|
Nhà
tôi ở ngay lằn ranh giữa thành phố và vùng ngoại ô, nên cây trụ đèn
đường trước nhà tôi là cái cuối cùng trên con đường mở ra hai bên
những đồng ruộng mênh mông, sau khi qua những dăy nhà thưa thớt dẫn
dài từ trung tâm thành phố. Không biết cây trụ đèn được dựng
lên từ lúc nào nhưng năm khai sanh ra nó được đúc nổi trên mặt xi
măng sù ś những ḥn đá cuội: 1936. Như vậy khi nó ra đời th́ má tôi
mới về ở với ba tôi được hai năm cùng lúc người chị lớn của tôi cất
tiếng khóc đầu tiên. Không biết có phải v́ là cái cuối cùng trên con
đường hay không mà nó cao lớn hơn những cây trụ đèn khác. Trông nó
chắc chắn và vững chải với phần chân trụ vuông to bè ra phía dưới và
phần xi măng nằm âm dưới đất để giữ vững nó chiếm một khoảng khá lớn
chung quanh.
Thuở c̣n học tiểu học, những đêm không mưa và
trời nóng, tôi thường cùng với thằng em chơi đánh đáo trên phần xi
măng nầy. Sau đó, khu xóm được kéo dài ra với những căn nhà mới nối
tiếp, anh em tôi phải ngưng lại cái thú vui nầy v́ khoảnh xi măng đó
đă bị các quày con bày bán chuối nướng, bắp rang, bánh phồng, …
chiếm cứ. Và có lẽ v́ cần có ǵ nhai cho đỡ buồn trước khi đi vào
bóng tối khu ngoại ô mà những bộ hành có nhà trong khu vực mới không
có đèn đường vô t́nh làm cho những quày bán hàng nầy càng ngày càng
phát đạt. Thú vui duy nhất ban đêm của anh em tôi đành phải gác lại…
vô hạn kỳ. Cuộc sống tuổi nhỏ của tôi b́nh thường trôi dần cùng với
lớp xi măng trên cây trụ đèn ṃn đi để trơ ra lởm chởm lớp đá cuội
nằm ẩn bên trong. Đời tôi cũng được mài nhẳn đi với cuộc chiến đang
đến hồi khốc liệt…
Sau cái Tết Mậu Thân 1968, thời điểm mà chiến
tranh về ngay thành phố không c̣n là cái ǵ xa xôi mà người ta mường
tượng qua những tiếng nổ ́ ầm của những viên đại bác nhờ gió đưa về
hay tiếng trực thăng tành tạch từ khu phi trường rời đi cho những
chiến trường đâu đó, lúc ấy Hải đến. Hải đến ở cạnh nhà tôi cùng với
bà mẹ quá già cho những lần di chuyển để định cư bất đắc dĩ như thế
nầy. Hải lớn hơn tôi một tuổi. Hải ở tận ngoài Huế trước khi dọn về
đây.
Cuộc di cư năm 1954 làm cho gia đ́nh Hải mất
đi người cha khi vào tới Huế, và cuộc di cư lần nầy người chị của
Hải cũng vĩnh viễn vắng mặt khi xác thân c̣n kẹt lại đâu đó trong
các hầm chôn người tập thể. Bà mẹ của Hải như c̣ng xuống dưới những
khổ đau chia ly chồng chất, rời quê, mất chồng, mất con, có lúc
trông bà ngẩn ngơ như từ một thế giới nào lạc tới. Bà c̣n sống nỗi
là điều không ai có thể ngờ tới cho sức chịu đựng của bà, phải có
một cái ǵ thiêng liêng lắm nằm ẩn trong người đàn bà nhỏ thó kia để
bà c̣n tiếp tục nhận khí trời khi những kinh hoàng cứ liên tiếp tấn
công bà đến ngạt thở. C̣n lại hai mẹ con sau những mất mát khủng
khiếp, bà dồn hết yêu thương và khả năng bương bả c̣n lại để lo cho
Hải. Hải sống ngợp trong sự yêu thương của bà bù cho những tháng năm
lao đao tuổi nhỏ Hải ngập ch́m trong tàn nhẩn.
