|
Lời tác giả:
Đây là những mẩu chuyện thật trong thời gian cải tạo được kể lại vắn
tắt. Sự chủ quan là điều khó tránh; bởi khi nhớ lại những xúc cảm
vẫn c̣n nguyên vẹn, mong người đọc thông cảm nếu có điều không vừa
ư. Xin đa tạ.
ỗi một người tù cải
tạo, dù chỉ trong một quăng thời gian ngắn cũng đă có biết bao điều
để kể. Với tôi, gần 9 năm tù, trong đó đă 5 năm đọa h́nh trên đất
Bắc từ Yên Bái (Hoàng Liên Sơn) đến trại Phong Quang (Lào Kay) rồi
trại Vĩnh Quang A (Vĩnh Phú), đến giữa 1982 chuyển về trại Xuân Lộc
Z30A, cuối 1983 mới được thả về.
C̣n nhớ khoảng
1978, trên đất Bắc, trong một đợt kiểm tra sức khoẻ, đoàn y tế đến
trại Phong Quang, hầu hết mọi người tù chỉ cân nặng khoảng 34 đến 36
kư, tương đương trọng lượng của những con khỉ đói trên rừng, nhưng
trên hồ sơ họ ghi rước mặt người tù đều 45 kư. Người tù chịu rất
nhiều áp lực: từ cực nhọc v́ lao động khổ sai đến căng thẳng tinh
thần khi kiểm điểm. Một số “có chức tự quản” muốn sớm về nên tận
t́nh lấy điểm với công an quản giáo. Một ít chó săn ăng-ten báo cáo
mật nữa. Thật vô cùng khốn khổ trong tâm trạng phải bất chợt xa ĺa
vợ con, bị đẩy vào rừng sâu đoạ đầy mà ngày về là một màu đen mờ mịt…
Mỗi một niềm đau
là một hố thẳm, bút mực nào vạch nỗi bậc thang sâu, lời nói nào tả
thấu được sư ác hiểm
của đ̣n thù… Tôi rất cảm thông cho những ai lấy căm thù làm động lực
đấu tranh, đó là điều đúng trong đời thường.
Nhưng tôi có cách suy nghĩ khác, đó là để qua
một bên ḷng thù hận, mượn thuyết nhà
Phật: Đời chỉ là
ảo ảnh, hư không, buông bỏ phiền muộn, phá
chấp định kiến, giữ cái “tâm không” để vô tư,
tự tại. Từ đó mới gẫm suy mọi chuyện.
Tự kiểm bản thân:
Kiểm lại mọi liên hệ trong quăng đời qua. Những người sĩ quan trẻ như
tôi bước vào cuộc chiến với lư tưởng,
để rồi chịu tù tội. Được ǵ? Mất ǵ? Nh́n về
phong cách thái độ của cấp chỉ huy, lănh đạo đă quay lưng bỏ chạy
vào những ngày cuối. Họ nghĩ sao về 3 chữ Tổ Quốc - Danh Dự - Trách
Nhiệm mà họ đă mạnh dạn huấn thị cho chúng tôi phải tuyệt đối trung
thành. Sự bỏ cụôc của Mỹ v.v… Nhưng không bao giờ đánh mất lư tưởng,
luôn xác định chính nghĩa và suốt đời vẫn đứng trong tư thế của
người quân nhân Miền Nam với niềm tin vững chắc sẽ có ngày Danh dự
và vị trí chính nghĩa của người lính chúng tôi phải được phục vị,
công lao, xương máu của chúng tôi sẽ được ghi công xứng đáng.
