Những Kinh Kha thời đại

 

Ðể tưởng niệm hương linh các vị Kinh Kha:

Hoàng Cơ Minh

Trần Thiện Khải

Võ Hoàng

Cùng tất cả các KCQ đã vị quốc vong than

 

Trịnh Hoàng

 

 

Buổi trưa thứ sáu 20/7/01, trên đường lái xe tới nhà quàn tại Los Gatos để tham dự tang lễ thân phụ của một niên trưởng Hải-Quân.  Tình cờ qua làn song điện1500AM tại San Jose của đài Little Sàigon, tôi nghe được giọng nói của ông Hoàng Cơ Ðịnh, giọng ông trầm buồn, xúc động, ông loan báo chính thức những sự hy sinh của một số cán bộ nòng cốt thuộc Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt-Nam, trong số nầy có cựu Phó Ðề Ðốc Hoàng Cơ Minh, Chủ Tịch Mặt Trận, cũng là bào huynh của ông.

Trong bầu hương khói nghi ngút tại nhà quàn, tôi thẩn thờ cảm xúc thật sự trào dâng.  Một cảm xúc pha trộn, cùng chia xẽ sự đau buồn mất mát của tang quyến, lẫn lộn với với niềm thương xót vô bờ, đối với những sự hy sinh vị quốc vong thâncủa những tên tuổi một thời tôi đã có cơ duyên biết đến.  Mắt tôi bỗng dưng lệ nhòa…..

Cố Ðề Ðốc Hoàng Cơ Minh.  Khởi từ ngày đầu, khi tôi rời trường mẹ Hải Quân tại Nha Trang, vào giửa thập niên 60.  Tôi đã nghe danh ông là một sĩ quan hăng say với trách nhiệm, cương trực, thanh liêm.  Ông thích hoạt động chính trị, có tinh thần quốc gia cực đoan.  Ngoài giờ công vụ, ông theo học Ðại Học Văn Khoa Sàigon.

Cho đến những năm đầu thập niên 70, khi ông giử Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Nhiệm Thủy Bộ 211 tôi mới có dịp, đôi lần diện kiến ông, qua những buổi họp tham mưu và hành quân.  Dáng dấp ông tầm thước, khoẻ mạnh, hiên ngang, quân phục ông lúc nào cũng tề chỉnh, tay áo luôn được săn quá khuỷu tay.  Thời gian nầy, với trách vụ Trưởng Phòng Hành QuânVùng.  Tôi thường nghe giọng nói sang sảng của ông trên máy âm thoại của các giang đỉnh, ông đi theo trong các cuộc hành quân.  Ông thường hiện diện tại các tuyến đầu của các mặt trận.  Những bạn tôi, Hải Quân Thiếu Tá Bùi Tỵ, Hải Quân Thiếu Tá Liêu Chơn, những Chỉ Huy Trưởng Giang Ðoàn Thủy Bộ, dưới quyền chỉ huy của ông, mỗi khi gặp tôi, thường nhắc đến ông, như là môt trong những vị chỉ huy cấp đại đơn vị trưởng ưu tú, gan dạ nhất của Hải Quân.

Ðầu tháng 2/75, chiến hạm tôi đang công tác tuần tiểu tại Hòn Tre, Vùng 4 Duyên Hải, nhận được công điện thượng khẩn , trực chỉ tăng viện Vùng 2 Duyên Hải, do tình hình chiến sự gia tăng trầm trọng nơi đây.  Một lần nữa, khi tới Vùng , tôi lên trình diện ông.  Lúc nầy, cấp bậc của ông đã là Phó Ðề Ðốc, chức vụ Tư Lệnh Vùng 2 Duyên Hải.  Tình hình an ninh lãnh thổ từ Vùng 1 Chiến Thuật trở vào mỗi ngày mỗi hổn loạn.  Thời gian chiến hạm tuần tiểu, yểm trợ được gia tăng tối đa.  Luôn thường, tôi nhận lệnh, những lời khích lệ trực tiếp từ nơi ông qua máy âm thoại.  Ðôi khi, môt hai giờ sáng còn nghe giọng ông liên lạc với các đơn vị chiến hạm, nhất là với các Chỉ Huy Trưởng Duyên Ðoàn trong lãnh hải của ông.