Ba ngày sau khi dọn tới, tôi quen và thân với
Hải. Địa điểm gặp nhau đầu tiên của chúng tôi là khoảnh xi măng dưới
cây trụ đèn trước nhà. Giới nghiêm sau biến động Mậu Thân đă làm tan
hàng những quày con đang hồi phát đạt một cách bất đắc dĩ không ai
ngờ tới, trả lại cho tôi khoảnh xi măng trống vắng thê lương. Hải
nhờ ánh đèn đường để học bài. Khoản tài chánh c̣m cơi mà mẹ Hải nhận
được từ các quỹ cứu tế không đủ cung cấp khoản dầu để đốt đèn ban
đêm. Hải phải nhờ ánh đèn đường để lấy nốt cái bằng Tú tài hai sau
khi ghi danh tiếp tục tại trường tôi, cùng lớp nhưng khác ban với
tôi.
Bất chấp những bàn tán xầm x́ về “con mẹ Bắc
kỳ di cư” cùng “thằng nhỏ Bắc kỳ” của những cái miệng xấu tánh ở
chung quanh, tôi đến và làm quen với Hải. Hải cũng khá ngạc nhiên
với thái độ “tiên phong” nầy của tôi sau những lần cô đơn chịu đựng
cái tánh kỳ thị địa phương của những người cố chấp tại đây. Tôi cười
vă lă: “Anh coi, những người Pháp đă làm một cây trụ đèn chắc chắn
thế nầy đả biết ư định cắm dùi lâu dài trên đất nước ḿnh của chúng
như thế nào rồi. Vậy th́ đừng ngạc nhiên khi thấy người ḿnh mang
nặng đầu óc kỳ thị địa phương mà chúng đă ‘trồng’ từ lâu đồng điệu
với cây trụ đèn. Thế hệ của ḿnh là phải bắt tay vào phá vỡ nó đi,
c̣n nó là không khá được”. Hải chỉ cười đồng t́nh và nụ cười thật
tội nghiệp.
Tôi và Hải đi tới chỗ thân nhau, đi học và về
hai đứa chờ nhau cùng đi. Hai gia đ́nh nhờ đó mà quen thân dần. Tôi
và Hải thường qua lại nhau chơi và nhờ vậy tôi mới biết ăn bún riêu
c̣n Hải th́ quen dần với thức ăn có giá sống. Cái nơi gặp nhau lư
tưởng của tụi tôi vẫn là cây trụ đèn, mỗi đêm. Hải trầm người, ít
nói, nhưng những lúc ngồi chung với tôi dưới cây trụ đèn Hải thường
đưa ra những câu hỏi huyên thuyên, những câu hỏi mà tôi chắc mẽm là
Hải đă có sẵn câu trả lời.
- Tại sao nước
ḿnh không khá được nhỉ?
- Chiến tranh.
- Tại sao lại có
chiến tranh?
- V́ họ muốn chiến
tranh và đó là phương tiện duy nhất để khuynh đảo hầu áp đặt chế độ
mà họ cho là hợp lư nhất.
- Tại sao trong
khi từng huênh hoang là mưu cầu hạnh phúc mà họ lại phát động chiến
tranh nhỉ?
- Đó là điều
nghịch lư của họ và tôi chắc họ trăm phần trăm biết rơ cái nghịch lư
nầy trong chủ trương của họ nhưng họ vẫn làm, vẫn tiến tới v́ cái
nhu cầu bạo hành trong máu của họ…
Tôi đă chỉ cho Hải xem những dấu đạn ghim lổ
chỗ trên thân cây trụ đèn trong kỳ Tết Mậu Thân vừa qua.