Đây là niềm tin
bất diệt, là ánh lửa trong tim, là món nợ đời chưa xong, chúng tôi
phải sống để làm cái việc đ̣i lại công đạo. Với tôi, c̣n có một thôi
thúc riêng; không biết từ bao giờ, nhưng rất mănh liệt từ nội tâm
sâu kín. Đó là đời sống Tâm linh, nên đă tận dụng thời gian này,
nghịch cảnh này biến nhà tù thành chùa tu. Chuyển hoá tâm trạng
phiền năo, u sầu bằng Thiền Tâm, mượn đời sống khắc nghiệt thiếu
thốn của nhà tù để hành thiền. (Thiền trong hành xử là giữ giới,
thể hiện tánh đạo đức với mọi người bất chấp ngoại cảnh, giữ tâm yên
lắng ngay trong sinh hoạt phức tạp hàng ngày). Nhờ hành thiền ban
ngày nên ban tối ngồi tham thiền định tâm mói hiệu quả, lâu ngày trở
thành thói quen. Thiền Tâm giúp tôi được thanh thản và có những kết
luận riêng: Mục đích thật của đời sống là trở về nguồn cội. Nguồn
cội nơi một người là Tâm linh của chính ḿnh. Khi phàm ngă (xác thân,
lư trí, t́nh cảm) qui phục tâm linh, nhận Tâm linh là chủ nhân ông,
là cái tôi thật, là con người thật (chân ngă) để hiệp nhứt vào. Kể
từ đó ta có một đời sống mới, con người mới trường tồn, bất tử không
phải chờ ngày t́m thuốc trường sinh ở đâu nữa.
Tâm thức của ta
khác xưa rất nhiều: không ngại phiền năo hay sự chết, không chấp đời,
không phân biệt trong nhị-nguyên thức v́ đă có một tâm thức hiệp
nhất cùng vạn vật, biết đứng vào phương vị tổng thể để có hướng nh́n
toàn quan, tư đó thế cách hành xử trong đời mà thoát đời “Cư trần
bất nhiễm”
Đó là sống đời tự
tại vĩnh cửu, vậy đối với ta th́ trời đă mới, đất đă mới, c̣n mơ t́m
Thiên đàng hay Niết bàn chi nữa! Hạnh phúc là được sống gần với sự
thật, đời thật. Chân lư không hề là ảo tưởng, nó rất thật như mọi
thứ vật chất trên thế gian, dụng nó b́nh thường như lời nói hàng
ngày của ta vậy. Có khác chăng là chân lư luôn có hào quang và
trường tồn. Đó là Nhân sinh quan bất biến nơi tôi, có lẽ v́ thế khi
trở về chuyện cũ đời tù, tôi chỉ muốn kể về những chuyện nhẹ nhàng,
vui vẻ và có chút ư nghĩa nhân bản nào đó… tôi vẫn thích thú khi nhớ
về …
Đội
Văn
Nghệ
Của
Trại
Vĩnh
Quang A (Vĩnh
Phú)
Khoảng
1980, đội 8 ở trại Vĩnh Quang A có 2 bộ phận: bộ phận văn nghệ
khoảng 30 người, một nửa c̣n lại là bộ phận lao động. Tôi từ bộ phận
lao động lọt vào đội văn nghệ sau khi đội văn nghệ đă hoạt động nổi
đ́nh nổi đám cả năm rồi. Lư do không phải tôi có chút khả năng ǵ mà
v́ bạn bè thân nằm hết bên văn nghệ, anh em bịa ra những khả năng
cho tôi để xin quản giáo cho nhập bọn. Trong đội văn nghệ có NT3
Trương Văn Vấn, một chủ lực chuyên viết chủ đề, soạn bài bản cho
chương tŕnh đă tạo được tiếng vang trong dân qua những chuyến lưu
diễn xa trại.
Nhớ nhất là giai
đoạn đi lao động kè đá bến phà ở một bến sông cách trại khoảng chục
cây số. Tay cuốc tay đàn “lao động thông tầm” thời gian nghỉ trưa,
sân lúa trong làng là sân khấu để tŕnh diễn văn nghệ, cũng là lúc
đổi chác linh tinh với dân, kiếm chút đường đậu, có khi c̣n có rượu
đế để t́m chút hương cay. Biết bao chuyện vui xảy ra lúc này.
Trên sân lúa làng,
khán giả càng ngày càng đông, từ già đến trẻ kể cả bộ đội. Họ xem
văn nghệ rất say mê, ḷng mến mộ là “cây nhà lá vườn”: đường, gạo,
trái cây v.v… chất thành đống nhỏ. Có gă bộ đội trẻ mê tiếng đàn Ḱm
của ông già Kim (thiếu uư Cảnh sát, không tiện hỏi ông bao nhiêu
tuổi nhưng nh́n cũng khoảng “ông già 70”). Một hôm dây đàn đứt dây,
chú bộ đội trẻ này lặn lội ra tỉnh, hai hôm sau trở lại biếu ông sợi
dây đàn, thân thiện như t́nh “ông cháu”.
