊN DO TU DỊ NHÂN
KẾT THÀNH DỊ QUẢ
Này A Nan ! Có những chúng sanh từ loài
người, không nương theo cái nhân chánh giác tu tập lại đam mê chuyên luyện
những dị nhân; họ hy vọng củng cố h́nh hài trường sanh bất lăo, vào trong
rừng núi vắng vẻ những chỗ khó có người đến được họ chuyên luyện dị thuật
của ḿnh và kết quả được thành Tiên gồm có mười thứ khác nhau:
Hạng chuyên luyện đồ ăn, t́m các chất bổ
dưỡng để ăn, luyện măi khi "đạo ăn" thành tựu th́ gọi là Địa hành tiên.
Hạng chuyên luyện dược tính, t́m thuốc
trong các thứ cỏ cây luyện hoài, khi "đạo thuốc" thành tựu th́ gọi là Phi
hành tiên.
Hạng chuyên luyện đá, vàng, đơn sa, cửu
chuyển luyện măi, khi "đạo hóa chất" thành tựu th́ gọi là Du hành tiên.
Hạng chuyên luyện động tác, luyện hoài khi
"đạo khí tinh" thành tựu th́ gọi là Không hành tiên.
Hạng chuyên luyện nước bọt, luyện măi khi
"đạo thanh nhuận" thành tựu th́ gọi là Thiên hành tiên.
Hạng chuyên luyện hấp thụ tinh hoa, luyện
hoài khi "đạo hấp thụ" được thành tựu th́ gọi là Thông hành tiên.
Hạng chuyên luyện phù chú, luyện măi khi
"đạo thuật pháp" được thành tựu th́ gọi là Đạo hành tiên.
Hạng chuyên luyện về nhớ nghĩ, luyện hoài
khi "đạo nhớ nghĩ" được thành tựu th́ gọi là Chiếu hành tiên.
Hạng chuyên luyện về thủy hỏa giao cấu,
luyện măi khi "đạo cảm ứng" được thành tựu th́ gọi là Tinh hành tiên.
Hạng chuyên luyện về biến hóa, luyện hoài
khi "đạo biến hóa" thành tựu th́ gọi là Tuyệt hành tiên.
A Nan ! Các hạng Tiên đó ở ngay trong loài
người mà tu luyện. Tuy họ không tu đúng cái nhân chánh giác, nhưng vẫn có
được kết quả. Họ có thể sống thọ ngàn, muôn tuổi. Họ ẩn thâm sơn, cùng đảo
cách biệt người đời, họ có thú an vui riêng họ. Dù vậy, họ vẫn chưa lóng
gạn sạch hết cái nhân luân hồi cho nên khi hết phước vẫn trở lại luân hồi.
*****Top
IX - TRỜI DỤC GIỚI
Nầy A Nan ! Những người thế gian, chưa cầu
chánh giác, chưa bỏ được ái ân vợ, nhưng tâm không buông lung trong việc
tà dâm. Có chút ít định tâm, sanh ra sáng suốt, sau khi chết sanh vào một
cơi ở gần với mặt trời, mặt trăng, gọi đó là Trời Tứ thiên vương.
Hạng người đối với vợ, dâm ái ít ỏi nhưng
trong lúc tỉnh tâm chưa hưởng trọn vẹn sự khinh an, sau khi chết vượt ánh
sáng trời trăng, ở trên cơi nhân gian, gọi đó là Trời Đao Lợi
(2).
Có người gặp cảnh dục lạc tạm theo, nhưng
trong lúc thôi không nghĩ tới, ở trong nhân gian, động ít tỉnh nhiều, sau
khi chết sáng rỡ và ở yên một cơi trong hư không. Mặt trời, mặt trăng
không soi đến cơi nầy. Người cơi trời nầy tự có ánh sáng, gọi đó là Trời
Tu Diệm ma (3).
Hạng người lúc nào cũng tỉnh, nhưng khi có
những điều cảm xúc đến chưa chống lại được, sau khi chết họ sanh lên cơi
tinh vi, không tiếp với cảnh nhân thiên cơi dưới. Tam tai, hoại kiếp không
hủy hoại đến cơi nầy. Đây gọi là Trời Đâu suất đà
(4).
Hạng người không có tâm dâm dục chỉ v́ đáp
ứng với người khác mà làm. Trong lúc hành lạc, cảm thấy vô vị như ăn sáp,
người nầy sau khi chết vượt lên và sanh vào cơi biến hóa, gọi đó là Trời
lạc biến hóa (5).
Hạng người không có tâm thế gian chỉ ḥa
đồng với thế gian làm việc ngũ dục, trong lúc làm việc vẫn là siêu thoát.
Sau khi chết họ vượt trên cảnh biến hóa và không biến hóa, gọi đó là Trời
Tha hóa tự tại (6).
A Nan! Sáu cơi trời đó h́nh thức tuy ít
động nhưng tâm không c̣n vướng mắc nhiều v́ vậy gọi đó là cơi Trời Dục
(7).Top
CHƯƠNG THỨ CHÍN
I - TRỜI SẮC GIỚI
A Nan ! Người nào giữ được thân không làm
việc dâm dục và không nhớ nghĩ, ḷng ái nhiễm không sanh th́ đă vượt ra
cơi Dục làm bạn bè với hàng Phạm hạnh, gọi đó là trời Phạm chúng.
Người đă trừ được tập quán ngũ dục, tâm ly
dục hiện tiền vui vẻ thuận theo các luật nghi, có thể thực hành Phạm đức
gọi đó là trời Phạm phụ.
Thân tâm thanh tịnh, uy nghi không thiếu,
giới cấm trong sạch, có trí sáng suốt, thống lănh Phạm chúng, làm đại Phạm
vương, gọi đó là trời Đại phạm.
Nầy A Nan ! Ba hạng người trời đó khổ năo
không bức bách được; tuy không phải chơn chánh tu phép tam ma đề của đạo
Phật, nhưng tâm có thanh tịnh, những đam mê sai phạm của Dục giới không
lay động được họ, gọi đó là hàng trời Sơ thiền.
A Nan ! Các hàng Phạm thiên khi thống lănh
Phạm chúng lại tu tập Phạm hạnh được viên măn làm cho tâm yên lặng không
động; do sự yên lặng thân tâm được sáng suốt, gọi đó là trời Thiểu quang.
Hào quang sáng suốt thêm nhiều, chói sáng
vô lượng cơi làm cho các thế giới đó ánh hiện trong suốt như ngọc lưu ly.
Hạng người như thế gọi là trời Vô lượng quang.
Duy tŕ hào quang tồn tại vĩnh viễn, biến
thành phương tiện giáo hóa cho chư Thiên, và ứng dụng vô cùng. Hạng người
như thế gọi là trời Quang âm.
A Nan ! Ba hạng người trời, các thứ lo
buồn không bức bách được. Tuy chưa phải chơn chánh tu pháp tam ma đề của
đạo Phật, nhưng thân tâm có thanh tịnh, những sai lầm thô động đă dẹp
xuống được. Hạng người như thế gọi là hàng trời Nhị thiền.
Nầy A Nan ! Trời Nhị thiền phát huy vận
dụng hào quang trong việc giáo hóa làm tỏ rơ lẽ nhiệm mầu, tăng trưởng
hạnh tinh tiến, thể nhập với cái vui yên tĩnh, gọi đó là trời Thiểu tịnh.
Cảnh thanh tịnh hiện tiền bao la không bờ
mé, thân tâm khinh an vui trong cái vui yên tĩnh, gọi đó là trời Vô lượng
tịnh.
Thế giới và thân tâm hoàn toàn thanh tịnh;
cảnh giới thù thắng hiện tiền vui trong cái vui hoàn toàn vắng lặng, gọi
đó là trời Biến tịnh.
A Nan ! Ba hạng người đó đầy đủ công hạnh
tùy thuận, thân tâm yên tĩnh được cái vui vô lượng; tuy không phải chơn
chánh tu pháp tam ma đề của đạo Phật, nhưng thân tâm yên ổn sống trong
hoan hỉ, gọi đó là hàng trời Tam thiền.
Lại nữa A Nan ! Từ trời tam thiền đă hóa
giải được những bức bách của thân tâm, hạn chế được nhiều nguyên nhân khổ.
Họ thường quán xét cái vui vẫn là vô thường tạm bợ. V́ vậy họ phóng xả cả
hai tâm vui khổ thô trọng, phúc đức thanh tịnh được sanh ra, gọi đó là
trời Phúc sanh.
Hạng người tâm phóng xả khá tṛn đầy, sự
hiểu biết cao xa, thanh tịnh, không ǵ trở ngại. Họ có thể tùy thuận chơn
lư nhiệm mầu. Hạng người đó gọi là trời Phúc ái.
A Nan ! Ông hăy chín chắn mà nhớ ghi. Sau
khi thành tựu quả Phúc ở cơi trời Phúc ái, từ đó có hai con đường tẻ.
Một là dùng cái tâm sáng suốt thanh tịnh
vô lượng tiếp tục tu chứng, an trụ nơi phúc đức viên măn sáng suốt th́ gọi
đó là trời Quảng quả.
Hai là dùng cái tâm yếm thế chán cả khổ
vui, nghiền ngẫm, ôm ấp cái tâm phóng xả không ngừng, thân tâm diệt tận
dứt bặt ư nghĩ chận đứng tư duy trải năm trăm kiếp thọ mạng. Hạng người
nầy lấy sanh diệt làm nhơn tu cho nên không thể phát minh chân tánh bất
sanh bất diệt. V́ vậy, nửa kiếp đầu họ quán diệt, nửa kiếp sau không c̣n
sức khống chế, họ trở lại sinh hoạt với ư thức tư duy, người như thế gọi
là người vô tưởng.
A Nan ! Bốn hạng người trời đó, những thứ
khổ vui của thế gian không lay động được, dù đó chưa phải là chỗ bất động
chân thật của đạo Phật, nhưng họ vẫn có được cái sở đắc ở nội tâm thanh
tịnh, hạng người như thế gọi là trời Tứ thiền.
A Nan ! Ngoài ra c̣n có năm hạng Trời khác
gọi là năm bậc Bất hoàn (ngũ bất hoàn thiên cũng gọi là ngũ Tịnh cư
thiên). Năm bậc nầy đă dứt hết tập khí chín phẩm tư hoặc ở cơi Dục rồi,
khổ vui thô trọng không c̣n, cảnh giới biệt lập, an trú nơi tâm phóng xả,
gọi đó là trời Vô phiền.
Phóng xả đến độ tự tại không c̣n ư niệm
năng xả, sở xả, người như vậy gọi đó là trời Vô nhiệt.
Thấy bằng cái thấy thanh tịnh, nhận thấy
thế giới mười phương đứng lặng, không c̣n những cấu nhiễm trầm trọng trước
trần cảnh, hạng nầy gọi là trời Thiện kiến.
Sự thấy biết thanh tịnh hiển hiện hiện
tiền và thường sử dụng cái tri kiến đó không c̣n ngăn ngại, người như thế
gọi là trời Thiện hiện.
Quán sát cùng tận các cực vi, thấu triệt
rốt ráo tánh của sắc pháp; tri kiến rộng sâu không bờ mé, hạng người như
thế gọi là trời Sắc cứu cánh.
A Nan ! Những bậc trời Bất hoàn đó chỉ
riêng có bốn vị Thiên vương của cơi Tứ thiền có kính nghe nhưng không thấy
biết. Cũng như hiện thời các Thánh đạo tràng ở nơi rừng sâu, đồng rộng
trên thế gian là những nơi trú tŕ của các vị A La Hán, nhưng con người
thô thiển thế gian không thể nào thấy được.
A Nan ! Mười tám loài trời đó, tâm thường
ở trong định, không bám víu trần cảnh; song chưa hết cái lụy của h́nh hài;
từ đấy trở về gọi là cơi trời Sắc.
II - TRỜI VÔ SẮC GIỚI
Lại nữa, A Nan ! Ở đỉnh cao của cơi Sắc có
hai con đường tẻ:
Một là hạng người dựa trên tâm phóng xả mà
phát minh được trí tuệ. Trí tuệ sáng suốt nhận thức được chân lư, kiến tư
hoặc bị triệt tiêu th́ được xuất ly trần thế thành A La Hán lần đến Bồ tát
thừa. Hạng người như thế gọi là Hồi tâm Đại A La Hán.
Hai là dựa trên tâm phóng xả, thành tựu
được "cái đạo phóng xả" đâm ra nhàm chán cái thân, cho rằng thân là một
thứ ngăn ngại và dụng công diệt tưởng triệt tiêu cái ngăn ngại ấy vào hư
không vô biên; hạng người như thế là trời Không xứ.
Các thứ chất ngại không c̣n bị vướng mắc,
nhưng chưa diệt được cái vô ngại. Họ c̣n bảo lưu A lại da thức và một vi
tế thức mạt na. Hạng người như thế gọi đó là trời Thức xứ.
Ư niệm sắc không đă diệt, cái niệm diệt
cũng xả ly; chỉ c̣n ư niệm vắng lặng không c̣n ǵ nữa. Hạng người như thế
gọi đó là trời Vô sở hữu.
Thực tánh vốn bất động, lại dùng ư niệm
diệt mà diệt đến cùng. Cái không thể diệt hết, phát minh nhận cho là hết.
V́ vậy h́nh như hết mà không phải hết. Giống như c̣n mà chẳng phải c̣n.
Hạng người như thế gọi đó là trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Hạng Phi tưởng phi phi tưởng xứ nầy, ư
muốn xét thấu cái không, nhưng không cùng tột được lư không. Nếu dựa theo
pháp tư duy của trời Bất hoàn để nhận thức lư không. Hạng người như thế
gọi là Bất hồi tâm độn A La Hán.
Hạng khác, dựa trên tâm niệm yếm thế phát
huy cái vô tưởng của trời Vô tưởng và bọn ngoại đạo để nghiền ngẫm, nhận
xét lư không, đè nén tri thức hướng đến chỗ ngoan không mà không biết trở
về. Đó là hạng si mê lầm lạc, không nghe học chánh pháp, rốt cuộc sẽ sa
vào trong luân hồi lục đạo, khổ năo ưu bi không có ngày chấm dứt.
A Nan ! Các cơi trời đó, vốn là những
người phàm phu có tạo thiện nhơn cho nên họ tưởng sự báo đáp bằng thiện
quả như vậy. Đến khi sự báo đáp thiện quả ấy hết rồi th́ có thể trở lại
luân hồi theo ḍng nhân quả mới.