- Chiến tranh mà họ phát động đă
đến trong thành phố nầy. Điều nghịch lư của họ cũng được đưa đến tận
chỗ nầy, chỗ ḿnh đang ngồi một cách thoải mái hiện giờ và vết tích
nghịch lư đó c̣n ghi trên kỷ vật thuộc địa kia. Có một điều là anh
có thấy những vết nâu xậm c̣n in trên cây trụ đèn nầy không? Đó là
vết máu của anh lính Biệt Động khi đến giải tỏa khu ḿnh ở. Anh ấy
đă chết tại chỗ nầy với 5 viên đạn ghim trên lưng. Máu của anh văng
tung tóe trên thân cột. Tại đây ghi dấu ba điều mà người ḿnh đă và
đang gánh chịu: thực dân, cộng sản và sự hy sinh v́ sự sống c̣n và
tự do của một dân tộc. Sau nầy có người cố rửa những vết máu đó
nhưng không được. Một số người yếu vía vẫn thường cho rằng hằng đêm
họ thấy bóng một người lính Biệt Động lảng vảng nơi đây như t́m kiếm
một cái ǵ. Không, ḿnh cho rằng anh lính đó không “mất” thứ ǵ cả,
sở dĩ anh “trở lại” tại v́ anh muốn một điều, đó là giải quyết chiến
tranh. Chiến tranh chưa giải quyết và anh ấy cần người để tiếp nối
hộ anh…
- Ư của cậu là…
- Tham gia trong nó để giải quyết
lấy nó, thứ chiến tranh món hàng của những tên đồ tể lớn thích những
tṛ chơi bạo hành. Và ḿnh cho rằng phải lấy bạo lực để đối với bạo
lực. Đừng nhẩn nha ơ thờ như một số người ḿnh hiện giờ và cũng đừng
ḥng vuốt ve mơn trớn họ, những kẻ chứa đầy nghịch lư và bạo hành,
họ đă bắt buộc chúng ta phải đối đầu với giải pháp c̣n lại duy nhất:
lấy bạo lực chọi bạo lực…
Không biết trong đầu Hải nghĩ ǵ về lời phát
biểu khá “bạo phổi” của tôi và tôi thấy Hải suy nghĩ lung lắm. Cũng
kể từ đó Hải không c̣n đặt câu hỏi nữa. Những câu hỏi chứa sẵn câu
trả lời h́nh như đă thay đổi h́nh thức và đang loay hoay trong cái
đầu “húi cua” kia theo một phương thế nào đó, khác hẳn trước, tôi
chắc như vậy.
Sau khi lấy xong cái Tú tài hai “mắc dịch”,
không chờ tụi tôi phân vân trước các phân khoa đại học với những cái
tên nghe quyến rũ, bảng “phong thần” tổng động viên được giơ lên cao
tại Quảng Trị. Tôi và Hải đều phải nhập ngũ. Hải hăm hở nhào qua bàn
với tôi: “Tớ với cậu nên chọn vừa chơi ‘văn’ vừa chơi ‘vơ’ với tụi
nó đi. Vừa bắn súng vừa lư giải cho tụi nó nghe, để trước khi chết
tụi nó c̣n mở mắt thấy cái thiên đàng của tụi nó chỉ trần truồng là
một địa ngục. Trước khi chết mà biết ḿnh ngu th́ khỏi phải than
phiền ǵ hết với… diêm vương. Đồng ư chứ?”.
Tôi chịu quá về cái màn phát biểu nầy của Hải
và hai đứa cùng ôm gối lên Đà Lạt để “mài gươm dũa bút” trong một
khóa hai năm về chính trị. Hai năm quá ít cho chương tŕnh huấn
luyện, nhưng quá dài cho một thực tế hỡi ơi mà tụi tôi gặp phải sau
khi ra trường ở các đơn vị với các đơn vị trưởng cũng hỡi ơi không
kém.
Vài ngày trước khi đi mẹ Hải đă tức tưởi qua
gặp tôi, cho tôi hay một sự thật điếng người:
- Chết rồi cháu ơi, thằng Hải nó
đi lính, bác phải làm sao đây?
- Có ǵ đâu bác, đâu phải ai vào
lính là cũng chết cả đâu.
- Không phải cháu ơi, Hải nó c̣n
một thằng anh c̣n kẹt lại ngoài Bắc, nghe tin là nó đă vào bộ đội và
đă vào Nam rồi. Bác sợ rằng anh em nó sẽ giết nhau mất.