Mấy bà lăo được ưu
tiên ngồi sát trên sân khấu, nh́n Đại úy Thượt (an ninh quân đội)
đang diễn màn phun lửa, nuốt dao lam, mấy lăo bà che mắt kêu giời: “này
bác ơi, đàn hát là thích lắm rồi, đừng nuốt mấy cái “nưỡi nam” nhỡ
“đứt ruột” th́ chết, phải sống mà về với vợ con đó!”
Những màn hợp ca,
đơn ca trống kèn đủ cả. Đại uư Cang có cây đàn Guitar nhỏ tự làm,
anh đàn cả hai tay chuyền cây đàn quanh thân thể dân không thích sao
được. Rồi Đại uư Long (pilot AD 6) Đại Uư Giàu (cảnh sát) xuống 6
câu vọng cổ mùi hơn Út Trà Ôn, Thành Được! Thật sao không nói hết
t́nh “quân dân cá nước” trong cảnh ngộ oái oăm này. Nhiệm vụ tôi là
gánh cơm, xách nuớc, nhờ vậy mà tôi lạo xạo quanh xóm, lo việc đổi
chác, nhận quà của dân, lén lút dở tṛ “dân vận” để thu phục cảm
t́nh quần chúng. Tôi luôn nghĩ ḿnh dù buông súng nhưng vẫn c̣n
chiến đấu.
Có cô thiếu nữ
miền cao này đă bạo dạn hỏi tôi: “Mai này được tha, anh có trở
lại đây không?” vừa nói vừa đặt vào tay mấy khúc mía vườn với
ánh mắt long lanh, e thẹn! Bạn bè cũng thấy, tối về buồng giam, bảo
nhau rằng: “Tụi ḿnh hát ḥ mệt thấy mẹ, chỉ có thằng Quá là lời!
Ê! Có tắm cũng chừa lại bàn tay nha mậy”
Chuyện về
đội văn nghệ có viết thêm10 trang giấy cũng chưa thoả ḷng. Đến Công
an trại cũng rất hănh diện với lời khen về ban văn nghệ của dân
chúng các xă, huyện xa gần. Quan trọng là cả trại đều thương mến
đội văn nghệ này, nhất là nhóm trẻ trong đội văn nghệ, mấy ngày Tết
lợi dụng sự lơ đăng của Công an, đă trèo tường qua các đội khác để
hát các bản tù khúc, những bản đấu tranh ngày trước để nhắc nhở nhau
về thế đứng, về niềm tin. Đây là một việc làm khá nguy hiểm trong
thời điểm ấy.
Phần tôi cũng trả
xong nợ văn nghệ với màn vũ “Tiếng chày trên Bam-Bo” và một
hoạt cảnh trên sân khấu điệu “cha, cha, cha” với người bạn
Trần Lê Việt (bạn thân của NT 3 Vấn) trong y phục giả gái rất xinh
đẹp đă làm mê mẩn khối anh chàng mà nẻo tù chưa phủ kín nét hào hoa.
Những ngày ấy, đội văn nghệ như đàn én mang lại mùa Xuân, sinh khí
niềm vui được trở lại cho hàng ngàn thân phận đang sống trong tủi
nhục tuyệt vọng trong đó NT3 Trương Văn Vấn là tiếng hót của con sáo
réo gọi “sổ lồng”. . và các thân hữu trong đội văn nghệ.
Chuyến
Tàu Hỏa
Số
3
Vào
tháng 5/1982 phần lớn anh em cải tạo Vĩnh Quang được chuyển trại,
lúc đó không ai biết điểm đến là nơi nào. Chúng tôi rời trại bằng xe
Molotova mui trần, hai nguời chung một c̣ng tay. Đoàn xe di chuyển
chậm, đang chạy trên con đường quanh co theo chân núi, một bên là
rừng cây xanh biếc, một phía là vực dâu những khe suối ẩn hiện sau
lùm cây, cái đẹp vùng hoang dă của quê hương, hay là nẻo đường đời
của những người tù cải tạo . . .