A Nan ! Các cơi trời tứ không nhân tâm
vắng lặng định tĩnh hiện tiền, không c̣n dính mắc với sắc pháp, gọi đó là
trời Vô sắc giới.
Tất cả người trời, không hiểu được cái
"diệu giác minh tâm". V́ chứa nhóm cái vọng mà vọng sanh ra ba cơi, mà
trong đó vọng có bảy loại chúng sanh, chủng tử loài nào th́ vọng kết h́nh
hài tùy loại thọ báo.
III - BỐN LOÀI A TU LA
A Nan ! Trong ba cơi Dục, Sắc và Vô Sắc
đó, c̣n có bốn loại A Tu La:
Có thể từ loại quỷ sanh. Loại A Tu La nầy
sanh ra từ loài quỷ, do có tâm bảo hộ chánh pháp của Phật mà có được thần
thông, du hành tự tại trong hư không. Loài nầy sanh từ trứng, thuộc A Tu
La trong loài quỷ.
Có thể từ loài trời sanh, hạng người trời
kém đức phải sa đọa vào cảnh giới ở gần mặt trời, mặt trăng. Loại A Tu La
nầy sanh từ thai, thuộc loại A Tu La trong loài người.
Có thể từ biến hóa sanh, loại A Tu La nầy
có sức mạnh đến chỗ không c̣n biết sợ ai. Nó có thể tranh quyền với Phạm
thiên, Đế thích và Tứ thiên vương kể cả chiến đấu nhằm đạt mục đích cho
ḿnh. Loại A Tu La nầy do biến hóa mà sanh, thuộc A Tu La trong loài Trời.
Có thể từ thấp khí sanh, loại A Tu La nầy
thấp kém, sanh trong ḷng biển lớn, lặn trong vực sâu, ban ngày có thể dạo
đi trên hư không đêm th́ ngủ dưới nước. Giống A Tu La nầy do thấp khí
sanh, thuộc A Tu La trong loài súc sanh.
IV - TU HÀNH CHỈ LÀ PHƯƠNG TIỆN
ĐỂ DIỆT VỌNG QUI
CHÂN
Nầy A Nan ! Xét cho cùng, bảy loại: Địa
ngục, quỷ, súc sinh, người, tiên, A Tu La, Trời đều là những hiện tướng
hữu vi ch́m đắm trong tối tăm vô an bất ổn. Tất cả chỉ là hư vọng. Hư vọng
thụ sanh, hư vọng theo nghiệp, hư vọng thọ khổ. Ở trong tâm tánh mầu
nhiệm, thanh tịnh, sáng suốt, tṛn đầy của con người, t́m mối manh gốc rễ
của những khổ đau hư vọng đó, th́ không sao có được. Nó huyển sanh, huyễn
diệt như hoa đốm trong hư không. Nó chẳng dính dáng ǵ với thể tánh tịnh
minh vốn có của con người !
A Nan ! Những chúng sanh đó do không nhận
được tâm tánh bản lai của ḿnh thanh tịnh. Chỉ v́ "vọng" mà tạo ra bất
thiện nghiệp: Sát, đạo, dâm. Hạng tốt hơn th́ ngược lại: Bất sát, bất đạo,
bất dâm. Có sát, đạo, dâm th́ là quỉ, không sát, đạo, dâm gọi là trời. Có,
không thay nhau "vọng" hiện tướng luân hồi tương tục.
Nếu khéo tu tập xa ma tha, tam ma bát đề
và thiền na th́ tâm tánh nhiệm mầu, vắng lặng tṛn sáng tự bản dĩ lai; lúc
đó t́m cái bất sát, bất đạo, bất dâm hăy c̣n không có, th́ sát, đạo, dâm
không có môi trường sanh khởi.
A Nan ! Nếu không đoạn trừ được ba nghiệp
không lành của thân, khẩu, ư th́ mỗi chúng sanh đều có phần tội riêng
ḿnh. Từ những cái riêng tương tợ hợp thành cái đồng phận chung tương tợ
cho nên cảnh địa ngục khổ đau không phải là không có chỗ nhất định. Tất cả
đều là do vọng kiến của tự ḿnh sanh ra, mà vọng th́ không chân, không thể
truy nguyên nguồn gốc được.
Người học đạo, muốn được Bồ đề, Niết bàn
điều cốt yếu là phải diệt trừ lậu hoặc, kiến tư hoặc, trần sa hoặc, vô
minh hoặc chưa hết, dù có được thần thông th́ đó cũng là những công dụng
hữu vi của thế gian. Tập khí mê lầm chưa hết th́ rốt cuộc cũng lạc vào
đường ma. Dù có ư trừ vọng nhưng càng chồng chất vọng nhiều thêm. Như Lai
gọi đó là hạng người đáng thương xót !
TRỰC CHỈ
Thấy có tam giới và luân hồi trong lục thú
chỉ v́ một chữ vọng mà ra.
Tự tánh Bồ đề của con người vốn không có
vọng.
Cảnh giới địa ngục cũng có thể nói là có.
Có nơi chốn, có h́nh phạt có đau khổ rơ ràng; nhưng rồi cũng có thể nói là
không có. Địa ngục có là nói với những người tạo những vọng nghiệp qua
thân, miệng, ư của ḿnh. Cảnh giới trời th́ ít có người khái niệm và h́nh
dung được chánh xác ở đâu. Theo khái niệm phổ biến của đa số người hiểu
một cách giản dị th́ trời cách cơi đất ta ở vừa cao và vừa xa, xa lắm. Đối
với người có nhiều hiểu biết th́ người ta có thể chấp nhận có thể "xa".
Nhưng "cao" th́ khuyên nên xét lại. Cảnh giới người trời có thể ở xa cảnh
giới của ta. Xa 100 năm, 1.000 năm hoặc hiện thời người ta cũng có thể nói
đến 6.000.000.000 năm ánh sáng… Dăy ngân hà được các nhà Thiên văn học
phát hiện mới nhất của thời đại, cách cảnh giới loài người trên quả địa
cầu là 6 tỉ năm ánh sáng. So với dăy ngân hà trên dưới 3 tỉ ngôi sao, đă
được phát hiện từ trước, vừa dài, vừa rộng lớn gấp 6 lần. Đó là tri kiến
là chuyện của các nhà khoa học, thiên văn học chớ chưa phải của nhà Phật
học. Nhà Phật học không dùng đơn vị tốc độ ánh sáng ước độ rộng xa mà dùng
cái từ "Hằng hà sa số bất khả thuyết, bất khả thuyết vô lượng vô biên A
tăng kỳ thế giới. Thế giới ở trong cái không gian vô tận, thời gian vô
cùng, nhà Phật học nói vậy đó".
Thế giới nhiều như vậy, chẳng lẽ chỉ dành
riêng cho 28 cảnh giới của người, trời ở thôi sao? Phí phạm! Tất nhiên các
loài người, trời có quyền sanh sống, hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát,
Phật có quyền sanh sống, có quyền hoạt động theo nghiệp vụ của ḿnh. Ngoài
ra các loại chúng sanh khác cũng tùy nghiệp, tùy nguyện của ḿnh đều có
quyền khai thác đất đai lập nghiệp để sanh sống. V́ vậy, cho nên nói trời
ở xa, hàng Thanh văn, Duyên giác ở xa, Bồ tát, Phật vẫn có thể ở xa quả
đất của con người th́ không phải là chuyện không có lư. Chẳng lẽ những
"thiên thể" những "hành tinh" "định tinh" nhiều "bất khả thuyết" như vậy,
mà bỏ hoang hết cả hay sao? Chẳng lẽ chỉ có quả địa cầu bé tí nầy sanh
sống được thôi sao ?
Cho nên đối với nhà Phật học, với cái hiểu
biết cho rằng: Trời ở xa các bậc A La Hán, Bồ tát, Phật ở xa là sự hiểu
biết đúng, sự hiểu biết phổ biến của nhiều người "đệ tử b́nh dân" chưa nếm
được tí cái hương vị giải thoát giác ngộ của đạo Phật.
Cái khó hiểu của đạo Phật và cũng là cái
kết quả lớn lao của người đệ tử Phật chân chính, là phải xác định bằng trí
tuệ bằng sự thực chứng của bản thân, rằng: chính ta là con người và cũng
là trời, vừa là Thanh văn, La Hán, vừa là Duyên giác, vừa là Bồ tát và có
thể vừa là Phật. Rồi cũng chính ta vừa là người, vừa là súc sanh, vừa là
ngạ quỷ, vừa ở địa ngục nữa. Tất cả là ta, tất cả tùy thuộc nơi ta và tất
cả của chính ta.
Hiểu như vậy là cái hiểu của nhà Phật học;
Nhà Phật học là nhà Phật học có thực chứng, nhà Phật học có tư duy sâu,
trí tuệ đạt đến ba la mật rồi vậy.
*****Top
Băng 76
V - TRÊN BƯỚC ĐƯỜNG TU PHẢI
CẢNH GIÁC CÁC HIỆN TƯỢNG
KHUẤY NHIỄU CỦA MA
Bấy giờ đức Thế Tôn bảo đại chúng và ông A
Nan rằng: các ông là Thanh văn, Duyên giác đă hồi tâm hướng thượng về Vô
thượng Diệu giác Bồ đề. Như lai đă chỉ dạy các ông pháp tu chơn chánh.
Nhưng các ông c̣n chưa biết hết những ma sự phức tạp trong lúc tu chỉ quán
và thiền na. Nếu cảnh ma hiện ra mà không biết th́ chẳng những tu tập
không đúng mà c̣n rơi vào tà kiến. Khi đă rơi vào tà kiến th́ sẽ bị ngũ ấm
ma, thiên ma hoặc quỉ thần, ly mị vọng lượng khuấy nhiễu mà không biết lầm
cho là hiện tượng chứng đắc của ḿnh. Thế th́ chẳng khác nhận giặc làm
con, tai hại không lường trước được. Bọn Vô văn tỳ khưu đắc định Tứ thiền,
nói là chứng Thánh, đến khi phước báo Chư Thiên hết, suy tướng hiện ra rốt
cuộc vẫn thọ luân hồi, vẫn sa vào địa ngục.
Giờ đây các ông hăy chín chắn lóng nghe và
khéo suy nghĩ Như Lai sẽ v́ các ông mà nói.
Nầy A Nan ! Mười hai loại chúng sanh trong
thế gian hữu lậu, tâm thể vốn tṛn đầy giác ngộ sáng suốt, nhiệm mầu cùng
với chư Phật trong mười phương không hai không khác. Chỉ v́ vọng tưởng mà
các ông mê chân lư thành có sự lỗi lầm, si ái phát sanh.
Trong lúc các ông tu thiền định thể nhập
tam ma đề tâm được thông suốt hợp với các vị La Hán, Bồ tát và chư Phật
trong mười phương làm cho tất cả ma vương, quỷ thần, thiên ma đều thấy chỗ
ở của ḿnh vô cớ chuyển rung như sắp đổ vỡ. V́ vậy các thiên ma, quỷ thần,
ly mị vọng lượng, yêu quái, ác tinh đến mà khuấy nhiễu.
Các bọn ma tuy có giận dữ, nhưng chúng chỉ
là một bọn trần lao, tâm các ông trong diệu giác tịnh minh, th́ sự khuấy
phá đó như gió thổi ánh sáng, như dao chém nước, như đánh hư không, không
hại được người tu chánh pháp. Khi nào chúng khuấy phá được là do người chủ
ngũ ấm, nội tâm sai lầm th́ khách ma bên ngoài mới nhiễu hại được. Ví như
binh phù tướng ấn bị truất băi tước lột hết rồi th́ hiệu lệnh của vị Tể
tướng chẳng ai nể sợ nữa.
VI - NHỮNG HIỆN TƯỚNG THUỘC
PHẠM VI SẮC ẤM
Phật bảo ! Nầy A Nan ! Trong lúc người tu
hành tĩnh tọa chỉ tức vọng niệm, vọng niệm lắng th́ tâm ly niệm được sáng
ra; lúc bấy giờ động tĩnh không tương cang, sự nhớ quên dường như một. Đó
là lúc sắp đi sâu vào chánh quán. Trạng thái yên tĩnh của tâm làm cho hành
giả giống như người mắt tỏ trong chỗ tối tăm. Trí hiểu biết được tịch tĩnh
nhưng tâm chưa phát ra sáng suốt. Đó là hiện tướng thuộc phạm vi sắc ấm.
Chừng nào trước mắt sáng tỏ, mười phương
rỗng rang không c̣n tối tăm nữa; đó là kết quả bước đầu thiền giả loại hết
sắc ấm và vượt qua kiếp trược.
Nầy A Nan ! trong lúc tư duy chân lư t́m
xét lẽ nhiệm mầu thân tâm như thể tách rời ra không ǵ ngăn ngại. Đó là
hiện tướng trong sáng của tự tánh tràn ra, là công dụng kết quả của thiền
giả tự nhiên. Thiền giả phải cảnh giác tự tâm đừng cho đó là sự chứng đắc,
càng không nên tự măn rằng ḿnh được quả Thánh hiền.
Nếu không chấp th́ đó cũng là cảnh giới
tốt, bằng tự măn tự cao cho rằng ḿnh chứng đắc quả vị Thánh hiền th́ tự
ḿnh lầm lạc rơi vào tà kiến.
Nầy A Nan ! Trong phạm vi sắc ấm thiền giả
c̣n phải đề cao cảnh giác với những hiện tượng như sau:
Khi thiền giả tu tập xa ma tha, tam ma bát
đề tâm đứng lặng và sáng suốt, bấy giờ chợt thấy mười phương đại địa hóa
thành vàng ṛng. Tất cả mọi vật hóa thành Như Lai, Phật. Lại thấy Phật Tỳ
lô giá na ngồi trên đài Thiên quang có hàng ngàn đức Phật vây quanh. Trăm
ức cơi nước cùng vô số hoa sen đồng thời hiện ra trang nghiêm đẹp đẽ…
Cũng do dụng công tư duy thâm hậu đè nén
vọng tâm thái quá bỗng nhiên thấy mười phương hư không thành sắc thất bảo
trang nghiêm, sự vật không ngăn ngại nhau ảnh hiện đủ sắc màu: xanh, vàng,
đỏ, trắng mỗi mỗi hiện ra.