Tôi có hỏi Hải về việc nầy, Hải chỉ buồn và
trầm giọng nói với tôi:
- Rất có thể tớ sẽ gặp anh của tớ
ở chiến trường đâu đó, trong một góc núi hay ở một b́a rừng mà định
mệnh sẽ sắp đặt cho tớ. Nhưng thú thật định mệnh cũng đă cho tớ thấy,
bằng một thứ xếp đặt tàn nhẩn cho cuộc đời của tớ: Cảnh cha của tớ
bị đấu tố cùng vài chục người nữa trong làng, cảnh chị tớ cùng hàng
ngàn người khác bị chôn sống, cảnh người chết như rạ trong những
ngày đêm không ai ngờ rằng tử thần có thể gơ cửa cùng một lúc đông
đến như vậy… Tớ không muốn chạy trốn. Nói như cậu, tớ muốn giải
quyết chiến tranh… Hoàn cảnh và gia thế hiện giờ của tớ, cái bản
tổng động viên kia chưa đụng đến tớ được, nhưng tớ chọn…
Ngày tôi và Hải vác hành lư ra bến xe đ̣ để đi
đến Sở Động viên, bà mẹ Hải đi theo để tiển hai đứa tôi, nước mắt bà
ướt dài từ nhà cho đến bến xe và cũng có thể từ đó về đến nhà khi xe
chở hai đứa tôi lăn bánh. Trên đôi vai gầy yếu của bà gánh nặng được
chồng thêm hai lần: lo cho Hải và viễn ảnh hai anh em Hải gặp nhau
trên chiến trường. Bao nhiêu bà mẹ Việt Nam đă trải dài những chịu
đựng trong suốt cuộc đời ḿnh như mẹ Hải đă được mọi người biết tới.
Có thống kê nào không cho những nghiệt ngă nầy? Chỉ có yên lặng và
hửng hờ. Tàn nhẩn đă vượt qua tuyến cuối cùng của nó trong ư nghĩa
mà người ta không thể mường tượng được…
Sau khi ra trường Hải chọn đơn vị ở miền Trung,
c̣n tôi biệt phái về Tiểu khu nhà phụ trách về chiến tranh chính trị
trong các tiểu đoàn tác chiến. Chia tay nhau sau khi hết phép măn
khóa, từ đó chúng tôi ít gặp nhau hơn. Nản v́ công tác có bằng ấy:
rải truyền đơn, sinh hoạt với lính đă mệt nhoài sau chuyến hành quân
(chính tôi cũng thở không ra hơi) và báo cáo, hết. Tôi xin chuyển
qua tác chiến. Thực sự tôi không chịu đựng nỗi với những công tác mà
người ta giao phó cho tôi. Có bao nhiêu đó thôi sao sau một khóa
huấn luyện đầy khó nhọc trong hai năm? Và c̣n những lỉnh kỉnh mắc
dịch khác mà ông đơn vị trưởng của tôi, thoát thân từ những đơn vị
lê dương nào đó của Pháp, chả hiểu t́nh h́nh phức tạp hiện giờ ngoài
cây súng, giao cho tôi những chuyện động trời khác ngoài những công
tác chính thức do văn thư ấn định. Tôi xin chuyển đơn vị và xuất
ngành, cùng lúc ở ngoài Trung, Hải cũng làm giống như tôi. Một lần
tôi về phép th́ gặp Hải. Lúc ấy Hải phải chống nạn v́ “ḿn làm chân
Hải… rung rinh”, Hải cười x̣a bảo với tôi như thế. Chúng tôi vẫn kéo
ra ngồi dưới chân cây trụ đèn để nói chuyện, ban đêm.
- Tớ vẫn chưa gặp được anh tớ, tớ
chắc như vậy. Hải nói thật nhẹ với tôi. Sau mỗi lần đụng nhau tớ vẫn
cố gắng nh́n mặt từng cái xác của chúng để lại trên chiến trường. Tớ
linh cảm chưa có khuôn mặt của anh tớ trong đó. Phần đông đều rất
trẻ, cậu biết không, chúng chỉ trạc thằng em út của cậu thôi. Ḿnh
nghe cay đắng quá chừng. Thế hệ đàn em của ḿnh rồi cũng bị chúng
nướng sạch trong cuộc chiến tranh được khích động bằng giai cấp của
chúng như thế nầy. Đó là điều phủ phàng nhất mà ḿnh phải chịu đựng
thực sự như vết đạn và vết máu trên cây trụ đèn nầy…
Chẳng có ǵ phải che phủ, mọi điều được bốc
trần đến tận lơi trong trận chiến càng ngày càng khốc liệt mà tôi và
Hải ch́m hút trong đó. Hậu phương sau lưng chúng tôi trần trụi những
thờ ơ, những tệ hại, những thụ hưởng, những kệch cỡm, những bệnh
hoạn… dấy lên bất chấp máu đồng đội chúng tôi tưới xuống trên những
chiến trường mà địa danh nghe lạ hoắc. Ngày người lính cuối cùng của
đơn vị được gọi là đồng minh bước lên máy bay vẫy tay giả từ nơi
chốn mà họ gọi là địa ngục, cũng là ngày máu tưới xuống nhiều hơn
trên những chiến trường tồi tệ. Máu của những con người mà số phận
hẩm hiu của họ bị định đoạt bởi những con số trong khoảng viện trợ
bị cắt giảm tối đa để làm tṛn trịa hơn động từ phản bội. Hải gửi
lại chiến trường một cánh tay, và chiến trường tặng tôi một viên đạn
nằm sát xương sống trong những giờ phút của miền Nam lên cơn hấp hối.