Trí tôi đang nhớ
lại mẩu chuyện khi sáng, khi đoàn xe đang sắp xếp chờ di chuyển, có
thằng bé độ 12 tuổi, con của một sĩ quan cấp tá, tay ôm một túi quần
áo, vừa quẹt nước mắt, vừa muốn leo lên đoàn xe tù, vừa gọi bố cho
nó đưa mấy bác cải tạo một đoạn đường . . . Thằng bé hằng ngày cùng
với lũ trẻ chăn trâu, cứ theo sát chúng tôi tại hiện trường lao động,
hát nghêu ngao mấy bản nhạc vàng về lính (Hùng Cường, Mai Lệ Huyền)
thật dễ thương. Sau 4 năm trên đất Bắc, thái độ của dân, kể cả trại
gia binh của công an trại đă thay đổi hẳn. Tất cả đều chào hỏi người
tù lịch sự hơn nhiều so với lúc mới đến.
Một lần đợi đi lao
động, tất cả đang dừng lại nghỉ bên đường. Bác chủ quán bên đường
vừa mở nhạc vàng lên vừa ném về phía chúng tôi những bịch thuốc lào
nhỏ. Công an bảo vệ nhắc nhở chủ quán không được “quan hệ”, chủ quán
đă mắng thẳng vào mặt tên công an trẻ này: “Bố chúng mày, người
ta ở tù đă nhiều năm khốn khổ như vậy mà người ta vẫn là con người,
c̣n như chúng mày mà vào tù chỉ vài tháng chúng mày thành chó ngay,
ông là bộ đội phục viên th́ đừng hù ông nhé . . .”
Anh quản giáo của
đội chạy đến... xử huề. Chúng tôi nh́n nhau cười. Sáu bảy năm rồi,
nghe lại nhạc vàng thấy hay làm sao! Có cô giáo làng mấy hôm trước
đến cảm ơn chúng tôi, nhờ mấy viên trụ sinh anh em nhín ra biếu, chị
đă khỏi bệnh.
Đang lao động th́
có một đám tang kéo đến và hạ quan ngay khu chúng tôi đang làm.
Không ai bảo ai tất cả chúng tôi dừng cuốc, đứng yên ngả mũ, biểu lộ
“cái lễ” sau cùng cho người chết. Sau đó gia trưởng của tang gia đă
ngỏ lời cảm ơn: “Các anh rất đáng quư mà phải chịu nạn, xứ Bắc
này không c̣n sống với lễ nghĩa, chúc các anh sức khỏe, đoàn tụ”.
Đang miên man với quá khứ tù đày th́ xe đă vào đến ven phố. Bọn
tù chúng tôi ai cũng phải giật ḿnh v́ có những nắm xôi, chút tiền
cột thung ném lên xe từ người dân bên đường. Tôi như cảm nhận đă có
sự thay đổi trong ḷng người đất Bắc, họ đă vứt bỏ đi lời tuyên
truyền xuyên tạc của Cộng sản: “Lính ngụy là bọn mất hết nhân
tính, chúng ăn thịt người, cần cải tạo lâu dài . . . .”
Rồi chúng tôi được
đổ xuống một ga ven phố, nhà cửa ở đây vừa nhỏ vừa thưa, tôi chợt
nhớ về kỷ niệm ấu thơ nơi một xóm nhỏ ven đô Sàig̣n, những khoảnh
khắc kỷ niệm, như những viên thuốc an thần để lăng quên thực tại . .
.
Bây giờ kể lại có
thể nói ngay điểm đến là Trại Xuân Lộc Z30A thuộc Tỉnh Đồng Nai.
Thời gian di chuyển là 3 đêm 4 ngày. Đoàn tàu càng tiến về Nam th́
dân càng tụ tập ṭ ṃ đông hơn, tại các nhà ga người lớn th́ đứng từ
xa nh́n vào đoàn tàu vẫy tay chào, trẻ con th́ tay cầm thức ăn, quà
bánh, tiền v.v… thừa lúc công an áp tải sơ hở là phóng đến sát bên
tàu chạy ném đồ “tiếp tế” vào cửa sổ rồi phóng chạy biến vào đám
đông.
