Những
Kinh Kha thời đại
Ðể tưởng niệm hương
linh các vị Kinh Kha:
Hoàng Cơ Minh
Trần Thiện Khải
Võ Hoàng
Cùng tất cả các KCQ
đã vị quốc vong than
Trịnh Hoàng
Trong bầu hương
khói nghi ngút tại nhà quàn, tôi thẩn
thờ cảm xúc thật sự trào dâng.
Một cảm xúc pha trộn, cùng chia xẽ
sự đau buồn mất mát của tang quyến, lẫn
lộn với với niềm thương xót vô bờ,
đối với những sự hy sinh vị quốc vong
thâncủa những tên tuổi một thời
tôi đã có cơ duyên biết đến. Mắt tôi bỗng dưng
lệ nhòa…..
Cố Ðề Ðốc
Hoàng Cơ Minh. Khởi
từ ngày đầu, khi tôi rời trường
mẹ Hải Quân tại Nha Trang, vào giửa thập
niên 60. Tôi
đã nghe danh ông là một sĩ quan hăng
say với trách nhiệm, cương trực, thanh
liêm. Ông thích
hoạt động chính trị, có tinh thần quốc
gia cực đoan.
Ngoài giờ công vụ, ông theo
học Ðại Học Văn Khoa Sàigon.
Cho đến những năm
đầu thập niên 70, khi ông giử Tư Lệnh
Lực Lượng Ðặc Nhiệm Thủy Bộ 211
tôi mới có dịp, đôi lần diện kiến
ông, qua những buổi họp tham mưu và
hành quân. Dáng
dấp ông tầm thước, khoẻ mạnh,
hiên ngang, quân phục ông lúc nào cũng
tề chỉnh, tay áo luôn
được săn quá khuỷu tay. Thời gian nầy, với
trách vụ Trưởng Phòng Hành
QuânVùng. Tôi
thường nghe giọng nói sang sảng của
ông trên máy âm thoại của các giang
đỉnh, ông đi theo trong các cuộc hành
quân. Ông thường
hiện diện tại các tuyến đầu của
các mặt trận. Những
bạn tôi, Hải Quân Thiếu Tá Bùi Tỵ,
Hải Quân Thiếu Tá Liêu Chơn, những Chỉ
Huy Trưởng Giang Ðoàn Thủy Bộ, dưới
quyền chỉ huy của ông, mỗi khi gặp
tôi, thường nhắc đến ông, như
là môt trong những vị chỉ huy cấp đại
đơn vị trưởng ưu tú, gan dạ nhất
của Hải Quân.
Ðầu tháng 2/75, chiến
hạm tôi đang công tác tuần tiểu tại
Hòn Tre, Vùng 4 Duyên Hải, nhận được
công điện thượng khẩn ,
trực chỉ tăng viện Vùng 2 Duyên Hải,
do tình hình chiến sự gia tăng trầm trọng
nơi đây. Một
lần nữa, khi tới Vùng ,
tôi lên trình diện ông. Lúc nầy, cấp bậc
của ông đã là Phó Ðề Ðốc,
chức vụ Tư Lệnh Vùng 2 Duyên Hải. Tình hình an ninh
lãnh thổ từ Vùng 1 Chiến Thuật trở
vào mỗi ngày mỗi hổn loạn. Thời gian chiến hạm tuần
tiểu, yểm trợ được gia tăng tối
đa. Luôn thường,
tôi nhận lệnh, những lời khích lệ trực
tiếp từ nơi ông qua máy âm thoại. Ðôi khi, môt hai giờ
sáng còn nghe giọng ông liên lạc với
các đơn vị chiến hạm, nhất là với
các Chỉ Huy Trưởng Duyên Ðoàn trong
lãnh hải của ông.
Những ngày cuối
tháng 3/75, tình hình chiến sự càng
thêm phần bi đát.