Trên giường bệnh trong quân y viện tôi nghe
hơi thở tôi lịm dần mệt mỏi. H́nh như bước chân trở về của người
lính Biệt Động quân t́m lại vết máu ḿnh trên cây trụ đèn quê tôi
làm tim tôi từng hồi buốt cóng. Và có lẽ ở một quân y viện xa xôi
nào đó Hải cũng mang một trạng thái như tôi, trạng thái của trái tim
vỡ tung ra từng mảnh vụn ngang trời…
Sau 30.4.1975, tôi và Hải gặp nhau một lần
trước khi bị lùa vào trại được gọi bằng cái tên nghe vô tội vạ: Trại
cải tạo. Lúc ấy, mặt Hải xanh tái v́ mất khá nhiều máu cho cánh tay
đă cụt, vẫn c̣n thoáng nụ cười tội nghiệp năm nào, nhíu mắt nh́n tôi
khẽ giọng:
- Mọi người đều lầm, kể cả tụi nó,
là trận chiến chấm dứt. Không. Nó sẽ tái diễn khốc liệt hơn v́ không
c̣n tương nhượng trong lúc mà tự do, dù là tự do để thở, bị tước
đoạt tàn nhẩn đă nh́n thấy quá rơ ràng. Rồi cậu sẽ thấy.
Và tôi đă thấy. Người anh của Hải xuất hiện
không phải để gặp Hải trên chiến trường mà để bảo lănh cho Hải ra
khỏi trại. Hải từ chối. Tháng sau Hải trốn trại. Không ai biết Hải
đi đâu, làm ǵ. Hải loáng thoáng qua những tin đồn truyền miệng mà
mức độ chính xác được đánh giá bao nhiêu không ai đoán nỗi. Tôi càng
mù mờ hơn về chuyện của Hải bởi những lớp hàng rào của trại cải tạo
và tịt luôn khi chung quanh tôi là bốn bức tường lạnh ngắt bóng tối
xà lim.
Năm năm sau tôi trốn được. Lang thang lên Sài
G̣n với mớ giấy tờ giả, đạp xe ôm độ nhựt qua ngày, tôi bổng gặp lại
Hải một cách không ngờ. Hải trông già dặn hơn nhiều và có vẻ khắc
khổ của con người nội tâm bất an. Kéo tôi vào một quán vắng, ch́a
cho tôi bao thuốc Thái Lan, Hải vừa châm thuốc cho tôi bằng cánh tay
c̣n lại vừa th́ thầm:
- Rất mừng khi thấy cậu thoát,
lâu chưa?
- Hơn hai tháng.
- Ḿnh đang hoạt động chắc là
không gặp cậu thường và lâu được. Có dự tính ǵ không?
- Định chuồn đây.
- Ra ngoài à?
Tôi gật đầu. Hải ngồi yên lặng hồi lâu, mặt đăm
chiêu, sau cùng vỗ vai tôi:
- Cũng hay đấy, ở ngoài ấy cậu sẽ
có hoàn cảnh thuận tiện hơn và phương tiện cũng đầy đủ nữa, ở đây
ḿnh bị giới hạn khá nhiều nhưng ḿnh chọn ở lại. Quen rồi. Cận
chiến h́nh như là nghề của ḿnh, ḿnh khoái như vậy…
Sau đó tôi không có dịp gặp lại Hải cho tới
lúc người bà con giúp đỡ tôi bước xuống ghe làm chuyến… lưu vong.