Sự việc tương tự
vẫn tiếp diễn mạnh hơn khi đoàn tàu chạy sâu về Nam, đến độ khoảng
Nha Trang vào, tàu chờ tối mới vào ga, nhưng dân vẫn đông, tay cầm
đèn băo, đèn dầu trẻ con vẫn phóng tới bên cửa sổ ném quà “phước
thiện” vào. Công an bắt chúng tôi nạp lại số quà phước thiện này
với lư do: “Nhân dân vẫn c̣n thù ghét các anh, trong mấy thứ này
có độc chất, các anh mà trúng độc trong lúc di chuyển th́ không cứu
được đâu…”
Chúng tôi nói nhỏ
với nhau: “Đồ cóc con, bố láo… c̣n chỗ đứng trong ḷng dân, ḿnh
chưa thua đâu!” Và đây là chuyện phải kể:
“Đoàn Nữ Tiếp
Viên Trên Chuyến Tàu Số 3”
Không khí trên tàu
có vẻ căng thẳng trong hai ngày đầu, các cô ở lớp tuổi 20, 30 không
hề nh́n đến đám tù mà chỉ tỏ thân thiện với công an. Họ mặc đồng
phục kaki màu xám giống công nhân hăng xưởng, tác phong có vẻ “lao
động là vinh quang” lắm. Qua ngày thứ ba, riêng tôi được công an mở
c̣ng để lấy nước bên toa Căng-tin phía trước, rồi đem phân phối
lương khô (bánh ḿ đường) cho anh em, bước vào toa Căng-tin, 5, 7 cô
nh́n tôi cười thật tươi, vồn vă thăm hỏi, nào là Anh ơi! Anh tên
ǵ? ...Tụi em phải mất hai ngày để mua chuộc tụi nó đó, xong rồi!
Hăy nói nhỏ với các bạn anh là biên tên, địa chỉ vào một mẩu giấy
nhỏ, sẽ nhét vào tay tụi em khi thấy tụi em đi qua lại trên toa, nhớ
nha, tin tức sẽ đến gia đ́nh các anh sớm nhất đó.
Một cô rút ống ṿi
thọc sâu vào thùng phi nước, nhồi vài cái, rồi xịt thẳng vào người
tôi vừa nói: “Đă mấy ngày không tắm hả anh?” Gươm lạc giữa
rừng hoa, chưa kịp phản ứng ǵ lại một cô khác đưa cho tôi 1 ca nước
đá chanh đường và nói: “Mời anh ly nước. Tôi vừa uống vừa
nghe bên tai: “Nhỏ Hoa chưa có gia đ́nh, nó muốn xin thăm nuôi đó,
anh cho nó địa chỉ đi!” Tôi cười nh́n lại cô em thấy c̣n rất trẻ
và xinh lắm.
Có cơ hội ra vào
Căng-tin, tôi cũng mang ra được cho anh em khá nhiều thuốc lá, bánh
kẹo, các cô nói nhỏ rằng: “Tất cả cho các anh, cả lương của tụi
em đó anh, về được Miền Nam có thăm nuôi là sống rồi, cố gắng nhá”
Những lời nói ngắn gọn nhưng gói trọn ân t́nh, nhất là các em đă
xác định vị thế, lập trường ở cùng phía với người tù, tôi cảm thấy
vui v́ “t́nh quân dân” vẫn c̣n đó dù đang chiến bại!
Hai ngày ngắn ngủi
c̣n lại, sự mệt mỏi của chúng tôi như tan
biến, mọi người dù bị c̣ng vẫn sửa lại thế ngồi, mắt mở to hơn v́
kịp nhận ra một màn tŕnh diễn thời trang của các gái hậu phương này.