Ghe dân tỵ nạn túa ra biển, xuôi từ
Ðànẳng, Chu Lai, Quảng Ngãi, xuống
phía nam, mỗi ngày môt đông. Mặt biển lố nhố
đầy ghe. Chúng
tôi ngòai nhiệm vụ tuần tiểu, yểm trợ,
lại còn phải lo trợ giúp những ghe
dân tỵ nạn.
Nào thực phẩm, nước ngọt,
nhiên liệu, dòng kéo nghững ghe hư
máy vào bờ… Thành ra nhiệm vụ của
chúng tôi trở thành vất vả vô
cùng. Trên chiến
hạm, từ trên xuống dưới mệt
nhoài, ai cũng mong sớm có chiến hạm ra
hay thế để được về bến nghỉ
ngơi….
Vào thời
điểm nầy, Phó Ðề Ðốc Hoàng
Cơ Minh được Bộ Tổng Tham Mưu chỉ
định thêm chức vụ mới, là kiêm
nhiệm Tư Lệnh Tiền Phương Quân Khu 2, lại
thêm một chức vụ đặc biệt nữa,
Tư Lệnh Mặt Trận tái chiếm Bình
Ðịnh, Phú Yên. Sau buổi họp
hành quân, tham mưu với chức vụ mới. Sáng hôm sau, Căn Cứ
Hải Quân Cam Ranh, cũng như tại cầu
tàu, nơi các chiến hạm đang nhận tiếp
tế. Không khí
như được bừng sinh trở lại. Nguyên cả một Sư
Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến, Sư
Ðoàn 22 Bộ Binh, đã được Bộ
Chỉ Huy 5 Tiếp Vận tái tân trang đầy
đủ quân dụng, vũ khí. Tất cả xếp hàng
một, kỹ luật xuống các Dương Vận
Hạm, Hải Vận Hạm của Hải Quân VNCH, tới
buổi trưa, hoàn tất thủ tục lên
tàu. Khoảng 1400H chiều,
các chiến hạm tách bến, trực chỉ
phương Bắc, để đổ quân tái
chiếm Quy Nhơn. Ðột nhiên các chiến hạm
được lệnh trực tiếp từ trung
ương chuyển hướng xuôi
Ðầu tháng 4/75
Ông chỉ thị chiến hạm tôi cùng trợ
chiến hạm HQ230 trở ngược từ Phan Thiết
ra thám sát hải phận Nhatrang (lúc nầy
Nhatrang bỏ ngỏ). Từ
ngoài khơi Hòn Dung (Pyramide) chúng tôi chạy
bọc vào sát bờ biển Nha Trang, doc theo Ðại
Lộ Duy Tân, chạy dài theo bờ biền,
hoàn toàn còn vắng vẻ. Xuống tới Cầu
Ðá, vào vịnh Nha Trang, trong lúc đang chặn hỏi tin tức từ mấy ghe dân về
tình hình, bổng chợt tôi nghe nhiều tiếng
nổ, cùng thấy mấy cột nước bắn
tung toé chung quanh. Quan
sát tôi thấy hướng đạn 82 ly từ
trên đỉnh Hòn Tre bắn xuống. Nhìn kỷ, chúng
tôi thấy trên nóc Ðài Kiểm Báo
204 Hòn Tre đã có màu cờ đỏ. Chúng tôi
báo cáo sự việc, đích thân
ông Minh chỉ thị chúng tôi quay trở lại
tiếp tục yểm trợ vùng Phan Thiết.
Những ngày đen tối
tiếp theo của tháng 4/75 Phó Ðề Ðốc
Hoàng Cơ Minh tận lực hết sức, hy vọng
từ trung ương sẽ có những chỉ thị
chiến thuật mới, mong lật ngược thế cờ. Nhưng rồi hoàn
toàn vô vọng. Phần
lớn do những nguyên do chính trị đã
được tính toán trước tại
các phiên hội nghị. Vận nước đã
đến lúc tàn.
Cho tới buổi chiều
Chúng tôi
bàng hoàng, ngơ ngẩn, chua xót.