Có lúc tâm đứng lặng, trí sáng phát sanh,
vào giữa đêm đen lại thấy mọi vật tỏ rơ như ban ngày và mọi vật vẫn y
nhiên không chút ǵ thay đổi. Đó là công dụng của tâm đứng lặng phát sanh.
Thiền giả không được vui mừng và cũng không chấp mắc…
Có lúc gán ép cái tâm đưa vào hội nhập với
hư không, tứ chi thân thể bỗng dưng như cây như cỏ: lửa đốt không nóng,
dao cắt không đau. Thậm chí có lúc lửa đốt không cháy; cắt thịt như chẻ
cây. Đó là hiện tượng trần tiêu, tứ đại tán. Thiền giả không được vui mừng
và không chấp chặt.
Lại cũng do công dụng tập trung tư tưởng
quán chiếu chơn tánh dồn ép thái quá, bỗng nhiên thấy mười phương sông núi
đại ṭng lâm đều thành cơi Phật, đầy dẫy thất bảo, chiếu sáng khắp cùng.
Lại chư Phật Như Lai đông như số cát sông Hằng đầy khắp cơi hư không, ngự
trong lâu đài hoa lệ. Dưới thấy địa ngục, trên có thiên cung thông đồng
không ngăn ngại. Đó là những tư tưởng ưa thích và chán ghét chứa nhóm lâu
đời bị dồn ép bộc lộ hóa thành ra thế. Thiền giả phải biết, không sanh tâm
vui mừng dụng ư bảo thủ chấp nê.
Lại cũng do tư duy sâu sắc dồn nén cái
tâm, bỗng dưng giữa đêm đen thấy rơ chợ búa, làng mạc, bà con quyến thuộc
phương xa tụ hợp hoặc nghe tiếng nói từ hư không vọng đến. Đó cũng là hiện
tượng dồn ép tâm thái quá mà ra. Thiền giả không được vui mừng cũng đừng
cho là điều chứng Thánh.
Cũng do sức tư duy nghiên cứu dồn nén căng
thẳng về mặt lư trí bỗng thấy vị thiện tri thức hiện đến thân h́nh và dáng
vẻ có thể đổi thay hoặc như trẻ, hoặc như già, lúc quắc thước phương phi,
lúc như trầm ngâm tư lự… Có lúc lại biết thuyết pháp, dạy đời làm cho
nhiều người nghe và lầm tưởng là người chứng đắc thánh quả. Thực chất đó
là do tâm tà bị loài ly mị, thiên ma ám hợp không phải chánh nhân của trí
tuệ và giải thoát.
A Nan ! Phật dạy tiếp: Mười thứ cảnh giới
như thế có thể hiện ra trong lúc Thiền giả tu tập Xa ma tha, tam ma bát
đề. Tất cả đều do sắc ấm và công dụng dồn nén vọng tâm mà sanh ra như vậy.
Những người có chủng tánh ngoại đạo, chủng tánh phàm phu không được học
chánh pháp của Như Lai, trong lúc lập chí và gắng sức tu hành lại gặp
những cảnh như vậy họ sanh tâm vui mừng cho là đắc đạo, là chứng Thánh
quả. Rồi họ tiếp tục khư khư bảo thủ tự kềm hăm thần thức ḿnh trong những
cảnh ấy, hy vọng hưởng lấy y cái thiền vị do ḿnh tu tập thành tựu.
A Nan ! Mười cảnh giới đó vẫn là kết quả
do công dụng của thiền na. Thiền giả biết, không chấp thủ, không tự măn ở
đó, th́ đó vẫn là cảnh giới tốt không có hại ǵ. Nhưng nếu sanh tâm chấp
thủ, tự măn cho đó là kết quả cứu cánh mà ḿnh đă đạt đến, lại tự phong
Thánh, phong thần th́ mắc phải tội đại vọng ngữ. Rốt cuộc rồi vẫn không ra
khỏi luân hồi mà lại phải đọa vào ngục vô gián !
Sau Như Lai diệt độ, các ông nương theo
lời dạy nầy truyền bá lại cho đời sau, đừng để thiên ma, ly mị vọng lượng
được dịp khuấy phá người tu. Đó là cách giữ ǵn chánh pháp, che chở cho
những chúng sanh phát tâm tu hành cầu Vô thượng đạo.
Băng 77
VII - NHỮNG HIỆN TƯỚNG THUỘC
PHẠM VI THỌ ẤM
Phật bảo: A Nan ! Thiền giả tu pháp xa ma
tha tam ma bát đề hết sự trở ngại về sắc ấm rồi, chợt thấy tâm Phật hiện
vào tâm ḿnh, tâm ḿnh và tâm Phật như bóng hiện trong gương. Sự giải
thoát và trí tuệ dường như có được, nhưng cụ thể th́ chưa được phát huy
công dụng - Giống như tâm trạng người bị mộc đè - Tay chân y nguyên, thấy
nghe không sai, nhưng tâm bị khách tà thành ra không cử động được. Đó là
trạng thái của thiền giả c̣n lệ thuộc trong phạm vi Thọ ấm.
Khi mộc hết đè th́ thân tâm không hoàn
toàn lệ thuộc nữa, người đó sẽ thấy biết mặt ḿnh và ở đi tự tại. Tự tâm
nhận biết Phật tâm, Phật tâm không ngoài tự tâm, cho nên Phật tâm không
phải như bóng hiện trong gương, hiểu rơ như thế, th́ thiền giả mới hết sự
trở ngại của thọ ấm đồng thời đă vượt qua kiến trược.
A Nan ! Trong lúc tu xa ma tha tam ma bát
đề tâm rất sáng suốt và cũng do sự đè nén vọng tâm thái quá, bỗng nhiên
phát sanh ḷng thương vô hạn. Thương tất cả mọi người, mọi loài, cho đến
muỗi ṃng, kiến mối, xem như con đỏ của ḿnh: có lúc c̣n khóc than thảm
thiết nước mắt nước mũi tuôn trào khi nh́n thấy các loại côn trùng ăn nuốt
cấu xé lẫn nhau. Đó có thể được coi là b́nh thường, do dụng công đè nén
quá độ. Biết th́ không có lỗi ǵ. Giác tĩnh không mê th́ tự nó tiêu hết.
Nếu không biết, lầm tưởng là ḿnh chứng đắc th́ bị giống ma sầu bi xâm
nhập tâm can, thấy người th́ đau xót, thương khóc muốn đem "bi tâm" ban
bủa khắp trần gian. Đó là hiện tượng lầm lạc mất chánh thọ sẽ bị ch́m đắm
trong luân hồi.
Lại nữa, A Nan ! Thiền giả hết sắc ấm, bấy
giờ thọ ấm tỏ rơ, những cảnh tốt đẹp hiện ra trước mắt. V́ cảm kích quá
độ, bỗng ở trong đó sanh ḷng dũng mănh vô hạn, ư chí bằng như Phật. Họ
cho rằng tam a tăng kỳ trong một niệm có thể vượt qua. Đó là công dụng lấn
lướt quá mức mà sanh ra như thế. Biết th́ không có lỗi ǵ. Không chấp thủ
th́ lần lần tự nó tiêu mất. Chấp thủ cho là chứng đắc th́ giống ma ngông
cuồng xâm nhập tâm can, gặp ai khoe nấy, ngă mạn cống cao, trên không c̣n
thấy có Phật, dưới chẳng thấy có người. Thế là lầm lạc sai mất chánh thọ,
sẽ bị ch́m đắm trong luân hồi.
Lại có thiền giả tu tập thiền định, thọ ấm
được tỏ rơ, tiến lên không có chỗ chứng mới, lui về mất sở đắc cũ, trí lực
suy kém lơ lững trong chỗ lững lơ, không có ǵ để nương tựa, bỗng dưng tâm
sanh khô khát, lúc nào cũng thầm nhớ không nguôi rồi cho như thế là cái
đức tinh tấn. Đó là trạng thái không trí tuệ của những kẻ tu hành lầm lạc.
Biết th́ hành giả không có lỗi ǵ. Nếu đam mê chấp thủ th́ có giống ma
nhớ, ám nhập vào tâm can, ngày đêm như nắm cái tâm treo vào một chỗ khắc
khoải nhớ nhung. Hạng tu hành như thế sai mất chánh thọ, sẽ ch́m đắm trong
biển luân hồi.
Có hạng thiền giả tu tập thiền định sắc ấm
hết, thọ ấm tỏ rơ. Sức tuệ quá nhiều, sức định th́ ít: Trí tuệ quá mạnh mẽ
và sắc bén, bằng ḷng với thắng tánh đó, rồi tự ngờ ḿnh là Phật Lô Xá Na.
Đó là kết quả của sự dụng tâm mà quên suy xét, nên đam mê tri kiến của
ḿnh. Biết th́ hành giả chẳng có lỗi ǵ. Nếu nhận đó là điều chứng Thánh
quả th́ bị giống ma hạ liệt tri túc ám nhập tâm can. Hễ thấy người th́ tự
xưng ḿnh được vô thượng đệ nhất nghĩa đế. Hạng người như thế, sai mất
chánh thọ sẽ bị ch́m đắm trong luân hồi lục đạo.
Lại có thiền giả chuyên tâm thiền định.
Sắc ấm tiêu rồi thọ ấm tỏ rơ, chỗ chứng mới chưa được, tâm đắc cũ đă mất,
tâm bỗng sanh ḷng lo buồn vô hạn. Tự thấy ḿnh như ngồi giường sắt, như
uống nước đồng sôi, chán nản không muốn sống, mong cầu người khác giết
ḿnh để được giải thoát. Đó là hiện tượng của sự tu hành sai lạc chánh
pháp. Hành giả biết th́ không có lỗi ǵ, nếu đam mê cho là chứng Thánh th́
có giống ma ưu phiền ám nhập tâm can, tay cầm dao mác tự cắt thịt ḿnh,
thích được bỏ mạng. Đó là hiện tượng tu thiền lầm lạc sai mất chánh thọ sẽ
bị ch́m đắm trong biển luân hồi.
Lại có trường hợp, hành giả định tâm
chuyên chú trong sáng chẳng có việc ǵ, bỗng dưng cái mừng vô hạn sanh ra,
không sao ngăn được. Đó là hiện tượng khinh an đến với thiền gia, nhưng v́
thiếu trí tuệ không đủ sức tự chế tâm ḿnh. Nếu biết th́ hành giả chẳng có
lỗi ǵ, c̣n ham mê cho là chứng Thánh th́ có giống ma thích vui mừng ám
nhập vào tâm can, hễ thấy người th́ cười. Đi ngoài đường tự ca tự hát, tự
múa và nói là ḿnh được vô ngại tự tại giải thoát. Đó là biểu hiện của sự
tu hành lầm lạc, sai mất chánh thọ sẽ bị ch́m đắm trong biển luân hồi sanh
tử ưu bi…
Lại có trường hợp thiền giả đi sâu trong
thiền định, bỗng nhiên ḷng đại ngă mạn phát ra. Từ đó thường biểu lộ các
thứ: mạn, mạn quá mạn, ty liệt mạn, tăng thượng mạn. Người nầy xem thường
cả hàng Thanh văn, Duyên giác, bất kính cả chư Phật. Nguyên do là thắng
giải quá cao mà không đủ trí tuệ để kềm chế. Hành giả biết th́ không có
lỗi ǵ, nếu mê chấp cho là chứng Thánh th́ bị giống ma đại ngă mạn áp nhập
vào tâm can, không tin tam bảo, phá hỏng kinh tượng. Đó là hiện tượng lầm
lạc, sai mất chánh thọ sẽ bị ch́m đắm trong luân hồi.
Lại có trường hợp định tâm sáng suốt, tỏ
ngộ từng phần chân lư, được sức tùy thuận, tâm bỗng sanh ra trạng thái
khinh an vô lượng rồi cho rằng ḿnh chứng Thánh. Đó là nhân có trí tuệ mà
có sự khinh an. Hành giả không chấp th́ không có lỗi, nếu mê chấp sẽ có
giống ma khinh thanh ám nhập tâm can, sanh ḷng tự măn không cầu tiến lên
nữa, sai mất chánh thọ sẽ bị ch́m đắm.
Lại có trường hợp tâm trụ thiền định, tâm
tỏ ngộ được tánh trong sáng và rỗng rang của vạn pháp. Bấy giờ vô cớ bỗng
dưng quay lại hướng về tánh đoạn diệt bác không nhân quả, chủ trương ngoan
không, chấp thủ lư không cho rằng vạn pháp đoạn diệt. Hành giả biết th́
không lỗi ǵ, mê th́ có giống ma ngoan không vào trong tim, gan chê bai
người tu hành giữ giới, phá các luật nghi, thích ở nhà cư sĩ, uống ăn thô
tạp, làm hạnh bất chánh. Thậm chí ăn đồ bất tịnh v́ cho rằng tất cả đều
không. Đó là hiện tượng lầm lạc, sai mất chánh thọ sẽ bị ch́m đắm…
Lại có trường hợp thiền giả chú tâm trong
định nghiền ngẫm về tánh trong sáng rỗng rang ghi sâu vào tâm thức, bỗng
nhiên tâm sanh ḷng yêu vô hạn. Yêu quá phát điên, làm chuyện tham dục. Đó
là hiện tượng sắp được định sâu, nhưng không có tuệ để tự chế nên sa vào
ngũ dục. Hành giả tỉnh biết th́ không có lỗi ǵ, nếu mê chấp th́ có giống
ma ngũ dục ám hợp vào tâm can, rồi cho sự dâm dục là Bồ đề, lại dạy các đệ
tử b́nh đẳng làm việc dâm dục, gọi những người hành dâm là những người nối
ḍng pháp tử. Khi ma chán chường rời bỏ thân thể, không c̣n uy đức th́
thầy tṛ sa vào lưới pháp luật của quốc gia xă hội. Đó là hiện tượng sai
lầm rời xa chánh thọ sẽ bị ch́m đắm luân hồi.
A Nan ! Mười thứ cảnh hiện ra trong thiền
định như vậy đều do thụ ấm và công dụng tác động giao xen mà hiện ra như
thế. Chúng sanh tham mê hiện tượng lạ không biết suy xét tự cho rằng ḿnh
đă chứng lên quả Thánh, thành tội đại vọng ngữ phải đọa tam đồ. Nếu có học
hiểu kinh giáo tuân theo lời dạy bảo của Như Lai. Khi gặp những cảnh như
thế sanh ra phải tự nhủ ḷng: đó là cảnh vọng, không được sanh tâm ham hố,
không được móng ư duy tŕ th́ tự nó tiêu tan, thiền giả chẳng có lỗi ǵ.