Các cô ăn mặc thật đẹp, đúng mốt thời trang Saigon 75, các cô làm
tôi (chắc những người bạn khác cũng vậy) lại nhớ về những kỷ niệm
bát phố bên người yêu, những ngày nghỉ phép. Các cô đi chậm răi,
chắp tay phía sau để nhận những mẩu giấy nhắn tin. Các cô trang điểm
cẩn thận từ mái tóc đến kiểu giày, một sự biểu lộ thật tế nhị, tuyệt
vời, thể hiện sự thương cảm sâu xa cho những “anh hùng lâm tuyệt lộ!”
Rồi con tàu dừng
hẳn, chúng tôi có lệnh rời tàu, bên ngoài trời đă nhá nhem tối,
trong lúc c̣n đứng lố nhố điểm danh, tôi vẫn nghe được tiếng các cô:
“Các anh vào trại Gia rai, chào tạm biệt, nhớ giữ sức khoẻ, ngày
mai trời lại sáng” Tôi quay lại nh́n, nơi mỗi cửa sổ tàu đều có
dáng bóng hồng vẫy tay, có cô đang quẹt nước mắt nh́n theo đoàn
người đang lầm lũ xa dần . . .Một tháng sau, đợt thăm nuôi đầu tiên
đă xác nhận. Ngay tối hôm đó, đêm rời tàu, khoảng 9, 10 giờ đêm hầu
hết gia đ́nh đă nhận được tin. Hỏi ra mới biết, có một cặp chạy
Honda đến gơ cửa nhà chỉ nói nhanh: “nhà có thân nhân cải tạo tên…
…” mẩu giấy được trao và phóng đi ngay sau lời nói … c̣n
rất nhiều địa chỉ phải báo …”
Mấy người bạn trẻ
chúng tôi bàn rằng – Nhóm em gái hậu phương này rất đặc biệt, làm
việc có chủ đích, kế hoạch nên phải có tổ chức, phải có một trưởng
toán, hay trưởng tàu thuộc phe ta! Nghĩa cử này cần nhiều yếu tố
đồng thuận mới làm được, không phải là việc làm tự phát . ..
Đă gần 30 năm qua,
tôi không thể nhớ ra một gương mặt nào của đoàn nữ tiếp viên này,
nhưng việc làm của các cô vẫn sống măi trong ḷng tôi. Các cô là
hiệp nữ ân nhân là những nàng tiên cứu khổ đă để lại hào quang nỗi
nhớ trong ḷng những người tù trên chuyến tàu số 3. Lúc trong tù,
tôi có nói với bạn bè, ước ǵ chúng ta có cơ hội để nói lời tri ân
với các cô. Bây giờ những lời này dù chỉ gởi vào hư không v́ không
mong duyên tương ngộ, nhưng tôi vẫn tin rằng trong cảnh giới hư
không huyền diệu, đă ghi công cho những tấm ḷng vàng. Đấng Nhân Quả
sẽ ban phước lành đến tất cả các cô, không ít những người tù cải tạo
trên chuyến xe lửa đó đă cùng một tâm cảm tri ân để gởi đến các cô
những lời chúc phúc tốt đẹp nhất. . .
Trại
Tù Z30A Xuân Lộc
– Những
Năm
1982- 1983
Giữa
hai dăy nhà tù là một sân banh, kích thước khuôn thành tương đối
đúng tiêu chuẩn. Nơi đọ sức thường xuyên giữa hai đội bóng: Công an
trại và đội tù ở lớp tuổi 40! Cầu thủ đội Công an c̣n trẻ lắm, đi
tranh giải tận Hà Nội đạt thành tích cao, tập dượt thường xuyên, đôi
khi được tuyển từ 3 trại của Z30 và tăng cường vài hảo thủ Công an
từ Hà Nội vào hay Sàig̣n lên, nhưng chưa bao giờ họ thắng đội banh
tù này. Những ngày cuối tuần, thường diễn ra các trận đấu, tiếng
hoan hô cổ vơ vang động một góc trời, có lúc người dân xă Xuân Thành
cách trại 3 cây số chim bay phải giật ḿnh v́ tưởng tù phá trại. Ban
chỉ huy trại cũng bị lôi kéo vào cuộc đấu. Đă có những buổi họp chỉ
thị vừa chiến thuật vừa chính trị để t́m cách thắng chúng tôi
nhưng vô hiệu!