Bao nhiêu năm chinh chiến can trường, giờ
tất cả tan biến trong phút giây. Rồi ra, chẳng biết mai
nầy đời sẽ ra sao !!! Hoang mang và hoang mang
cùng cực, ai nấy chán nản, rời rã,
nhìn nhau thở dài, ngán ngẩm….
Trả lại tất
cả chiến hạm cho Hải Quân Hoa Kỳ tại
Ðời sống
tỵ nạn xứ người, mấy năm đầu
quay cuồng, vất vả. Nghe tin ông
định cư tại miền Ðông Hoa Kỳ. Rồi ông lập ra Lực
Lượng Quân Nhân Việt Nam Hải Ngoại. Vào đầu thập
niên 80, Lực Lượng này trở thành Lực
Lượng Quân Dân Việt Nam Hải Ngoại. Tiếp theo
tổ chức Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất
Giải Phóng Việt
Những ngày đầu,
Mặt Trận phát triển quá nhanh, thêm phần
tổ chức hình thành vội vã, do vậy
yếu tố nhân sự có lượng,
mà số đông, không có phẩm. Ngay cả trong thành phần
cốt cán củ trung ương Mặt Trận cũng
vậy. Nhiều người
am tường đã cho rằng ông Hoàng
Cơ Minh đã chọn sai những người cộng
sự viên thân tín của ông. Những cộng sự
viên nầy đa số “hữu danh vô thực”. Quả nhiên vài ba
năm sau, đầu não Mặt Trận tan rã,
không hàn gắn được. Hơn ai hết, trong vai
trò lảnh đạo ông Minh đã cố gắng
dàn xếp, nhưng tiếc thay Tự Ái Cá
Nhân đã vượt thắng tất cả. Ðây cũng là một
bài học chua cay cho Mặt Trận để kiện
toàn tổ chức sau nầy.
Lúc nầy
lòng người chùng lại, phân hóa,
nghi ngại do sự đánh phá mạ lỵ Mặt
Trận từ các nhân vật mới ly khai.
Số tiền yểm trợ kháng chiến
được thổi phòng lên gấp trăm lần. Ða số thầm lặng vẫn
theo dỏi các hoạt động mới của Mặt
Trận. Dầu sao trong
các tổ chức chống cộng tại hải ngoại,
Mặt Trận tương đối vẫn còn
có thực lực hơn cả….
Cho tới khoảng tháng
10/87 tin ông Hoàng Cơ Minh, Chủ Tịch Mạt
Trân, đã anh dũng hy sinh cùng với
môt số kháng chiến quân tại chiến
trường Hạ Lào.
Tin nầy do phần lớn các báo chí
Việt Ngữ hải ngoại đăng tải. Họ dựa theo các nguồn
tin từ một vài hảng thông tấn ngoại
quốc, cũng như báo chí VC trong nước
có kèm theo hình ảnh. Mọi người
sửng sốt, bàng hoàng tiếc thưong. Lực Lượng nòng cốt
của Mặt Trận đã bị VC bao vây, chặn
đánh thiệt hại nặng nề. Hậu cứ quá xa, Mặt Trận phủ
nhận hoàn toàn tin tức nầy. Có lẽ do nguyên tắc
an ninh, bảo vệ sự sống
còn của tổ chức, của thân nhân
các đoàn viên của tổ chức. Tuy nhiên sau vài ba
năm đợi chờ, không thấy ông
Hoàng Cơ Minh xuất hiện, hay lên tiếng,
đa số đồng bào đều hiẻu nguồn
tin đã anh dũng hy sinh đền nợ nước
là xác thực……
Cố Ðề Ðốc
Hoàng Cơ Minh sinh năm 1935 tại Hà Nội,
Ông mất đi ở tuổi 52 trong lúc đại
cuộc mới thành hình. Ước vọng người
dân tỵ nạn CS nơi ông để quê
hương được giải phóng khỏi ách bạo
tàn của VC, tiêu tan.