Móng ư tham cầu, trăm người như một lầm lạc đường tà tự chiêu khổ lụy
không khỏi luân hồi. Sự tu hành cần khổ, luống công c̣n chuốt vào ḿnh tai
ương, khổ năo, mất đi chánh thọ, sẽ bị luân hồi khó có ngày ra.
*****Top
Băng 78
VIII - CÁC HIỆN TƯỚNG
THUỘC
PHẠM VI TƯỞNG ẤM
Phật bảo: Nầy A Nan ! Các thiền giả tu xa
ma tha, tam ma bát đề vượt qua thọ ấm, khi thọ ấm hết rồi, dù chưa hết mê
lầm, nhưng tâm có thể tách rời khỏi h́nh hài như chim ra khỏi lồng. Từ đó
tiến lên trải qua nhiều hạnh vị và được "ư sanh thân". Ư sanh thân có
nghĩa là được tùy ư đi ở không c̣n bị ngăn ngại. Đó là hiện tượng thuộc
phạm vi Tưởng ấm.
Đến lúc hết động niệm, vọng tưởng được
tiêu, cái tâm giác minh như phủi hết bụi nhơ, dùng trí sáng có thể soi rọi
biết được đoạn đường sanh tử của ḿnh trong nhiều giai đoạn. Đó là hiện
tượng của hành giả hết rồi tưởng ấm.
Nầy A Nan ! Thiền giả được vượt qua thọ
ấm, định tâm tăng tiến sáng suốt và rỗng rang. Và trong khi tiếp tục tu
tập Tam ma đề bỗng nhiên tâm ham muốn cầu được công dụng thiện xảo linh
thiêng… Thừa dịp vọng tâm sơ hở nầy, thiên ma mượn xác một người khác gá
vào và tự khoe ḿnh chứng đắc Niết bàn Phật, đến trước thiền giả thay Phật
thuyết pháp. Do uy lực của thiên ma, người nầy hiện lúc trẻ, lúc già, lúc
làm tỳ kheo, lúc làm Đế thích, lúc hiện phụ nữ, lúc ở trong nhà tối hiện
ánh hào quang. Thiền giả ngu mê kia lầm tưởng là Bồ tát, nghe lời dạy bảo,
kính cẩn tin theo, chánh tâm lay chuyển, phá hủy luật nghi làm chuyện dâm
dục. Người thiên ma ưa nói chuyện huyễn hoặc để bịp đời như: thời cuộc
biến đổi, đao binh sắp xảy ra, hồng thủy sẽ đến, hỏa tai thiêu cả nhân
gian… Đó là giống quái quỷ tuổi già thành ma khuấy rối người tu hành. Khi
ma chán rồi, bỏ không gá nữa th́ Thầy và đệ tử ngu si đều sa vào lưới pháp
luật của quốc gia, và kiếp kiếp siêu lạc trong luân hồi.
Lại có người đang tu tập tam ma đề bỗng
dưng sanh tâm thích đi chơi: thả cho tư tưởng bay đi cảnh nầy xứ nọ. Thừa
dịp vọng tâm sơ hở của thiền giả, thiên ma gá vào thân một người khác và
tự khoe ḿnh đă được Vô thượng Niết bàn, đến trước thiền giả thích đi chơi
kia, trải ṭa thuyết pháp. Do uy lực của thiên ma làm cho thiền giả và
nhiều người nghe pháp tự thấy ḿnh được ngồi trên hoa sen báu, thân thể
biến thân sắc vàng sáng chói. Cả thính chúng cảm phục và được sự an vui
chưa từng có. Thiền giả si mê kia tưởng lầm đó là Bồ tát cung kính nghe
tin theo lời dạy bảo, làm việc dâm dật, hủy báng chánh pháp. Ma ưa nói:
Phật nầy giáng thế chỗ kia. Phật kia độ người chỗ nọ… Người nầy là Bồ tát
hóa thân, người kia Thánh mẫu xuống trần độ thế… Những người tu hành vô
trí tin theo. Đó là loài bạt quỷ tuổi già thành ma khuấy rối người tu
hành. Khi ma chán rồi không gá nữa th́ Thầy và đệ tử đều sa vào lưới pháp
luật của quốc gia, tất nhiên sau đó luân hồi kiếp kiếp.
Lại có thiền giả trong khi tĩnh tọa trong
tam ma bát đề tâm được định tĩnh rỗng rang, bỗng nhiên tâm sanh ước vọng
muốn cho tâm ḿnh khế hợp chơn lư tức th́ có được sự ứng hiện hiển linh.
Thừa cơ hội sai trái của thiền giả, thiên ma cho tinh thần gá vào một
người khác, và tự xưng rằng ḿnh đă được Vô thượng Niết bàn, đến chỗ thiền
giả hâm mộ khế hợp chơn lư trải ṭa thuyết pháp. Thân h́nh của tất cả mọi
người không có ǵ thay đổi, nhưng trước khi nghe pháp mọi người tự thấy
được túc mệnh thông, hoặc tha tâm thông, hoặc biết và nói những chuyện
tốt, xấu, tai ương, hay phúc đức của thế gian. Hoặc làm cho mọi người thấy
cảnh chư Thiên, cảnh địa ngục, hoặc cho mọi người vốn không học hành lại
biết tụng kinh, nói đạo lư… khiến cho ai ai cũng vui vẻ, kính phục nghe
theo lời thuyết pháp xảo ngụy của thiên ma. Thiền giả trong lúc si mê, lầm
tưởng đó là Bồ tát, cung kính tôn trọng và thay đổi lập trường bỏ mất
chánh thọ, học làm theo những điều tham dục mà miệng th́ ưa nói chuyện
Phật. Rằng Phật ở cơi kia, Phật kia giáng trần xứ nọ. Phật nam, Phật nữ,
Phật thiệt, Phật giả chủ đích để bịp người tu hành. Đến khi ma chán rồi
không gá nữa th́ lúc đó Thầy và bọn đệ tử lần lượt sa vào lưới pháp luật
của nhơn gian. Người tu hành biết không ham mê th́ chẳng có lỗi ǵ và hiện
tượng ấy dần dần tự nó tiêu diệt, bằng không biết bị rơi vào đường tà kiến
lạc vào đường địa ngục luân hồi.
Lại có thiền giả trong khi tập trung tư
tưởng trong sáng chuyên chú trong tam ma đề, bỗng dưng sanh tâm đam mê
hiểu biết tận tường về căn nguyên của mọi sự vật hiện tượng. Thiên ma nhờ
dịp đó, cho tinh thần gá vào một người khác, tự nhiên nói được kinh pháp
và tự xưng rằng ḿnh đă được Vô thượng Niết bàn Phật. Rồi Thiên ma nầy đến
chỗ thiền giả tham cầu hiểu biết ấy trải ṭa thuyết pháp. Do uy lực của
thiên ma khiến cho mọi người ai nghe cũng đều kính phục. Mọi người đồng ư
theo lời dạy của ma rằng Bồ đề Niết bàn, pháp thân Phật chỉ là cái thân
xác hiện tiền, không có cái ǵ khác. Cha sanh con, con sanh cháu, rồi cha
con sanh nhau đời nầy sang đời khác, không mất, đó là pháp thân thường trụ
chớ không có cơi Phật, cơi Bồ tát, cơi Trời nào khác. Những người tu hành
si mê đem thân mạng qui y nghe theo những điều đó, thay đổi lập trường,
hủy bỏ chánh pháp tu theo tà kiến rối loạn chánh thọ làm việc tham dục. Ma
ưa thuyết giáo: mắt, tai, mũi, lưỡi là tịnh độ, hai căn nam nữ là chỗ làm
cho con người được Bồ đề Niết bàn. Bọn ngu si vô trí đều tin những lời dạy
ô uế đó. Thực chất nó là Cổ độc quỷ và thắng ác quỷ, tuổi già thành ma
khuấy rối người tu hành. Khi ma khuấy chán rồi bỏ thân không gá nữa th́
thầy ma, tṛ ma đều sa vào lưới pháp luật của nhân gian. Người đệ tử Phật
chân chánh biết trước không đam mê theo th́ cũng chẳng có lỗi ǵ. Si mê
theo nó th́ lạc vào tà kiến sai mất chánh thọ bị đọa địa ngục, luân hồi
khó dứt !
Lại có thiền giả tâm được rỗng lặng, trong
lúc tu tam ma đề bỗng dưng tâm ham thích nổi lên muốn biết việc quá khứ,
vị lai, nghiền ngẫm mọi hiện tượng mong được thầm cảm linh ứng để thỏa măn
yêu cầu. Thiên ma thừa dịp đó cho tinh thần gá vào một người khác, nói
được kinh pháp và tự cho là ḿnh đă được Niết bàn Vô thượng. Ma đến trước
thiền giả tham cầu linh ứng kia trải ṭa thuyết pháp, khiến cho thính
chúng tự cảm thấy thân ḿnh như được trăm ngàn tuổi, tham ái tâm nổi dậy
sanh ḷng trọng kính ma và không thể rời bỏ được; đem thân làm nô bộc,
cúng dường tứ sự không biết mệt mỏi. Mọi người bằng ḷng tôn trọng đó là
bậc tiên sư, sanh ḷng ái pháp dính như keo sơn và được cái chưa từng có.
Thiền giả vô trí lại lầm tưởng là Bồ tát hiện đến độ ḿnh, gần gũi, nghe
lời dạy bảo sai quấy của ma, hủy phá luật nghi làm việc tham dục bỏ mất
thanh tịnh, sai lầm chánh thọ. Thực chất đó là giống lệ quỷ tuổi già thành
ma khuấy phá người tu. Khi ma khuấy chán rồi, rời bỏ thân người không gá
nữa, th́ thầy và đệ tử ma đều bị sa vào lưới pháp luật của thế gian. Người
tu hành biết th́ tự nó tiêu tan, bằng đam mê cho là chứng đắc th́ sai mất
chánh thọ đọa vào địa ngục.
Lại có thiền giả định tâm đứng lặng, tập
chú tam ma đề, bỗng dưng tâm ưa thích chỗ vắng vẻ, muốn sự khắc khổ, ham
làm việc cần lao. Thừa dịp đó, thiên ma cho tinh thần gá vào một người
khác, nói được kinh pháp, và tự xưng ḿnh đă được Vô thượng Niết bàn. Ma
đến trước thiền giả ham thích khắc khổ, trải ṭa thuyết pháp, làm cho
thiền giả và nhiều người như tự biết nghiệp cũ, biết về kiếp trước của
ḿnh. Ma chỉ người nầy kiếp trước là cọp, người nọ kiếp trước là rắn,
người kia kiếp trước là rùa… Ma sai bảo mỗi người tự hiện tướng tựa hồ như
thật, do đó mọi người hết ḷng kính phục nghe theo những lời dạy bảo xằng
bậy của ma. Người nào móng tâm trái ư nó, nó biết và dùng thể lực mà uy
hiếp. Ma lại hiện ra như người tu hành khắc khổ, tinh tấn trong việc cần
lao, để chê bai Tỳ khưu, mắng nhiếc đồ chúng, phô bày việc xấu của người
khác. Ma thường nói chuyện họa phúc, hên xui, nói chuyện may rủi của gia
đ́nh người đúng y chuyện nhà của ma vậy. Thực chất đó là giống Đại lực quỷ
tuổi già thành ma khuấy phá người tu hành, khi ma khuấy chán rồi, rời bỏ
thân người kia không gá nữa th́ thầy ma, đệ tử ma đều sa vào lưới pháp
luật của thế gian. Người tu thiền biết th́ ma tự tiêu tan, đam mê ái nhiễm
th́ sa vào tà kiến đọa lạc luân hồi rồi vào địa ngục.
Băng 79
Lại nữa, có thiền giả tâm được đứng lặng,
trong lúc chuyên chú tam ma đề tâm t́m hiểu muốn biết về túc mạng. Thừa
dịp đó Thiên ma gá vào một người nào đó, nói được kinh pháp thông thạo và
tự xưng đă chứng được Niết bàn. Ma đến trước thiền giả quấy nhiễu, trải
ṭa thuyết pháp. Do thế lực của ma khiến cho những người nghe pháp có được
châu báu hoặc ma hiện thân thú vật, miệng ngậm châu ngọc đem cho. Ma lại
có thể chỉ chỗ nầy chôn châu báu, chỗ nọ có vật quí chói sáng, khiến cho
các người nghe pháp của nó được cái chưa từng có. Ma chỉ ăn cây thuốc,
không ăn cơm hoặc một ngày chỉ ăn ít đậu, mè mà thân h́nh vẫn tốt đẹp; V́
vậy mọi người đều kính phục, tuyệt đối nghe lời. Ma phỉ báng Tỳ khưu, mạt
sát đồ chúng. Ma lại chỉ nơi kia là chỗ của các Thánh, chỗ nọ của những
người linh hiển… Thực chất đó là loại quỷ thần rừng núi, loại thổ địa thần
hoàng tuổi già thành ma khuấy phá người tu hành, xúi giục làm bậy hủy phá
luật nghi Phật dạy. Khi ma chán rồi, rời bỏ thân không gá nữa th́ thầy,
tṛ đều sa vào lưới pháp luật của thế gian. Người tu thiền phải biết để
cảnh giác th́ chúng tự tiêu tan, bằng ham mê th́ bỏ mất chánh thọ sai trái
chánh kiến sa vào địa ngục.