Tôi là một cựu cầu
thủ của trường Đại Học CTCT Đà Lạt; là đội trưởng đội bóng. Chúng
tôi ra sân với quần áo, giày vớ chỉnh tề như một đội bóng chuyên
nghiệp, kể cả trọng tài (anh Lê Trung Cang) cũng ăn mặc đúng tiêu
chuẩn và bên phía Công an cũng vậy. Hàng ngàn người xem luôn bị lôi
cuốn đến quên mất ḿnh… đang ở tù. Không khí thể thao lên cao đến độ
vài anh em không biết đá banh nhưng cũng yêu cầu đội banh đặt thêm
áo, giày để họ mặc vào cho giống cầu thủ, để chỉ chạy lăng xăng ṿng
ngoài tiếp tế nước chanh, hay đấm bóp.
Anh sáu Trường
trong ban y vụ cũng lén chôm thuốc chích cho tôi Vitamine C đều đều
trước khi xung trận . . . Mục đích riêng của tôi như đă đạt được như
ư, đó là: không khí căng thẳng trong trại đă giảm dần. Nội qui trại
không c̣n khắt khe, cả trại có thể qua lại thăm nhau, quan hệ linh
tinh, trà lá thoải mái, cũng bởi những lư do khởi đầu tôi nêu ra với
Công an trại là tôi cần liên lạc với các đội để t́m cầu thủ cho đội
bóng. Anh em cầu thủ có người không được thăm nuôi, nên để cho họ
bạn bè bồi dưỡng sức khoẻ để có sức chơi v.v… Công an trại hầu hết
mê bóng đá đành phải nới lỏng dần kỷ luật trại.
Tôi vẫn thường
được các thầy như Đại Tá Huy (Trung đoàn trưởng 12-Sưb đoàn 7), Đại
tá Vinh (Nhảy dù) và rất đông các đàn anh ủng hộ, bồi dưỡng và c̣n
dặn nhỏ những điều quan trọng: “Ê! Quá em, chiều nay phải dứt
điểm nha, ḿnh chỉ c̣n có cái sân cỏ này để rửa mặt mũi;” hoặc
là “hôm nay là ngày 19/6, Ngày Quân Lực phải quyết thắng đó!”
Có khi tôi phải
bật cười v́ được nhắc rằng: “Này, hôm nay là ngày sinh nhật của
bố chúng nó, thằng già Hồ đó, phải đánh rạt gáo, không cho gỡ một
quả nào nghe hôn!” Đội banh tù đă làm được điều đó. Có lẽ v́ vậy
mà vài “Công an cầu thủ” có nói riêng với tôi là ban chỉ huy của họ
có lưu ư đến cá nhân tôi và khuyên tôi nên cho người khác làm đội
trưởng, c̣n tôi vẫn chơi, vẫn điều động bên trong v́ nếu không có
chân bên đội tù th́ chính họ cũng mất hứng thú, tôi đồng ư v́ chính
tôi cũng không muốn lộ tẩy “phản động”.
Có lần đội Công an
tranh giải liên tỉnh họ kéo ḿnh tôi theo, nhưng dân mộ điệu rất
tinh mắt, giữa trận nghỉ giải lao họ bu lại nói ngay: “Anh là dân
cải tạo đá tăng cường chứ ǵ! Có thăm nuôi đều không? Tóc muối tiêu
mà đường ‘tiền vệ’ c̣n vững lắm, hồi trước đá cho đội nào vậy?
Có lần 3 trại A,
B,C của Z30 tranh giải vào mùa Tết có lẽ là năm 1983, nhờ vậy ba
anh cầu thủ gạo cội của trại C là Nghệ, Lực và Hai đă đánh một ṿng
trên chục cây số đường bộ để vào khu lâm sản A t́m gặp tôi, dân cầu
thủ gặp nhau là thân t́nh ngay. Ba anh cho tôi biết là đă từng đá
chung với Ngỡi (bạn thân của tôi và là cầu thủ số 1 của khoá 2) ở
vài trại khoảng 2 năm đầu. Lúc đó Ngỡi nhắc đến tôi rất nhiều khiến
họ thuộc tên và khi gặp nhau trên sân cỏ, nghe tên họ đoán ngay tôi
là người Ngỡi đă nhắc nhở, các anh gặp tôi để kể về trường hợp trốn
trại của Ngỡi và từ đó bặt tin. Họ rất mến tính t́nh hiền hoà của
Ngỡi cũng như Ngỡi có cú sút ngàn cân và chính xác nữa.