Mất ông, mất cả một niềm tin
vào tương lai trong công cuộc quang phục
quê hương.
“Ðường đi khó, không khó
vì ngăn song cách núi, mà khó vì
lòng người ngại núi e song”. Ông Minh đã luôn
không ngại đường khó, ông đã
dẹp bỏ tình nhà, đặt nợ nước
trên hết. Dấn thân tranh đấu, băng rừng
vượt suối dẫn đoàn quân kháng
chiến trở về đất Mẹ. Tiếc thay, vận nước
chưa đến, đoàn quân ông đã
bi phục kích chận đánh mấy lần. “Mảnh hổ nan địch
quần hồ”, Ông bị thương cuối
cùng phải tự sát để khỏi lọt
vào tay VC. Một
vài kháng chiến quân vượt thoát thuật
lại chuyện nầy.
Thât đúng “Anh hùng tử, khí
hùng nào tử”, Ông quả là mọt
hào kiệt.
“Không ai lấy chuyện thành bại
để luận anh hùng”, người ta chỉ
luận bàn về công cuộc đấu tranh
đầy chính nghĩa dân tộc của Ông,
và của tổ chức do Ông đã khổ
công tạo dựng lên.
Ông đã được toại nguyện
như ý Ông thường nhắc nhở mọi
người “Ði kháng chiến sẽ có hai
cái đích: Một là giải phóng
qưê hương, Hai là chết cho quê
hương”. Ông
đã chết cho quê hương. Cá nhân tôi, cũng
như đa số, ngưỡng mộ sự hy sinh cao cả
của Ông. Và
cùng nhau hy vọng ngày quê hương Việt
Cùng hy sinh với Ông
trong cùng một trận đánh, được Mặt
Trận công bố, có Trần thiện Khải,
tác giả tập nhạc “Trăng chiến
khu”. Anh sinh năm 1949
tại Phan Rang, xuất thân khóa 24 Sĩ Quan Hải
Quân Nha Trang. Mới ra
trường anh được thuyên chuyển về
chiến hạm tôi. Khải
có một gương mặt hiền lành,
nhưng rắn rỏi, anh tương đối ít
nói. Anh là một
Sĩ Quan tự trọng, siêng năng, thường hiểu
rỏ công việc trách nhiệm của
mình. Luôn
được mọi người trên chiến hạm
yêu quí do bản chất dễ chịu của
anh. Ðời sống Khải
giản dị, tài sản quí giá là
cây đàn guitar Espagnol, lúc nào rảnh lại
thấy anh ôm đàn, ngồi thơ thẫn
đàn hát môt mình. Khải luôn có sự
trầm lặng, riêng tư
môt mình, có khi ngồi hàng giờ với
nhau trong quán cà phê, tôi và anh cũng
chẳng trao đổi được tâm tình
gì, ngoại trừ một số chuyện liên
quan đến văn nghệ, các bản nhạc,
các ca sĩ, các cuốn sách hay cần đọc….
Sau biến cố
Những năm tháng theo sau, tôi có dịp gặp Khải
đôi ba lần. Môt lần tại đại hội Chính
Nghỉa ở
Thêm một tên tuổi
Hải Quân nữa cũng ngã gục cạnh Trần
Thiên Khải, đó là nhà văn Vỏ
Hoàng, môt tên tuổi mới thành danh trong
làng văn hải ngoại. Anh là môt Ðoàn
Viên Hải Quân, còn rất trẻ, sinh
quán tại Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Anh mất đi ở tuổi
35 để lại người vợ trẻ, một
nách ba đứa con thơ còn nhỏ dại. Chẳng hiểu, hằng
đêm vợ anh trong mấy năm đầu chờ
anh, có tự chỉ vào bong mình để nói với
con “không không, bóng cha đêm tối mới
về” như người thiếu phụ Nam
Xương thời xưa.
Bóng chị, bóng anh đã hoà nhập làm một. Phải can đảm lắm,
chị mới để anh ra đi. Võ Hoàng, chỉ một
hai lần tôi được thấy anh trong
đám đông.