Lại có thiền giả tâm được đứng lặng,
chuyên chú tam ma đề bỗng dưng tâm ham mê biến hóa thần thông, mong được
thần lực linh hiển. Thừa dịp đó, thiên ma cho tinh thần gá vào một người
khác, nói được kinh pháp và tự xưng chứng được Vô thượng Niết bàn. Ma đến
chỗ thiền giả mong cầu thần thông biến hóa, trải ṭa thuyết pháp và tay
cầm lửa đưa cao đốt trên đầu mọi người, thế mà không ai thấy nóng. Ma lại
hiện ngồi lơ lững trên hư không, hoặc hiện đi trên mặt nước, hoặc vào
trong b́nh, hoặc ở trong đáy, hoặc vượt qua cửa sổ, hoặc đi thông suốt qua
tường mà không chút ngần ngại. Chỉ trừ binh khí gươm đao th́ chưa được tự
tại. Ma tự xưng ḿnh là Phật, chịu Tỳ khưu lễ bái, chê bai thiền luật,
mắng nhiếc đồ chúng, khuyến khích sự hành dâm, bảo những sự ôm ấp hành lạc
với nhau là truyền pháp. Thực chất đó là giống Hải tinh, Sơn tinh, Phong
tinh, Thổ tinh và loài tinh mỵ của cây cỏ sống nhiều kiếp trong trời đất,
hoặc do loài Tiên đă chết lâu năm, h́nh hài không nát, loài quái quỷ gá
vào. Bọn ấy tuổi già thành ma khuấy rối người tu hành. Khi khuấy phá chán
rồi, bỏ thân người không gá nữa th́ đệ tử ma, thầy ma đều sa vào lưới pháp
luật. Người tu hành biết th́ chúng tự tiêu tan, đam mê th́ sai mất chánh
thọ, đọa lạc địa ngục luân hồi vĩnh kiếp.
Lại có thiền giả định tâm đứng lặng,
chuyên trụ tam ma đề bỗng dưng tâm thích vào chỗ diệt tận, nghiên cứu tánh
biến hóa, tham muốn cái rỗng không sâu nhiệm. Thừa dịp đó thiên ma cho
tinh thần gá vào một người khác, nói được kinh pháp và tự xưng ḿnh được
Vô thượng Niết bàn, đến chỗ thiền giả tham cầu rỗng không ấy trải ṭa
thuyết pháp. Ở giữa chỗ đông đảo ma bỗng biến mất thành không, từ không
hiện ra có lúc hiện thân ḿnh trong suốt như lưu ly, có lúc duỗi tay hiện
ra mùi thơm chiên đàn, lúc đưa tay xuống hiện ra mùi phẩn tiểu cứng chắc
như đường phèn. Lúc thuyết pháp nói không có nhân, không có quả, chết rồi
là hết không có thân sau, khuyến khích mọi người làm việc dâm dục. Và do
uy lực của ma những người làm việc dâm dục cũng được cái rỗng không chưa
từng có. Thực chất đó là những tinh khí nhật nguyệt bạc thực, vàng, đá,
cỏ, cây, quy, phượng, lân, hạc trải qua ngàn vạn năm không chết là các
loài tinh trong các quốc độ, đến lúc tuổi già thành ma khuấy rối người tu
hành. Khi ma khuấy chán rồi, rời bỏ thân người không gá nữa, th́ thầy ma,
tṛ ma tất cả đều sa vào lưới pháp luật của nhân gian. Thiền giả tu hành,
biết cảnh giác th́ tự nó tiêu mất, bằng đam mê theo chúng lạc vào tà khiến
sai mất chánh thọ đọa vào địa ngục vĩnh kiếp luân hồi.
Lại có thiền giả tâm được rỗng rang đứng
lặng, chuyên chú trong tam ma đề, bỗng nhiên sanh tâm ham sống, thích gian
khổ, muốn quan sát sự vật tinh vi mong cầu nhiều tuổi, vượt ra cái sống
phần đoạn cầu được thường trụ. Thừa dịp ấy, thiên ma cho tinh thần gá vào
một người khác, nói được kinh pháp, và tự xưng ḿnh chứng được Vô thượng
Niết bàn. Đến trước thiền giả và chỗ đông người, ma diễn tṛ huyễn hoặc,
đến chỗ cách xa trăm dặm lấy một vật làm tin rồi trở về trong giây lát.
Hoặc ở trong một căn nhà, mà bảo người đi thử, đi măi đi hoài mà từ vách
bên nầy không đến được phía vách bên kia. Do vậy nhiều người tu hành, các
thiền giả hết ḷng cung kính tin theo, cho đó là Phật sống hiện ở đời.
Được nước, ma tuyên bố thập phương chúng sanh là con đỏ của ta, ta sanh ra
chư Phật, ta sanh ra thế giới, ta là Phật đầu tiên tự sanh ra đời, không
do tu hành đắc đạo. Thực chất bọn nầy chính là ma trụ thế Tự tại thiên
cùng loại với bọn Giá văn trà, Tùy xá đồng tử ở cơi Tứ thiên vương, thích
cái rỗng không, chúng nó đến ăn tinh khí người tu hành. Bọn đó có thể hiện
làm gái đẹp khêu gợi rủ ren người tu hành làm việc dâm dục, hành sự theo
ma không lâu th́ tâm can khô kiệt, tinh thần rối loạn, miệng nói lảm nhảm.
Những ai rơi vào đường cám dỗ của ma, cuối cùng thầy ma, tṛ ma đều rơi
vào lưới pháp luật của thế gian. Thiền giả biết cảnh giác th́ ma tự tiêu
mất, bằng mê muội nghe theo sai mất chánh thọ trái đạo Bồ đề sẽ đọa địa
ngục vĩnh kiếp luân hồi.
A Nan ! Ông nên biết, mười thứ ma ấy đời
sau cách xa chánh pháp, chúng có thể hiện ra trong giới xuất gia của đạo
Phật, hoặc gá vào thân người thế gian, hoặc có thể tự hiện. Dù với h́nh
thức nào, chúng cũng tự xưng là đă chứng được Vô thượng chánh biến tri
giác. Các loại ma nầy đều khen ngợi sự dâm dục; thầy ma cùng đệ tử ma dâm
dục truyền nhau. Mê hoặc nhau thấm sâu tâm can lưu luyến nhau, ít th́ chín
đời, nhiều th́ trăm kiếp, khiến cho người tu hành chân chánh trở thành
quyến thuộc của ma, sau khi chết phải làm dân ma mất hết chánh trí đọa vào
địa ngục.
A Nan ! Ông hăy phát nguyện vào đời ngũ
trược, tung vải ḷng đại bi dạy dỗ chúng sanh phát khởi ḷng chánh tín, tu
theo chánh pháp để được Vô thượng chánh biến tri, xa lánh tà ma ngoại đạo.
Được vậy, là ông đă đền đáp ơn Phật. Mười thứ cảnh giới như thế hiện ra
trong thiền định đều do tưởng ấm che chướng mà sanh ra, tác hợp với công
dụng tu tam ma đề dồn nén vọng tâm hiện những cảnh đó, chứ không phải là
hiện tướng chứng quả hay thành Bồ tát, thành Phật ǵ. Những người tu thiền
không học, chưa nghe lời răn dạy của Như Lai, phần nhiều bằng ḷng khi gặp
những cảnh giới như vậy và cho là ḿnh đă chứng đắc. Đó là sai lầm nguy
hại lớn lao.
A Nan ! Sau Như Lai diệt độ ông nên đem
những lời dạy nầy của Như Lai truyền bảo cho chúng sanh hậu thế, khiến cho
hiểu rơ nghĩa đó, không để cho thiên ma có dịp khuấy rối. Đó là cách che
chở, hộ tŕ cho chúng sanh, cho những người phát tâm đi vào con đường Vô
thượng chánh tri giác.Top
CHƯƠNG THỨ MƯỜI
I - NHỮNG NHẬN THỨC SAI
LẦM
THUỘC PHẠM VI HÀNH ẤM
A Nan ! Thiền giả tu tập tam ma đề khi
tưởng ấm đă hết th́ những tư tưởng b́nh nhật của người đó đă diệt hết; lúc
ngủ, khi thức luôn luôn được giác chiếu rỗng lặng như hư không trong sạch.
Những mộng tưởng thô trọng không c̣n; Nh́n xem cảnh vật, núi, sông, đất
liền như một tấm gương trong sáng, đến đi không vướng mắc, qua lại bặc dấu
chân, chỉ c̣n một tánh tinh chân tịch tĩnh. Căn nguyên của mọi hiện tượng
sanh diệt từ đây phô bày trước mắt. Bấy giờ thiền giả thấy rơ 12 loại
chúng sanh trong thế giới mười phương; dù chưa thấu suốt manh mối của mỗi
chúng sanh, nhưng đă thấy được cơ sở sanh diệt của các chủng loại như bóng
dă mă nhấp nhóng hiện ra như mờ như tỏ, chưa xác định rơ ràng. Đó là phạm
vi hành ấm.
Chừng nào những h́nh bóng lăng xăng như
bóng dă mă kia được đứng lặng hoàn toàn như mặt nước ao th́ đó là biểu
hiện hành ấm đă vượt qua rồi, thiền giả lúc bấy giờ từ bỏ hết chúng sanh
trược.
A Nan ! Ông nên biết, thiền giả có được sự
hiểu biết đúng đắn, chánh tâm tỉnh trụ trong xa ma tha tam ma bát đề th́
mười loại thiên ma thuộc thức ấm kia không c̣n có cơ hội khuấy phá được
nữa. Nhưng trong lúc tư duy nghiên cứu nguồn gốc sinh loại, nghiên cứu đến
tột cùng, bấy giờ đầu mối sanh diệt chuyển động lăng xăng u ẩn của sự vật
hiện tượng kia, rồi móng tâm cân nhắc so đo và cuối cùng chấp cho đó tánh
bản nguyên của vạn pháp. Do đó, họ sa vào chỗ nhận thức sai lầm, chủ
trương: "Vô nhân luận" với hai luận cứ sau.
Một là, theo sự thấy biết của họ th́ tất
cả chúng sanh không có nguyên nhân, tự nó sanh ra kể từ tám muôn kiếp trở
lại đây mà thôi. Tùy theo ḍng nghiệp báo, có thể chết đây sanh kia xoay
vần trong đó, ngoài tám muôn kiếp th́ vạn vật "vô nhân".
Hai là, họ cho rằng tất cả chúng sanh
không có nguyên nhân cuối cùng. Theo chỗ thấy biết của họ th́ người sanh
người, chim sanh chim, quạ th́ đen, hạc th́ trắng. Loài người đứng thẳng
sống, loài thú lưng nằm ngang, màu trắng của hạc không do tẩy, màu đen của
quạ không do nhuộm; suốt tám muôn kiếp vẫn không hề dời đổi; đời nầy đời
khác vẫn như vậy, xưa nay cứ theo qui luật cũ mà lập đi lập lại. Do đó, họ
cho rằng họ không hề thấy có ǵ là Bồ đề, th́ làm sao có vấn đề thành đạo
Bồ đề, có chứng có ngộ. Quả là mọi sự vật "Vô nhân".
Do những kiến chấp như thế bỏ mất tánh
chánh biến tri, lạc vào tà giáo ngoại đạo, đốt cháy hạt giống Bồ đề. Đó là
bọn ngoại đạo thứ nhất, chủ trương "VÔ NHÂN LUẬN".
A Nan ! Lại có hạng thiền giả trụ trong
tam ma đề, tâm đứng lặng rỗng rang, chuyên chú t́m xét nguồn gốc các loại
chúng sanh, họ thấy cái tánh chuyển động luôn luôn không ngừng, bèn khởi
sanh ư niệm chấp "thường", họ chủ trương cái thuyết vạn vật "vĩnh viễn
thường" với bốn luận cứ:
Băng 80
Một là: Tâm và cảnh vốn không có nguồn
gốc. Tuy nhiên tất cả thập phương chúng sanh, sanh ra và diệt đi, sanh
diệt diệt sanh trong ṿng hai muôn kiếp th́ không hề tan mất. Do đó họ cho
sinh loại là "thường".
Hai là: Họ thấy tứ đại là thường c̣n, thập
phương chúng sanh dù có sinh có diệt, tuy nhiên trong phạm vi thời gian
bốn muôn kiếp xoay vần sanh diệt nhưng bản thể không hề tan mất. V́ vậy,
họ chủ trương trong sinh hoạt là "thường".
Ba là: Họ cho tứ đại thường c̣n, trong
phạm vi bốn muôn kiếp, thập phương chúng sanh dù có sinh diệt, nhưng bản
thể thường c̣n không hề tan mất. Do vậy, họ chủ trương vạn vật là
"thường".
Bốn là: Họ xét tội bản lai của sáu căn,
của sự chấp thọ, của ư thức của mạt na thức, A lại da thức tánh vẫn
thường. V́ vậy, trong phạm vi tám muôn kiếp, tất cả chúng sanh trong thập
phương dù có sanh có diệt, nhưng bản thể vẫn thường. V́ vậy, họ chủ trương
vạn vật là "thường".
Do những chấp mắc sai lầm hạn hẹp trong
phạm vi thấy biết của họ, mà bỏ chánh biến tri, lạc vào ngoại đạo, mai một
tánh Bồ đề. Đó là loại ngoại đạo thứ hai chủ trương "Viên thường luận".
Lại có thiền giả trụ trong tam ma đề,
chánh tâm đứng lặng, t́m xét nguồn cội các loại chúng sanh và cái tánh
chuyển động kín nhiệm liên tục của sự vật, họ cân nhắc so đo và sanh kiến
chấp giữa ḿnh và cái khác. Do kiến chấp sai lầm điên đảo, họ chủ trương:
"một phần thường, một phần vô thường" qua bốn luận cứ !
Một là: Họ quán cái tâm của họ là tâm
nhiệm mầu sáng suốt đứng lặng cùng khắp mười phương thế giới; họ cho đó là
cái thần ngă là cái "ta" cứu kính. Do đó họ chấp có cái ta nhiệm mầu sáng
suốt đứng lặng cùng khắp mười phương không lay động. C̣n tất cả chúng sanh
th́ ở trong tâm ta tự sanh tự chết. Vậy tâm tánh của "ta" là thường c̣n
những bọn chúng sanh kia th́ là vô thường.
Hai là: Hạng thiền giả không quán xét cái
tâm mà chỉ quán xét cơi nước trong hằng sa quốc độ. Họ thấy có chỗ bị
thiên tai địa chấn hủy hoại, họ kết luận đó là tánh rốt ráo vô thường; c̣n
những chỗ không bị kiếp tai phá hoại th́ họ bảo đó rốt ráo thường.
Ba là: Hạng quán xét cái tâm, cho rằng tâm
ḿnh tinh vi nhỏ nhiệm giống như vi trần lưu chuyển trong mười phương mà
không bị biến chất, lại có thể gá hợp với thân, sanh rồi diệt, diệt lại
sanh mà vẫn thường c̣n. Đó là tánh thường; c̣n sự sống chết diệt sanh từ
cái tánh ấy sanh ra th́ gọi là vô thường.