Những ngày cuối tháng 3/75, tình hình chiến sự càng thêm phần bi đát.  Ghe dân tỵ nạn túa ra biển, xuôi từ Ðànẳng, Chu Lai, Quảng Ngãi, xuống phía nam, mỗi ngày môt đông.  Mặt biển lố nhố đầy ghe.  Chúng tôi ngòai nhiệm vụ tuần tiểu, yểm trợ, lại còn phải lo trợ giúp những ghe dân tỵ nạn.  Nào thực phẩm, nước ngọt, nhiên liệu, dòng kéo nghững ghe hư máy vào bờ… Thành ra nhiệm vụ của chúng tôi trở thành vất vả vô cùng.  Trên chiến hạm, từ trên xuống dưới mệt nhoài, ai cũng mong sớm có chiến hạm ra hay thế để được về bến nghỉ ngơi…. 

Vào thời điểm nầy, Phó Ðề Ðốc Hoàng Cơ Minh được Bộ Tổng Tham Mưu chỉ định thêm chức vụ mới, là kiêm nhiệm Tư Lệnh Tiền Phương Quân Khu 2, lại thêm một chức vụ đặc biệt nữa, Tư Lệnh Mặt Trận tái chiếm Bình Ðịnh, Phú Yên.  Sau buổi họp hành quân, tham mưu với chức vụ mới.  Sáng hôm sau, Căn Cứ Hải Quân Cam Ranh, cũng như tại cầu tàu, nơi các chiến hạm đang nhận tiếp tế.  Không khí như được bừng sinh trở lại.  Nguyên cả một Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến, Sư Ðoàn 22 Bộ Binh, đã được Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận tái tân trang đầy đủ quân dụng, vũ khí.  Tất cả xếp hàng một, kỹ luật xuống các Dương Vận Hạm, Hải Vận Hạm của Hải Quân VNCH, tới buổi trưa, hoàn tất thủ tục lên tàu.  Khoảng 1400H chiều, các chiến hạm tách bến, trực chỉ phương Bắc, để đổ quân tái chiếm Quy Nhơn.  Ðột nhiên các chiến hạm được lệnh trực tiếp từ trung ương chuyển hướng xuôi Nam, chở quân về lại Vũng Tàu.  Chúng tôi chán ngán vô cùng, cả tháng nay mỗi ngày bỏ mỗi tỉnh, cả hai ba ngày sau Việt Cộng mới chạy theo kịp vào để tiếp thu.  Buổi họp tiếp theo trên Tuần Dương Hạm HQ6 ông Minh đã phẫn uất, giận dữ với các chỉ thị bất nhất từ trung ương.  Mắt ông nhòa lệ, nói với tất cả :“Mình đã cố sức bao nhiêu năm chiến đấu chống Cộng Sản.  Dã biết bao xương máu hy sinh, bây giờ bỗng chốc trở thành tan rã một các hết sức vô lý.  Tuy nhiên, chúng ta vẫn cứ cố gắng, còn nước còn tát…” 

Ðầu tháng 4/75 Ông chỉ thị chiến hạm tôi cùng trợ chiến hạm HQ230 trở ngược từ Phan Thiết ra thám sát hải phận Nhatrang (lúc nầy Nhatrang bỏ ngỏ).  Từ ngoài khơi Hòn Dung (Pyramide) chúng tôi chạy bọc vào sát bờ biển Nha Trang, doc theo Ðại Lộ Duy Tân, chạy dài theo bờ biền, hoàn toàn còn vắng vẻ.  Xuống tới Cầu Ðá, vào vịnh Nha Trang, trong lúc đang  chặn hỏi tin tức từ  mấy ghe dân về tình hình, bổng chợt tôi nghe nhiều tiếng nổ, cùng thấy mấy cột nước bắn tung toé chung quanh.  Quan sát tôi thấy hướng đạn 82 ly từ trên đỉnh Hòn Tre bắn xuống.  Nhìn kỷ, chúng tôi thấy trên nóc Ðài Kiểm Báo 204 Hòn Tre đã có màu cờ đỏ.  Chúng tôi báo cáo sự việc, đích thân ông Minh chỉ thị chúng tôi quay trở lại tiếp tục yểm trợ vùng Phan Thiết.