Chiếc ghe đưa tôi đi vào thế giới mà tôi có cảm giác là bất an cho
chính tôi dù nơi tôi đến mọi thứ tự do đều được tôn trọng, kể cả tự
do… quên. Cái bất an của tôi không phải bắt nguồn từ những đe dọa
nào đó trên xứ sở vốn an lành nầy, mà là h́nh ảnh Hải. Ở đây tôi học
thêm một thứ tự do nữa là tự do gục mặt. H́nh ảnh của Hải là chút
lương tâm tối thiểu mà tôi phải nh́n nhận khi ch́m ngập trong thứ tự
do nầy. Áo cơm, xe cộ, việc làm, nhà cửa, tiện nghi, trả góp,… đă
quất sụm tôi lúc chân tôi chưa ráo nước biển Thái B́nh. Vuốt ve nỗi
bất an ấy tôi chỉ biết mỗi một điều chen chân trong một hội đoàn nào
đó, hoan hô đả đảo khàn hơi, chống cộng cuối tuần rồi cuối cùng… ai
về nhà nấy. Lâu lâu tôi lại tự tỉ tê với ḿnh rằng chưa làm ǵ được
trước cảnh phân hóa, đố kỵ và thờ ơ cố hữu của người ḿnh, đành phải…
chờ vậy. Và cuối cùng cho đến một ngày không mấy sáng sủa cho lắm ở
nơi chốn vốn ghét âm u nầy, tôi bổng nhận được thư đứa em gái tôi.
Thư gửi tới không từ Việt Nam, mà từ Mă Lai, ở một trại tị nạn nào
đó, cho tôi cái nỗi vui là có thêm một người thân đă thoát, nhưng
cái buồn úp chụp lấy tôi v́ những lời điếng người nó viết trong thư:
“… Anh c̣n nhớ anh Hải không, anh ấy đă bị bắt.
Không biết ảnh bị bắt ở đâu mà bị đem về xử ở xóm ḿnh. Người ta
trói ảnh ngay cây trụ đèn đường trước nhà ḿnh, xử cho tới chiều hôm
ấy và sau cùng bắn anh ấy tại đó. Bà bác không được nhận xác anh Hải
dù có sự can thiệp của người anh của anh Hải. Không biết họ chôn anh
Hải ở đâu. Tội nghiệp bà bác ngất xỉu không biết bao nhiêu lần mà
nói. Tội quá anh nhỉ…”.
Tim tôi cơ hồ không c̣n thuộc về tôi nữa, nó
vỡ vụn và tan biến đi đàng nào rồi. Nhịp thở cũng lơi đi, hụt hơi.
Hải bị bắn. Chết. Tôi hụt hẩng hoàn toàn trong cảm giác đắng cay mà
thần kinh tôi c̣n nhận được. Người tôi lịm dần trong cơn lốc mịt mù
quay với tốc độ kinh khủng trong đầu. Ư thức tôi vụt trôi đi biền
biệt, chỉ c̣n duy nhất một điều mà tôi c̣n cảm nhận: vết máu Hải
trên cây trụ đèn 1936. Thư của em gái tôi không nói ǵ thêm về Hải
nhưng tôi biết trước khi nhận đủ những tràng đạn của lủ quỷ, Hải đă
cười. Ôi cái cười của Hải nó ư vị biết chừng nào, bởi nó làm sống
lại cơ hồ cả một dân tộc, một dân tộc yêu tự do với truyền thống bất
khuất. Thân xác Hải bị vùi dập đâu đó trong ḷng đất quê nhà, và tôi
biết chắc rằng Hải sẽ trở về lẩn quẩn quanh cây trụ đèn nh́n lại vết
máu của chính ḿnh và những người yếu vía sẽ thấy Hải thẩn thờ t́m
kiếm một cái ǵ giống như anh lính Biệt Động khi xưa. Nhưng ai có
biết đâu rằng Hải đang nóng ḷng chờ đợi những thằng đốn mạt như tôi
đang tập tành cái thứ tự do quên, tự do cúi mặt ở xứ người.
Nguyễn Trăi 2
Nguyễn Ngọc
Mạnh
|