Bốn là: Hạng thiền giả họ biết được cái
lúc tưởng ấm của họ hết và đồng thời họ cũng biết họ c̣n đang ở trong phạm
vi của hành ấm. Do đó họ chấp cho hành ấm là tánh thường, c̣n sắc, thọ,
tưởng ấm đă hết, họ cho đó vô thường.
Chủ trương "một phần thường, một phần vô
thường: như thế phát xuất từ hiểu biết hạn hẹp đối với chân lư, cho nên
sai lầm, v́ cái nhận thức chân lư của họ chỉ ngang tầm cỡ đó chưa vượt lên
được nữa, họ lầm mất tánh Bồ đề. Đó là hạng ngoại đạo thứ ba, lập luận:
"một phần thường, một phần vô thường".
Lại có hạng thiền giả trong tam ma đề
nghiền ngẫm cội nguồn hiện tượng vạn hữu, bỗng sanh tâm chấp mắc về phạm
vi. Bằng vào sự hiểu biết của ḿnh họ dựng lên thuyết: Hữu biên vô biên
luận, qua bốn luận cứ như sau:
Một là, Họ cho là cội gốc sanh tử th́ lưu
chuyển tương tục không ngừng, rồi chấp quá khứ và vị lai là hữu biên. C̣n
cái tâm chịu sự sanh tử tương tục là vô biên.
Hai là: Theo họ, trong tám muôn kiếp trở
lại, thấy có chúng sanh c̣n trước tám muôn kiếp th́ bằng bặc không nghe
thấy ǵ. Họ cho rằng chỗ không nghe thấy là vô biên; c̣n chỗ có chúng sanh
là hữu biên.
Ba là: Họ cho rằng họ có cái biết cùng
khắp, họ được tánh vô biên; các người khác sanh ra trong cái biết của họ
nên chỉ có tánh hữu biên.
Bốn là: Hạng thiền giả đă diệt hết hành
ấm, theo tri kiến của họ, th́ thân của chúng sanh có một nửa sanh, một nửa
diệt, c̣n các hiện tượng sự vật của thế gian đều có một nửa hữu biên, một
nửa vô biên.
Do sự chấp mắc sai lầm như thế rơi vào
ngoại đạo, lầm mất tánh Bồ đề. Đó là loại ngoại đạo thứ tư chủ trương: Hữu
biên vô biên luận.
Lại có thiền giả trụ tam ma đề trong lúc
nghiền ngẫm cội gốc sanh diệt của hiện tượng vạn hữu, bỗng sanh kiến giải
sai lầm chấp mắc điên đảo. Họ dựng luận thuyết "Bất tử càn loạn" với bốn
luận cứ:
Một là: Hạng thiền giả trong lúc quan sát
về cội nguồn biến hóa, họ thấy: cái có dời đổi th́ gọi là biến; cái ǵ
tương tục th́ gọi là thường; chỗ thấy được th́ gọi là sanh; chỗ không thấy
được gọi là diệt; chỗ tương tục gọi là thêm; chỗ có tiếp giáp của sự tương
tục gọi là bớt; chỉ sự vật sanh ra gọi là có; chỗ tương đối không có gọi
là không. Do kiến chấp như vậy, cho nên có ai cầu pháp hỏi nghĩa lư về
đạo, họ đáp: Ta nay cũng sanh, cũng diệt; cũng có mà cũng không; cũng thêm
và cũng bớt. Lúc nào cũng nói lộn quanh khiến cho người nghe không sao
hiểu được. Rồi lầm tưởng là ḿnh thấp thỏi c̣n vị ấy thuyết pháp quá "cao
siêu" !
Hai là: Hạng thiền giả chuyên chú xa ma
tha tam ma bát đề, nhưng chưa rơ thấu chân lư "không"; Họ cho rằng nhân
cái không mà được chứng đạo, họ chỉ đáp bằng một chữ "không". Ngoài tiếng
không, họ chẳng biết ǵ nữa.
Ba là: Hạng thiền giả lầm về chân lư "có".
Họ cho tất cả đều có và do nhận biết vạn pháp là có mà được chứng đạo. V́
vậy, nếu có ai hỏi đến đạo, họ chỉ đáp một chữ "có". Ngoài chữ có, không
c̣n nói được ǵ nữa.
Bốn là: Hạng thiền giả chấp ngoại cảnh vừa
có vừa không. V́ hoang mang trước cảnh, nên tâm cũng rối loạn. Nếu có ai
đến hỏi về đạo lư, họ đáp rằng: vạn vật "cũng có tức là cũng không; trong
cái cũng không, không phải là cũng có". Chúng nói một cách rối loạn càn
bậy không sao đúc kết được vấn đề. Do những thứ chấp mắc rối loạn càn bậy
như thế mà lạc vào ngoại đạo, lầm mất tánh Bồ đề. Đó là loại ngoại đạo thứ
năm, chủ trương lập ra bốn thứ lư luận "Xà quần" gọi là: "Càn loạn bất tử
luận".
Lại có hạng thiền giả chuyên chú Xa ma tha
tam ma bát đề, chánh tâm đứng lặng trong lúc tư duy t́m xét nguồn gốc các
sinh loại, bỗng tâm chấp mắc khởi lên, chủ trương cho rằng có ḍng sanh
diệt vô tận cho nên sau khi con người chết c̣n có cái tướng diệt sanh vô
tận. Họ mê chấp kiến giải sai lầm của ḿnh: Sắc là ta; ta là sắc; Sắc
thuộc về ta; ta ở trong sắc. Đối với thọ, tưởng, hành cũng theo lối lư
luận như vậy thành ra 16 tướng. Do chấp mắc như vậy, lạc vào ngoại đạo,
lầm mất tánh Bồ đề. Đó là loại ngoại đạo thứ sáu chủ trương "Ngũ ấm sau
khi chết c̣n có tướng".
Lại có hạng thiền giả an trú trong tam ma
đề, đứng lặng vọng tưởng, t́m xét nguồn gốc sinh loại, bỗng sa vào điên
đảo khởi chấp: Sau khi chết không có tướng. Họ cho rằng sau khi chết sắc
chẳng c̣n tồn tại, thọ, tưởng không c̣n chỗ để tác động gá nương. V́ vậy,
sau khi chết không c̣n có tướng cho đến nhân quả cũng không, Niết bàn cũng
không, chỉ có danh tự, kiến chấp như vậy, lạc vào ngoại đạo, lầm mất tánh
Bồ đề. Đó là loại ngoại đạo thứ bảy lập luận: Sau khi chết không c̣n
tướng.
Lại có hạng thiền giả sai lạc vào tà chấp:
cho rằng cái có và cái không tự nó đánh đổ nhau. Do vậy, họ lập luận: Sau
khi chết không phải có, không phải không. Kiến chấp sai lầm đó khiến cho
người tu thiền mờ tịt đường, sau rơi vào ngoại đạo, lầm mất tánh Bồ đề. Ấy
gọi là loại ngoại đạo thứ tám lập luận: Sau khi chết không phải có, không
phải không.
Lại có hạng thiền giả tu tập tam ma đề
bỗng khởi sanh kiến chấp đoạn diệt. Họ cho rằng: hết thân nầy là diệt; ngũ
dục là diệt, hết khổ là diệt; tột vui là diệt, xả hết là diệt; chấp xoay
dần bảy cách đoạn diệt. Do kiến chấp sai lầm, lạc vào ngoại đạo, lầm mất
tánh Bồ đề. Đó là loại ngoại đạo thứ chín, lập luận: Sau khi chết là dứt
hẳn.
Băng 81
Lại có hạng thiền giả trong tam ma đề
chánh tâm đứng lặng, trong lúc t́m xét nguồn gốc sinh loại đến chỗ u ẩn,
bỗng sanh tâm chấp: "Sau nầy c̣n có". Dựa vào kiến giải đó, họ chủ trương:
Niết bàn luận có năm thứ:
Một, Dục giới là Niết bàn, v́ qua sự thấy
biết của họ Dục giới vẫn có những sự trong sáng đáng yêu và Dục giới là cơ
sở chuyển sanh tử ra Niết bàn.
Hai, Sơ thiền là Niết bàn, v́ cơi Sơ thiền
không c̣n ưu thọ.
Ba, Nhị thiền là Niết bàn, v́ cơi Nhị
thiền không c̣n khổ thọ.
Bốn, Tam thiền là Niết bàn, v́ cơi Tam
thiền rất vui đẹp.
Năm, Tứ thiền là Niết bàn, v́ Tứ thiền đă
dứt hết khổ và vui.
Họ cho rằng đạt đến cơi Tứ thiền không c̣n
sinh tử luân hồi.
Những cơi trời đó được quả báo an lạc có
mức độ, là phước báo hữu lậu, chưa phải là cảnh giới thù thắng thanh tịnh
của bậc Thánh hiền. V́ lầm chấp năm thứ Niết bàn phi chân lư nên sa vào
ngoại đạo, sai mất tánh Bồ đề. Đó là loại ngoại đạo thứ mười, lập luận
điên đảo, chấp trong ngũ ấm có năm thứ Niết bàn.
A Nan ! Mười thứ hiểu biết điên rồ trong
Thiền na như vậy là do hành ấm và dụng công chuyển hóa giữa vọng và chân
giao tranh nhau mà sanh ra; chúng sanh mê muội không biết, gặp những cảnh
như vậy cho rằng ḿnh được chứng đắc Thành quả sanh tâm ngạo mạn, khoác
lác, khoe khoang với ư đồ mê hoặc, bịp bợm người mộ đạo để ḥng tom góp
lợi dưỡng thỏa măn hư danh. Hạng ngu si như thế chỉ gạt được những người
có tâm mộ đạo mà thiếu học đạo thôi. Với nhăn quang của người trí tuệ tham
cứu tinh thường tam tạng giáo điển, nghe qua đă biết cửa địa ngục mở rộng
để chờ đón bọn vô minh hắc ám chỉ biết có lợi dưỡng nầy.
Sau Như Lai diệt độ, A Nan! các ông là
những trưởng tử Như Lai phải truyền bá chánh pháp, khiến cho những người
ham mộ Bồ đề, Niết bàn hiểu rơ những sai trái nói trên. Có như vậy mới
thẳng tiến trên đường Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà không sợ lạc lầm.
II - NHỮNG NHẬN THỨC SAI
LẦM
THUỘC PHẠM VI THỨC ẤM
Phật bảo ! Nầy A Nan ! Người chuyên tu xa
ma tha tam ma bát đề, đến khi Hành ấm hết rồi th́ những nguyên nhân luân
hồi từ nghiệp thô đến tế gần như bặc hẳn; với quả giải thoát giác ngộ
người nầy bước đến chẳng c̣n xa, ví như gà gáy canh năm, nh́n về phương
đông đă có hừng sáng ở chân trời. Ở giai đoạn nầy, thiền giả sáu căn rỗng
lặng không c̣n rong ruỗi theo trần cảnh, nội tâm ngoại thân đều trong
sáng, thể nhập tánh vô sở nhập. Thấu suốt nguồn gốc của sinh loại. Thấy
biết được tánh tổng quát của thế giới, chỉ c̣n phần tinh vi u uẩn chưa tận
tường. Đó là trạng thái của thiền giả đang c̣n ở trong phạm vi của thức
ấm.
Cho đến khi sáu căn viên dung, hổ dụng,
bấy giờ thân tâm và mười phương thế giới trong sáng như ngọc lưu ly. Đó là
hiện tượng biểu hiện của thiền giả đă hết thức ấm và vượt qua mạn trược.
Bấy giờ t́m xét lại nguồn gốc của mọi mê lầm th́ tất cả chỉ là vọng tưởng
điên đảo như huyễn hóa chẳng có ǵ.
A Nan ! Thiền giả hết thức ấm vượt qua mạn
trược, đă diệt được cái quan niệm sanh diệt nhưng chưa đạt đến cái vui
tịch diệt, lục căn của người nầy thông suốt, cái hiểu biết của họ dung
lặng rỗng thông cùng 10 loài chúng sanh trong mười phương. Dựa trên sự
hiểu biết rộng răi bao quát đó, họ lập ra cái luận thuyết gọi là "nhân
chân thường" và chấp mắc nơi đó nên trở thành bè bạn của Sa tỳ Ca la chấp
có Minh đế, mê muội Bồ đề Phật, bỏ mất chánh tri kiến. Đó là bọn ngoại đạo
thứ nhất chủ trương: có tâm năng đắc và có cái sở qui.
Lại có thiền giả ở trong tam ma đề, tâm
tánh sáng suốt rỗng rang gần đến chỗ viên măn, bỗng cảm thấy cảnh đối
tượng sở qui mà ḿnh cần phải nương tựa. Rồi tự nghĩ rằng: thân tâm ḿnh
từ chỗ kia sanh ra, thập phương hư không và thế giới đều từ nơi thân của
ḿnh mà sanh ra, do vậy sa vào cái chấp "năng phi năng", thành bạn bè với
bọn Ma hê thủ la, hiện ra thân vô biên, mê muội Bồ đề Phật, bỏ mất chánh
tri kiến, đó là loại ngoại đạo thứ hai, lập cái "tâm năng vi" thành cái
quả "năng sự" trái ngược Bồ đề Niết bàn, sanh ra giống Đại mạn thiên, chấp
có "cái ta" khắp cùng pháp giới.
Lại có thiền giả, trong tam ma bát đề
chuyên chú bỗng thấy có chỗ "sở qui", rồi nghĩ thân tâm ḿnh từ chỗ kia
sanh ra và cả thập phương hư không cũng từ chỗ kia sanh ra; rồi nhận "cái
chỗ kia" ấy là cái thể chân thường không sanh diệt lại chấp cho là thường
trú, chẳng những lầm tánh bất sanh mà cũng lầm cả tánh sanh diệt; cho nên
bị rơi vào cái chấp "thường phi thường", thành bè bạn những kẻ chấp có Tự
tại thiên, mê muội Bồ đề Phật, bỏ mất chánh tri kiến. Đó là loại ngoại đạo
thứ ba, lập cái tâm nhân y thành cái quả vọng kế, trái với cái nhân Bồ đề
Niết bàn sanh ra giống điên đảo.