Nghe họ kể, nước
mắt tôi lưng tṛng, v́ nó là thằng bạn “xác hồn” với tôi mà,
biết bao là kỷ niệm, tôi lặng người khi nghĩ đến chị Ngỡi và 2 cháu
nhỏ. Ngỡi ạ, vĩnh viễn không c̣n gặp mày trên cơi đời này, nhưng có
cơ hội để nhớ mày, để nhắc mày tao không bỏ qua được, chúc mày được
bằng an nơi cơi vĩnh hằng, hơn 30 năm vợ mày vẫn thủy chung và làm
tṛn trách nhiệm lo cho hai con mày trọn vẹn. Đến nay 2 đứa đă lập
gia thất. Hẳn là linh hồn mày cũng vui vẻ mà siêu thoát . . .
Chuyện ǵ đến phải
đến đầu tháng 12/83 tôi có tên được thả, mang đồ đạc cá nhân, chuyển
qua trại B kế bên, ở tạm một đêm, rồi sáng hôm sau nhận giấy ra trại.
Tối đó có khoảng vài chục công an trại (không phải đám quản giáo hay
an ninh trực trại mà tôi đă quá quen), đứng bên ngoài cửa sổ tù, lần
lượt đưa tay qua song cửa tù bắt tay bắt tay tôi. Họ bày tỏ ḷng
ngưỡng mộ tài nghệ và phong cách của tôi. Họ nói đă xem bóng đá bên
ngoài cũng nhiều nhưng họ không mê bằng đội bóng đá của tôi, bây giờ
trên sân cỏ của trại họ không c̣n được xem tôi chơi nữa, buồn lắm!
Nhưng cũng phải mừng cho tôi đoàn tụ gia đ́nh.
Huệ (Đại uư không
quân) trung phong của đội bóng, được thả cùng một đợt, buông một câu
ngắn: “chuyện khó tin”. Tôi nói giỡn: “Đối với tụi nó phải
dùng tay chân thu phục, chứ miệng lưỡi vô ích” rồi cười xoà.
Đội bóng từ
nay thiếu tôi, thiếu Huệ chắc phải vất vả lắm với đám công an. Một
chút bùi ngùi v́ sau lưng tôi vẫn là con số ngàn sĩ quan cải tạo.
Nhưng thôi, phần ḿnh hơn một năm qua đă góp sức mọn vào niềm vui
chung cho cả trại, mọi người c̣n có một trận tuyến để reo ḥ, để
trút ra một phần nào những phẫn nộ, những u uất của người tù . . .
Thật ra “nghiệp banh tṛn” của tôi chỉ là những ánh chớp
trong đêm đen nhưng cũng cho
tôi hai giai đoạn để nhớ đời:
·
Một là đội bóng của trường tôi Đại Học Chiến Tranh
Chính Trị. Tôi vẫn nhớ vanh vách từng khuôn mặt, từng lối đá của
từng người như Ngỡi, Nhung, Sử, Sung, Phát, Son, Nên, Long, Tri, Đại
uư Đồng, Đại Uư Miên v..v. đă tạo nên thành tích thể thao cho trường,
đă từng đại diện Quân Khu 2 về Sàig̣n tranh giải toàn quốc.
·
Hai là đội bóng tù Z30A, đàng sau những niềm vui thể
thao trên sân cỏ, nó vẫn hàm chứa rất nhiều ư nghĩa mà chỉ có những
người tù Z30A mới hiểu và yêu mến đội bóng này. Đó là những niềm vui
c̣n đọng măi trong tôi khi nhớ về những năm tháng dài … Đi Trên Vết
Thù . . .
(Viết để kỷ
niệm với những người thân: Lê Trung Cang, Minh Kỷ, Hữu Tín, Lương
Việt, NT3 Trương Văn Vấn, Lê Việt v..v.)
NT2 Trần Văn Quá
|