Trông anh thư sinh với cặp kính trắng,
vẻ mặt linh hoạt.
Rất tiếc, tôi không có dịp chuyện
trò cùng anh. Tại
sao có những người trẻ như anh đang say
sưa với nghiệp dĩ văn chương, hấp dẫn,
đam mê như vậy mà anh lại có can
đảm bỏ hết ra đi để rồi cũng
không hẹn ngày trở lại, nhất là trở
về tiếp tục phụ
giúp vợ anh chăm sóc đàn con thơ dại
của anh. Ðộng lực
thúc đẩy sự ra đi của anh quả
là cao cả, vĩ đại….
Mười bốn năm
trôi qua, dòng đời bao thay đổi, tổ chức
Mặt Trận giờ nầy mới công bố những
sự hy sinh, mất mát to lớn của mình, Tổ
chức sẽ có những lý lẽ hợp
tình hợp lý với tất cả. Cuộc đấu tranh giải
thể chế độ VC cai trị nơi quê
nhà vẫn đang tiếp diễn, Mặt Trận vẫn
kiên trì. Hoàng
Cơ Minh, Trần Thiện Khải, Võ Hoàng
cùng nhiều tên tuổi khác có mất
đi, sẽ còn có những Hoàng Cơ Minh,
Trần Thiện Khải, Võ Hoàng cùng nhiều
tên tuổi khác đứng lên tiếp nối
con đường quang phục quê hương. Chính nghỉa sẽ
luôn luôn tất thắng bạo tàn.
Sau nầy, lịch sử
có ghi lại công cuộc chiến đấu chống
bạo quyền nơi quê nhà từ hải ngọai,
chắc sẽ không quên những tên tuổi
đã hy sinh trên đưòng Ðông Tiến,
trong những trận đánh đẫm máu,
ác liệt tại vùng núi non miền Hạ
Lào. Nơi này
đã có một cấp chỉ huy gan dạ, một
cựu đại đon vị trưởng ưu tú , vang bóng môt thời của
Hải Quân VNCH, người lảnh đạo tổ
chức đã chiến đấu hào
hùng. Cuối cùng
vì thương tích, tự sát để
được chết bên cạnh các chiến hữu
của mình, nhất là để khỏi lọt
vào tay địch quân “ thà chết vinh
hơn sống nhục”.
Thuở xưa Kinh Kha,trước khi vào đất chết
để hành thích hôn quân Tần Thủy
Hoàng, được vài chung rượu tiễn
đưa, có thêm tiếng sáo não ruột
của người bạn tâm giao Cao Tiệm Ly, thay cho
lời vĩnh biệt, Kinh Kha biết trước hiểm
nguy vẫn hiên ngang cảm khái, tuốt
gươm “Ta tráng sĩ một đi không trở
lại…”. Thời
nay, mười bốn năm trước, những anh
hùng Ðông Tiến xa vời vợi, những hiểm
nguy lại được gia tăng do những bội phản,
lọc lừa của những người bạn đồng
minh hiểm độc. Vậy
mà họ vẫn cất bước ra đi,
“Không thành công cũng thành
nhân”. Giữa sự
hy sinh của Kinh Kha, những sự hy sinh của một
chiến dịch Ðông Tiến, nội dung sự việc
hoàn toàn khác biệt, nhưng cá
tính anh hùng của những con người trong mọi
thời đại được coi là mẫu số
chung.
Muôn đời, những
hy sinh vì đại nghỉa luôn xứng
đáng được lịch sử ghi danh là những
anh hùng hào kiệt.
Những sự hy sinh Ðông Tiến đã
không vô nghĩa. Ảnh
hưởng của những sự hy sinh này
đã và đang nẩy mầm, đơm hoa, kết
trái cho một quê huơng Việt Nam tự do
dân chủ, no ấm trong một ngày sẽ chẳng
còn bao xa.
Trịnh
Hoàng