Những ngày đen tối tiếp theo của tháng 4/75 Phó Ðề Ðốc Hoàng Cơ Minh tận lực hết sức, hy vọng từ trung ương sẽ có những chỉ thị chiến thuật mới, mong lật ngược thế cờ.  Nhưng rồi hoàn toàn vô vọng.  Phần lớn do những nguyên do chính trị đã được tính toán trước tại các phiên hội nghị.  Vận nước đã đến lúc tàn.  Cho tới buổi chiều 29/4/75, ông Minh điều động cả Hạm Ðội Hải Quân VNCH di tản chiến thuật ra điểm hẹn Charlie Sierra ( Côn Sơn) .  Khoảng 80% các chiến hạm thuộc Lực Lượng Hạm Ðôi ra tới điểm hẹn an toàn.  Buổi sáng hôm sau 30/4/75 Ðại Tướng Dương văn Minh, vi Tổng Tư Lệnh cuối cùng của Quân Lực VNCH, tuyên bố tất cả buông súng đầu hàng.

Chúng tôi bàng hoàng, ngơ ngẩn, chua xót.  Bao nhiêu năm chinh chiến can trường, giờ tất cả tan biến trong phút giây.  Rồi ra, chẳng biết mai nầy đời sẽ ra sao !!!  Hoang mang và hoang mang cùng cực, ai nấy chán nản, rời rã, nhìn nhau thở dài, ngán ngẩm….

Trả lại tất cả chiến hạm cho Hải Quân Hoa Kỳ tại Subic Bay.  Chúng tôi leo lên những thương thuyền, do Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ mướn, chuyển vận chúng tôi đến đảo Guam.  Tại trại Orote Point, trại đông dân tỵ nạn nhất, ông Minh vẫn thường hay lui tới, an ủi, thăm hỏi anh em Hải Quân.  Tôi vẫn nhớ mãi câu nói của ông trước khi chia tay để ông vào lục địa Hoa Kỳ , “ vào Mỹ, sau nầy mình cố gắng tìm về định cư gần với nhau để có thể kết hợp hoạt động sẽ lại tìm đuờng trở về quê hương…”   Lúc đó đa số tinh thần mọi người đều chán nản, ngở ngàng trước một tương lai vô định.  Chẳng ai muốn để tâm, lời ông nói, nghe thì nghe, ậm ừ cho qua chuyện.  Vậy mà không ngờ chỉ một vài năm sau ông đã giữ đúng lời.  Dấn thân hoạt động cho một ngày về….

Ðời sống tỵ nạn xứ người, mấy năm đầu quay cuồng, vất vả.  Nghe tin ông định cư tại miền Ðông Hoa Kỳ.  Rồi ông lập ra Lực Lượng Quân Nhân Việt Nam Hải Ngoại.  Vào đầu thập niên 80, Lực Lượng này trở thành Lực Lượng Quân Dân Việt Nam Hải Ngoại.  Tiếp theo tổ chức Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam thành hình.  Hệ thống truyền hình CBS phát hình ông trong buổi lễ ra mắt Mặt Trận tại khu chiến, thanh thế Mặt Trận bừng bừng lan rộng khắp nơi.  Chỗ nào có đồng bào tỵ nạn Cọng Sản chỗ đó   tổ chức của Mặt Trận.  Nhất là thời điểm nầy số đồng bào bỏ nước trốn chạy CS ào ạt, càng ngày càng đông.  “Cột đèn biết đi cũng sẽ bỏ nước ra đi”.  Dân chúng trong nước than trời về tập đoàn CS lảnh đạo “đỉnh cao trí tuệ” như vậy.  Ðám lảnh đạo nầy, giáo điều, ngu xuẩn, áp đặt chế độ độc tài đảng trị, tước đoạt hết quyền tự do của người dân.  Do vậy, Mặt Trận ra đời đã đáp ứng đa số nguyện vọng của ngưới tỵ nạn khắp mọi nơi tại hải ngoại.