Băng 82
Lại có thiền giả, định tâm trong sáng, an
trú tam ma đề bỗng nảy sinh sự hiểu biết khắp cùng và cho rằng: cỏ cây
trong vũ trụ cũng vẫn là hữu t́nh, giống như con người không khác. Rằng cỏ
cây làm người, người làm cỏ cây; thế là bị rơi vào cái chấp "tri vô tri"
thành bè bạn với bọn Ba tra tiển ni chấp tất cả đều có hay biết, mê muội
Bồ đề Phật. Đó là bọn ngoại đạo thứ tư, chấp cái tâm "viên tri", thành cái
quả thố mậu, trái tánh Niết bàn sanh ra giống Đảo tri.
Lại có thiền giả chuyên chú tam ma đề,
thân tâm thanh tịnh các căn có thể dùng thay thế cho nhau (lục căn hỗ
dụng) bỗng dưng phát sanh cái ánh sáng của hỏa đại, ưa thích cái tánh
thanh tịnh cái tánh sáng của hỏa đại, ưa thích cái tánh thanh tịnh của
thủy đại, yêu quí cái chu lưu của phong đại, nghiền ngẫm cái thành tựu của
địa đại rồi sùng phụng mỗi thứ, nhận tứ đại kia là bản thân và cho đó là
tánh thường trụ, rơi vào cái chấp "sinh vô sinh", thành bè bạn của bọn Ca
diếp ba và bọn Bà la môn đem hết thân tâm thờ lửa, thờ nước để cầu ra khỏi
sanh tử. Đó là hàng thiền giả mê muội chánh tri kiến, lầm lạc đường Bồ đề,
thuộc hàng ngoại đạo thứ năm, lập cái nhân hư vọng cầu cái quả giả huyễn,
đi ngược ḍng Niết bàn sanh ra giống điên hóa (điên đảo cái lư sinh hóa
của hiện tượng vạn pháp).
Lại có thiền giả tự trụ tam ma đề tâm
thanh tịnh rỗng thông bỗng khởi cái tâm chấp "trống rỗng" phủ nhận sự biến
hóa của vạn vật, lấy cái tánh đoạn diệt làm chỗ nương tựa của ḿnh; thế là
sa vào cái chấp "Quy vô quy", thành bè bạn với bọn chấp không trong Vô
tưởng thiên, mê muội Bồ đề Phật, bỏ mất chánh tri kiến. Đó gọi là bọn
ngoại đạo thứ sáu, ch́m đắm trong tâm hư vô, lập ra cái quả trống rỗng đi
ngược ḍng Niết bàn, sinh giống đoạn diệt.
Lại có thiền giả trụ trong tam ma đề tâm
được đứng lặng sáng suốt, bỗng khởi lên ư niệm muốn củng cố cái thân, làm
cho cái thân trở thành chân tường bất hoại, ư niệm phi chân lư, khiến cho
thiền giả rơi vào cái chấp "tham phi tham", thành bè bạn của A tư đà, một
vị Tiên tham vọng trường sanh, mê muội Bồ đề Phật, bỏ mất chánh tri kiến.
Đó là loại ngoại đạo thứ bảy tham chấp cái mạng căn, lập cái nhân củng cố
vọng thân để cầu cái quả kéo dài lao khổ, trái tánh viên thông đi ngược
đường Niết bàn, sinh ra giống vọng điên.
Lại có hàng thiền giả trong tam ma đề
nghiền ngẫm tánh không của các hành pháp, bỗng khởi tâm muốn giữ trần lao
v́ sợ trần lao tiêu hết. Bấy giờ thiền giả vận dụng đạo lực hóa hiện tự
thân ở Liên hoa cung, thất bảo huy hoàng, cực kỳ tráng lệ; lại hóa hiện ra
nhiều gái đẹp xinh để cùng vui hưởng thụ thỏa măn tâm buông lung. Sự đam
mê đó khiến cho hành giả sa vào cái chấp "chân vô chân", thành bè bạn của
bọn Tra chỉ la mê muội Bồ đề Phật, mất hết chánh tri kiến. Đó là loại
ngoại đạo thứ tám, lập cái nhân tà tu thành cái quả xí trần (sợ trần lao
bị tiêu hết).
Lại có thiền giả an trú trong xa ma tha
tam ma thiền na tham cứu xét tột tánh không của các hành pháp nhưng chưa
đạt đến chỗ tịch diệt viên măn, ở nơi thể viên minh nguồn gốc của sinh
mạng sanh ra ư niệm phân biệt cái thô, cái phần chân, phần ngụy nghĩa là
nhận rơ về khổ đế, đoạn trừ tập đế, cầu chứng diệt đế, thực hành đạo đế.
Khi chứng diệt đế rồi, không cầu tiến thêm và bằng ḷng cho đó là cái đích
cứu cánh sở đắc của ḿnh. Người khởi chấp như vậy gọi là định tánh Thanh
Văn, thành bè bạn của Vô văn tăng, vướng phải bệnh tăng thượng mạn, mê
muội Bồ đề Phật, mất hết chánh tri kiến; đó là bọn thứ chín mong cầu cái
tâm ứng nghiệm viên măn thành cái quả thú tịch diệt, trái với tánh viên
thông, ngược lại đường Niết bàn sinh ra hạng người triền không.
Lại có thiền giả ở trong xa ma tha tam ma
bát đề, rơ suốt được tánh không của các hành pháp, bấy giờ ở trong tánh
giác minh thanh tịnh, phát minh tánh thâm diệu rồi nhận đó là Niết bàn,
không có tâm cầu tiến, thế là sa vào hàng định tánh Bích chi, thành bè bạn
của hàng Duyên giác, Độc giác. Nếu trụ ở đây, không phát tâm hướng thượng
Đại thừa th́ mất đi chánh tri kiến, mê muội Bồ đề Phật, trở thành bọn thứ
mười họ thành tựu được giác tâm vắng lặng lập ra cái quả trạm nhiên, trái
với tánh viên thông, đi ngược đường Niết bàn vô thượng sinh ra một hạng
giác ngộ viên minh nhưng không tiêu hóa được cái tánh viên minh sở qui.
A Nan ! Mười thứ thiền na như vậy, người
tu hành giữa lúc đang tinh tấn say mê bỗng có thể hóa điên cuồng đăng trí,
v́ đam mê theo cái vọng kiến trong lúc dụng công. Những cảnh giới, những
cái thấy biết trong thiền na chưa phải là cảnh giới tối hậu cần đạt đến.
Thiền giả nhận thức sai lầm chỗ chưa đủ cho là đủ, khởi tâm năng đắc, được
cảnh sở chứng, tưởng đó là cảnh giới Vô thượng Bồ đề, tự cao tự măn cho
rằng ḿnh đă chứng Thánh quả, mắc tội đại vọng ngữ. Khi nghiệp báo hết rồi
phải sa vào địa ngục; c̣n hàng Thanh văn, Duyên giác th́ không tiến lên
được nữa.
A Nan ! Sau Như Lai diệt độ, các ông hăy
trân trọng ghi nhớ lời dạy của Phật, đem những pháp môn Như Lai dạy truyền
bá, khiến cho chúng sanh đời sau những người phát tâm tu Thiền na biết rơ
những cảnh giới hư vọng hiện ra trong lúc tu thiền và những tư duy lệch
lạc, những chấp mắc sai lầm do ngũ ấm ma vọng khởi. Người tu tập thiền na
phải luôn luôn đề cao cảnh giác mới tránh khỏi các thứ ma tà kiến ấy nhiễu
hại mà hoang phí một đời tu. Các ông phải sáng suốt giữ ǵn thân tâm, nắm
giữ chánh tri kiến của Phật, từ lúc ban đầu cho đến khi thành tựu, không
dễ đi lạc vào các con đường tẻ của ngoại đạo, do lầm chấp và đam mê theo
vọng cảnh tà kiến bởi sự "che phủ" của các ma ngũ ấm.
Các Như Lai trong mười phương đă vận dụng
trí tuệ ba la mật, khéo léo vượt qua mà thẳng tiến đến Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác. Chừng nào thức ấm hết rồi th́ hiện tiền sáu căn sẽ trở
thành hỗ dụng, có thể thay thế cho nhau, bấy giờ hành giả sẽ lên bậc Kim
cang, Càn tuệ Bồ tát. Cái tâm trong sáng tṛn đầy được tỏ rơ như mặt trăng
vằng vặc ánh hiện trong viên ngọc lưu ly toàn bích. Rồi cứ thế mà vượt lên
thứ bậc: thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, tứ gia hạnh và
thập địa kim cang đạo. Bấy giờ tánh Đẳng giác được tṛn đầy vào bể Diệu
Trang Nghiêm của Như Lai, viên măn đạo Bồ đề, về đến chỗ "VÔ SỞ ĐẮC".
*****Top
Băng 83
A Nan ! Những cảnh tướng hiện ra lúc tu
thiền na, những ư nghĩ rồi sanh khởi sự chấp mắc theo kiến giả của ḿnh
lập ra những luận cứ chủ trương: Thần ngă, Minh đế, đoạn, thường, có,
không v.v… Tất cả đều gọi chung là "ma sự", v́ có tánh chướng ngại, khuấy
phá, cản trở bước tiến của người tu thiền. Chẳng những vậy, nó c̣n có thể
chận đứng lại để rồi bằng ḷng với cái tri kiến hạn hẹp, phi chân lư,
thành người ngoại đạo hư cháy hạt giống Bồ đề.
Chư Phật Thế Tôn trong quá khứ đă nghiệm
xét, phân biệt và đă giác ngộ, chiến thắng với các ma sự mà thẳng tiến
trên đường Bồ đề.
Sau Như Lai diệt độ. A Nan ! Các ông phải
hướng dẫn cho những người tu tập thiền na học hỏi Phật pháp, nhận rơ các
ma sự trong lúc tu chỉ quán th́ ấm ma tự tiêu, thiên ma tự biến, đại lực
quỷ hoảng sợ chạy trốn, ly mị vọng lượng không sanh ra được.
A Nan ! Bản giác vốn tṛn sáng không có
tướng sanh tử văng lai. Vọng th́ không có nhân. Khi chưa ra khỏi vọng,
nh́n vạn pháp cho đó là nhân duyên sanh. Mê tánh nhân duyên th́ gọi là tự
nhiên có. Nhân duyên đều là những so đo của vọng tưởng. Bản nhân của ngũ
ấm cũng là vọng tưởng như vậy.
A Nan ! Thân thể của ông cũng nhân cái
tưởng của cha mẹ mà sinh. Tâm của ông nếu không phải tưởng th́ không thể
đến gá cái mạng vào trong tưởng. Như Lai đă từng nói: Tâm tưởng vị chua,
trong miệng nước bọt chảy ra, tâm tưởng leo cao trong ḷng bàn chân nghe
ghê rợn. Dốc cao không có, vật chua chưa đến, thân thể của ông nếu không
cùng loại với vọng tưởng th́ làm sao nhân nghe nói chua trong miệng nước
bọt lại chảy ra ? Vậy nên biết rằng sắc thân hiện tiền của ông gọi là vọng
tưởng kiên cố thứ nhất.
Ngay nơi tâm tưởng tượng leo lên cao, có
thể khiến thân ông chịu sự ghê rợn, đó là nhân "cảm thọ" mà sinh ra, khiến
xúc động đến sắc thân - Nên biết rằng hiện nay hai thứ "thọ", thọ sung
sướng hoặc "thọ" ghê sợ, đang rong ruổi nơi ông, đó là vọng tưởng "hư
minh" thứ hai.
Do ư nghĩ sai khiến sắc thân ông, nếu sắc
thân không phải cùng loại th́ làm sao sắc thân ông lại theo ư nghĩ sai
khiến thọ nhận các thứ h́nh tượng rồi sinh tâm chấp nhận những h́nh tượng
phù hợp với ư nghĩ ! Cái ư nghĩ lúc thức gọi là tưởng, ư nghĩ lúc ngủ th́
gọi là mộng. Những vọng tánh lay động mộng tưởng của ông gọi là vọng tưởng
hư dung thứ ba.
Sự chuyển hóa không ngừng thầm dời đổi:
móng tay ra, tóc dài, khí lực ṃn, da mặt nhăn, ngày đêm biến đổi mà không
hay biết.
A Nan ! Nếu cái đó không phải là ông th́
làm sao thân ông lại thay đổi, nhưng nếu những thứ đó là ông th́ sao ông
không hay biết ? Vậy các "hành" niệm niệm không dừng của ông, gọi là vọng
tưởng u ẩn thứ tư.
Chỗ tinh minh đứng lặng không lay động của
ông gọi là thường c̣n, trong khi thân ông không ra ngoài những sự thấy,
nghe, hay biết. Nếu "cái thường c̣n" đó, thật là tánh tinh chân của ông
th́ lẽ ra nó sẽ không huân tập tiếp thu những điều vọng và nếu vậy th́ sao
những năm về trước ông đă xem thấy một vật lạ, trải qua nhiều năm không hề
nghĩ đến, về sau t́nh cờ gặp lại vật lạ đó th́ nhớ lại rơ ràng ? Vậy nên
biết rằng cái tánh tinh minh đứng lặng đó, từng niệm, từng niệm chịu huân
tập không thể tính lường hết được. A Nan! Nên biết cái tánh đứng lặng đó
không phải thật, như nước chảy gấp mà trông như đứng lặng vậy thôi, chớ
không phải không chảy. Nếu cái tánh đứng lặng của ông không phải vọng
tưởng th́ đâu lại chịu để vọng tưởng huân tập vào. Chừng nào mà sáu căn
của ông chưa được tự tại, hợp, ly dùng thay lẫn nhau th́ cái vọng tưởng đó
không lúc nào diệt được. Vậy nên biết rằng cái tập khí quán xuyến, điều
khiển những điều thấy, nghe, hay, biết của ông, là cái vọng tưởng điên đảo
vi tế huyễn hóa rỗng trống thứ năm.
A Nan ! Năm ấm đó do năm thứ vọng tưởng
như thế mà tạo thành. Nay ông muốn biết giới hạn, sâu cạn th́ hăy ghi nhớ
các tiêu chuẩn nhận thức như vầy:
Sắc và không là biên giới của sắc ấm. Xúc
và ly là biên giới của Thọ ấm. Nhớ và quên là biên giới của Tưởng ấm. Diệt
và sinh là biên giới của Hành ấm. Đứng lặng hợp với đứng lặng là biên giới
của Thức ấm.