Những ngày đầu, Mặt Trận phát triển quá nhanh, thêm phần tổ chức hình thành vội vã, do vậy yếu tố nhân sự  lượng, mà số đông, không có phẩm.  Ngay cả trong thành phần cốt cán củ trung ương Mặt Trận cũng vậy.  Nhiều người am tường đã cho rằng ông Hoàng Cơ Minh đã chọn sai những người cộng sự viên thân tín của ông.  Những cộng sự viên nầy đa số “hữu danh vô thực”.  Quả nhiên vài ba năm sau, đầu não Mặt Trận tan rã, không hàn gắn được.  Hơn ai hết, trong vai trò lảnh đạo ông Minh đã cố gắng dàn xếp, nhưng tiếc thay Tự Ái Cá Nhân đã vượt thắng tất cả.  Ðây cũng là một bài học chua cay cho Mặt Trận để kiện toàn tổ chức sau nầy.

Lúc nầy lòng người chùng lại, phân hóa, nghi ngại do sự đánh phá mạ lỵ Mặt Trận từ các nhân vật mới ly khai.  Số tiền yểm trợ kháng chiến được thổi phòng lên gấp trăm lần.  Ða số thầm lặng vẫn theo dỏi các hoạt động mới của Mặt Trận.  Dầu sao trong các tổ chức chống cộng tại hải ngoại, Mặt Trận tương đối vẫn còn có thực lực hơn cả….

Cho tới khoảng tháng 10/87 tin ông Hoàng Cơ Minh, Chủ Tịch Mạt Trân, đã anh dũng hy sinh cùng với môt số kháng chiến quân tại chiến trường Hạ Lào.  Tin nầy do phần lớn các báo chí Việt Ngữ hải ngoại đăng tải.  Họ dựa theo các nguồn tin từ một vài hảng thông tấn ngoại quốc, cũng như báo chí VC trong nước có kèm theo hình ảnh.  Mọi người sửng sốt, bàng hoàng tiếc thưong.  Lực Lượng nòng cốt của Mặt Trận đã bị VC bao vây, chặn đánh thiệt hại nặng nề.  Hậu cứ  quá xa, Mặt Trận phủ nhận hoàn toàn tin tức nầy.  Có lẽ do nguyên tắc an ninh, bảo vệ sự sống còn của tổ chức, của thân nhân các đoàn viên của tổ chức.  Tuy nhiên sau vài ba năm đợi chờ, không thấy ông Hoàng Cơ Minh xuất hiện, hay lên tiếng, đa số đồng bào đều hiẻu nguồn tin đã anh dũng hy sinh đền nợ nước là xác thực……

Cố Ðề Ðốc Hoàng Cơ Minh sinh năm 1935 tại Hà Nội, Ông mất đi ở tuổi 52 trong lúc đại cuộc mới thành hình.  Ước vọng người dân tỵ nạn CS nơi ông để quê hương được giải phóng  khỏi ách bạo tàn của VC, tiêu tan.  Mất ông, mất cả một niềm tin vào tương lai trong công cuộc quang phục quê hương.  “Ðường đi khó, không khó vì ngăn song cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e song”.  Ông Minh đã luôn không ngại đường khó, ông đã dẹp bỏ tình nhà, đặt nợ nước trên hết.  Dấn thân tranh đấu, băng rừng vượt suối dẫn đoàn quân kháng chiến trở về đất Mẹ.  Tiếc thay, vận nước chưa đến, đoàn quân ông đã bi phục kích chận đánh mấy lần.  “Mảnh hổ nan địch quần hồ”, Ông  bị thương cuối cùng phải tự sát để khỏi lọt vào tay VC.  Một vài kháng chiến quân vượt thoát thuật lại chuyện nầy.  Thât đúng “Anh hùng tử, khí hùng nào tử”, Ông quả là mọt hào kiệt.  “Không ai lấy chuyện thành bại để luận anh hùng”, người ta chỉ luận bàn về công cuộc đấu tranh đầy chính nghĩa dân tộc của Ông, và của tổ chức do Ông đã khổ công tạo dựng lên.  Ông đã được toại nguyện như ý Ông thường nhắc nhở mọi người “Ði kháng chiến sẽ có hai cái đích: Một là giải phóng qưê hương, Hai là chết cho quê hương”.  Ông đã chết cho quê hương.  Cá nhân tôi, cũng như đa số, ngưỡng mộ sự hy sinh cao cả của Ông.  Và cùng nhau hy vọng ngày quê hương Việt Nam quang phục, theo ước nguyện của Ông lúc sinh tiền, sẽ chẳng còn bao xa….