Năm ấm ấy trùng điệp sanh khởi. Sanh nhân
thức ấm mà có. Diệt từ sắc ấm mà trừ. Ly th́ ngộ liền, nhân ngộ mà tất cả
vọng tưởng đều tiêu. Sự không thể trừ liền, theo thứ lớp mà diệt.
A Nan ! Như Lai đă chỉ cho ông về cái gút
của khăn kiếp ba la đă quá rơ ràng, ông c̣n hỏi lại chi nữa! Tâm ông cần
phải thông suốt cội gốc vọng tưởng đó. Rồi đem truyền dạy cho người tu
hành hậu thế khiến cho họ biết vọng tưởng là vọng để sanh tâm nhàm chán,
và biết có Niết bàn mà không lưu luyến ba cơi.Top
III - PHẦN LƯU THÔNG
Phật bảo: A Nan ! Giả sử có người đem thất
bảo đầy ngập hư không cùng khắp mười phương dâng cúng chư Phật nhiều như
số vi trần, mà tâm không lúc nào xao lăng, ư ông nghĩ thế nào ? Người đó
do nhân duyên cúng dường Phật như thế, phước đức có nhiều chăng ?
Ông A Nan thưa ! Bạch Thế Tôn ! Hư không
vô tận, trân bảo không cùng. Như lời Phật dạy, ngày xưa có chúng sanh cúng
Phật chỉ có bảy đồng tiền, vậy mà khi xả thân c̣n được phước báo làm
chuyển luân vương, huống nữa trân bảo vô lượng, cúng dường chư Phật vô
lượng khắp mười phương th́ dùng trí mà suy nghĩ cùng tột, ức kiếp cũng
không thể thấu được, v́ phước đức ấy không có ngằn mé !
Phật bảo: A Nan ! Chư Phật Như Lai lời nói
không hư vọng, giả sử có người gây đủ các tội: Tứ trọng, thập ác, giây lát
phải trải qua địa ngục A tỳ phương nầy sang phương khác cho đến cùng khắp
các địa ngục vô gián trong mười phương, nhưng nếu người đó cùng một niệm
đem pháp môn nầy truyền bá cho người chưa học trong đời sau th́ tội chướng
người đó liền được tiêu hết, biến cái nhân phải chịu khổ ở địa ngục thành
cái nhân sanh về cơi an lạc, Niết bàn, được phúc vượt hơn người bố thí
cúng dường trước kia trăm ngàn lần, muôn ức vạn lần cho đến không thể dùng
toán số so sánh, không thể có ngữ ngôn nói hết được.
Đức Thế Tôn nói kinh nầy rồi, các vị Tỳ
kheo, Tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, tất cả Trời, Người, A tu la, các vị
Bồ tát, Nhị thừa, Thánh Tiên, đồng tử và các đại lực quỷ thần mới phát
tâm, đều rất vui mừng lễ Phật mà lui.
HẾTTop
PHẦN PHỤ LỤC
QUẢ VÔ THƯỢNG NIẾT BÀN CỦA NHƯ LAI CHỈ LÀ KẾT QUẢ CỦA QUÁ TR̀NH ĐẤU TRANH
VỚI DỤC VỌNG
VÀ CHIẾN THẮNG HOÀN TOÀN BỌN GIẶC CƯỚP PHIỀN NĂO VÔ MINH
I. - MUỐN HIỂU NIẾT BÀN
TRƯỚC
HẾT CẦN ĐIỀU CHỈNH NHỮNG
QUAN NIỆM NGỘ NHẬN VỀ NIẾT BÀN
Niết bàn là một mục tiêu đạt đến của người
đệ tử Phật hiếu học, ham tu. Ngộ nhận Niết bàn cũng tức là ngộ nhận mục
tiêu mà ḿnh muốn đến. Cho nên người đệ tử Phật muốn hiểu Niết bàn, trước
hết cần điều chỉnh những quan niệm ngộ nhận Niết bàn.
* Có người quan niệm Niết bàn là một cảnh
giới cách xa với quả địa cầu mà con người đang sanh sống.
Đức Phật và các hàng đệ tử Thanh văn,
Duyên giác, Bồ tát đều có được Niết bàn ở trên mặt đất nầy. Điều đó nói
rất rơ: Rằng Niết bàn không phải là một cảnh giới ở xa.
* Có người hiểu Niết bàn là cảnh giới siêu
nhiên, cảnh giới đó không có không gian và thời gian.
Hiểu như vậy thật rất lạ kỳ! Không có
không gian, không có thời gian th́ sao gọi là "cảnh giới" nhỉ! Cho nên
Niết bàn không phải là "cảnh giới" lạ kỳ đó.
* Có người quan niệm rằng: Niết bàn là
cảnh giới tuyệt đối. Không thể dùng trí của con người mà khái niệm.
Nói như vậy nghe không ổn. Không thể dùng
trí của con người khái niệm, vậy "cảnh giới tuyệt đối Niết bàn đó có" để
làm ǵ ? Nó sẽ phục vụ cho ai, khi con người không thể khái niệm ?
Tệ hơn hết là hạng người cho rằng Niết bàn
vẫn c̣n dục vọng ái ân, t́nh tứ cho nên họ vắt óc nặn ra cái quái thai
"Niết bàn rực cháy" với cốt truyện nhố nhăng, dụng ư bôi bác Niết bàn
Phật.
Đó là những nhận thức sai lầm đă có, đang
có và măi măi sẽ c̣n có.
II. - HIỂU ĐÚNG NGHĨA NIẾT
BÀN
MỚI T̀M THẤY VÀ BIẾT ĐƯỢC
NIẾT BÀN
Niết bàn không phải là một cảnh giới, bất
cứ với dạng cảnh giới nào.
Niết bàn sẽ không có ở đâu hết, nhưng Niết
bàn cũng sẽ ở tất cả mọi nơi chốn. Niết bàn có, hay không có, tùy thuộc ở
con người, chớ không do cảnh Niết bàn có, hay không có.
Bởi v́, Niết bàn là ǵ ?
Niết bàn là dịch âm của chữ NIRVANA, chữ
Phạn. Với cái âm NIRVANA cho nên có nhà Phật học dịch là Niết bàn na.
Ư nghĩa của chữ Niết bàn, luận Bà Sa định
nghĩa:
NIẾT có nghĩa là ra khỏi. BÀN có nghĩa là
rừng ngũ uẩn. Ra khỏi rừng ngũ uẩn là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là dệt. Không dệt thêm
phiền năo là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là hậu hữu. Không c̣n
hậu hữu là có Niết bàn.
NIẾT là xa ĺa. BÀN là ràng buộc. Xa ĺa
sự ràng buộc là Niết bàn.
NIẾT là vượt qua. BÀN là khổ nạn. Vượt qua
hết khổ nạn là Niết bàn.
Theo Kinh Đại Niết Bàn định nghĩa:
NIẾT là không. BÀN là phiền năo che
chướng. Không phiền năo che chướng là Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là tham tài. Không tham
tài là Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là tham sắc. Không tham
sắc là Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là tham danh. Không
tham danh là Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là tham lợi. Không tham
lợi là Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là sân nộ. Không sân nộ
là Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là si ám. Không si ám
là Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là mạn. Không mạn là
Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là do dự trước lẽ phải,
điều thiện. Không do dự trước lẽ phải, điều thiện là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là nhận thức sai chơn
lư. Không nhận thức sai chơn lư là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là phẫn nộ. Không phẫn
nộ là Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là hờn mát. Không hờn
mát là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là che giấu tội lỗi.
Không che giấu tội lỗi là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là rầu rĩ. Không rầu rĩ
là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là ganh ghét. Không
ganh ghét là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là keo kiết. Không keo
kiết là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là lừa đảo. Không lừa
đảo là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là dua nịnh. Không dua
nịnh là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là hăm hại. Không hăm
hại là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là kiêu căng. Không
kiêu căng là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là không biết tự hổ với
lương tâm. Không có cái tánh không biết tự hổ với lương tâm là có Niết
bàn.
NIẾT là không. BÀN là không biết nhục
trước người khác. Không có tánh không biết nhục trước người khác là có
Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là hấp tấp, vội vă.
Không hấp tấp, vội vă là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là ám độn, đờ đẫn.
Không ám độn, đờ đẫn là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là không có đức tin.
Không có cái không có đức tin là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là lười biếng. Không
lười biếng là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là buông lung ba
nghiệp. Không buông lung ba nghiệp là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là quên hết, đầu óc
trống rỗng. Không có quên hết, đầu óc trống rỗng là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là nghĩ ngợi lăng xăng.
Không nghĩ ngợi lăng xăng là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là hiểu biết không
đúng. Không hiểu biết không đúng là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là mừng thái quá. Không
mừng thái quá là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là giận. Không có giận
là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là thương thái quá.
Không thương thái quá là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là sợ sệt. Không sợ sệt
là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là yêu thái quá. Không
yêu thái quá là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là ghét. Không ghét là
có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là ham muốn. Không ham
muốn là có Niết bàn.
Lại nữa, chữ Niết bàn c̣n được dịch là:
VIÊN TỊCH, DIỆT ĐỘ, BẤT SANH, TỊCH DIỆT, AN LẠC, GIẢI THOÁT.
VIÊN TỊCH có nghĩa là vô lượng công đức
lành đều viên măn, vô lượng phiền năo đều vắng lặng.
DIỆT ĐỘ có nghĩa là diệt hết mọi người
nguyên nhân sanh tử, ưu bi, khổ năo, và vượt qua các khổ năo, sanh tử, ưu
bi ấy.
BẤT SANH nghĩa là thể nhập được chân lư
bất sanh của hiện tượng vạn pháp.
TỊCH DIỆT có nghĩa là đă diệt hết cái quan
niệm sanh diệt của hiện tượng vạn pháp.
AN LẠC nghĩa là luôn luôn ở trong trạng
thái tịnh lạc khinh an.
GIẢI THOÁT có nghĩa là cởi bỏ hết phiền
năo, xa ĺa hết các buộc ràng.
NIẾT BÀN có nhiều ư như vậy. Tuy nhiên, ư
nghĩa của Niết bàn dù diễn đạt chi li hay xúc tích khái quát, người đệ tử
Phật vẫn hiểu đó là đức GIẢI THOÁT trong ba đức: PHÁP THÂN, BÁT NHĂ và
GIẢI THOÁT của một đấng Thế tôn.
III. - NIẾT BÀN KHÔNG PHẢI
LÀ MỘT CẢNH GIỚI
DÀNH ĐỂ CHO MỘT HẠNG NGƯỜI
Như ta đă biết, Niết bàn chỉ là kết quả
của sự đấu tranh và chiến thắng. Mà đấu tranh th́ có thể tích cực hoặc
chưa tích cực. Chiến thắng cũng có thể toàn diện hoặc cũng có thể c̣n đang
trên đà chiến thắng. Do vậy mà quả Niết bàn có bốn bậc khác nhau.
1/- TỰ TÁNH BẢN LAI THANH
TỊNH NIẾT BÀN
Giáo lư của đạo Phật dạy rằng: Tự tánh của
con người vốn thanh tịnh. Tánh thanh tịnh đó được gọi là Niết bàn. Và Niết
bàn chính là cái tự tánh bản lai thanh tịnh đó.
Phật dạy rằng: Con người có thể có phiền
năo, bị phiền năo tác động hoành hành, khi con người mất tự chủ, quên cảnh
giác đối với cái tâm thanh tịnh vốn có của ḿnh. Dù vậy phiền năo có đến
rồi phải đi, ví như khách, tung lên rồi phải lắng xuống, ví như trần.
Phiền năo đối với tự tánh bản lai thanh tịnh Niết bàn của con người, chúng
chỉ là thứ "khách trần" mà thôi.
2/- HỮU DƯ Y NIẾT BÀN
Do công phu tu tập, đấu tranh với dục
vọng, hóa giải từng phần lượng phiền năo vô minh mà có được Niết bàn, tức
là có được sự thanh tịnh tự thân tâm, sự khinh an, giải thoát mọi khổ đau,
ràng buộc trong cuộc sống của đời ḿnh. Được sự khinh an, giải thoát của
Niết bàn mà cái thân hữu lậu hăy c̣n vẫn là chỗ sở y cho ḍng sinh mệnh,
gọi đó NIẾT BÀN HỮU DƯ Y.
3/- VÔ DƯ Y NIẾT BÀN
Diệt phiền năo vô minh, chiến thắng liệt
oanh với dục vọng, hiện đời đă được Niết bàn, các nguyên nhân hữu lậu ở
đời sau cũng cắt đứt và cái thân sở y của ḍng sinh mệnh cũng chết mất đi
không c̣n hiện hữu, gọi đó là NIẾT BÀN VÔ DƯ Y.
4/- VÔ TRỤ XỨ NIẾT BÀN
Thứ Niết bàn nầy ở mọi chốn nơi, ở mọi
hoàn cảnh, ở ngay trong sanh tử mà không rời Niết bàn.
Người nhị thừa, tức hàng Thanh văn, Duyên
giác chỉ chiến thắng được "phiền năo chướng" mà có được Niết bàn, cho nên
ham trụ Niết bàn mà chán sợ sinh tử.
Phật quả, ở địa vị Phật chiến thắng hoàn
toàn "phiền năo chướng" và tiêu trừ tận gốc rễ "sở tri chướng". Cho nên
dùng Phật nhăn mà quan sát th́: phiền năo tức Bồ đề, sanh tử tức Niết bàn.
V́ Niết bàn ở trong sanh tử làm lợi lạc cho chúng sanh mà không chánh sanh
tử, cũng không ham trụ Niết bàn, gọi đó là NIẾT BÀN VÔ TRỤ XỨ.
Qua nhận thức trên ta thấy Niết bàn chỉ là
kết quả của quá tŕnh đấu tranh với dục vọng và chiến thắng từng phần đối
với những thứ giặc phiền năo vô minh. Chừng nào diệt trừ tận gốc rễ phiền
năo, chiếu phá hoàn toàn sạch hết bóng tối vô minh thành tựu quả Đại Giác
Thế Tôn, bấy giờ mới long trọng tuyên bố: Rằng Như Lai đă chứng đắc QUẢ
NIẾT BÀN VÔ THƯỢNG.
TRỌN BỘTop
Viết tại HUỲNH MAI TỊNH THẤT
Ngày 20 tháng 12 năm 1990
THÍCH TỪ THÔNG
|