Cùng hy sinh với Ông trong cùng một trận đánh, được Mặt Trận công bố, có Trần thiện Khải, tác giả tập nhạc “Trăng chiến khu”.  Anh sinh năm 1949 tại Phan Rang, xuất thân khóa 24 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang.  Mới ra trường anh được thuyên chuyển về chiến hạm tôi.  Khải có một gương mặt hiền lành, nhưng rắn rỏi, anh tương đối ít nói.  Anh là một Sĩ Quan tự trọng, siêng năng, thường hiểu rỏ công việc trách nhiệm của mình.  Luôn được mọi người trên chiến hạm yêu quí do bản chất dễ chịu của anh.  Ðời sống Khải giản dị, tài sản quí giá là cây đàn guitar Espagnol, lúc nào rảnh lại thấy anh ôm đàn, ngồi thơ thẫn đàn hát môt mình.  Khải luôn có sự trầm lặng, riêng tư  môt mình, có khi ngồi hàng giờ với nhau trong quán cà phê, tôi và anh cũng chẳng trao đổi được tâm tình gì, ngoại trừ một số chuyện liên quan đến văn nghệ, các bản nhạc, các ca sĩ, các cuốn sách hay cần đọc….

Sau biến cố 30/4/75, mỗi người một ngã, Khải còn độc thân, tôi chẳng biết Khải lưu lạc nơi nào kể từ ngày chia tay nhau trong trại tỵ nạn.  Cho đến năm 1982, khi xuống Santa Ana thăm mấy người bạn,tình cờ thấy lại hình Khải đi trong hàng đầu của đoàn biểu tình tại New York trước tòa nhà LHQ để tranh đấu cho nhân quyền VN.  Tấm hình được đăng tải trên một tuần báo dưới đó.  Như một sự trùng hợp, về lại nhà một tuần sau gần bưã cơm chiều tôi nhận được phone của Khải gọi hỏi thăm.  Mừng quá, chúng tôi nói chuyện huyên thuyên, đủ mọi chuyện.  Khải, qua mấy người bạn của tôi tại New York đã tìm ra tôi.  Anh đã học xong chương trình Ðại Học 4 năm tại Rhodes Island, vẫn còn tiếp tục độc thân vui tính.  Mấy lần kế tiếp, nói chuyện thêm, anh cho biết nguyên văn “Ðộ nầy em theo thầy Hoàng Cơ Minh.  Ông ấy gia đình nặng gánh mà còn nặng long với đất nước, huống gì mình còn độc thân.  Vả lại em chán đời sống áo cơm bên nầy quá”.  Khải cũng đã tự chọn lựa cho mình con đường gian nguy trở về quê hương qua ngả Ðông Tiến.

Những năm tháng theo sau, tôi có dịp gặp Khải đôi ba lần.  Môt lần tại đại hội Chính Nghỉa ở Washington DC, lần sau tại San Jose trong kỳ đại hội Ðồng Tâm.  Vì quá bận bịu, chúng tôi chỉ thăm hỏi qua loa lẫn nhau.  Nhưng rất đặc biệt trước khi rời Mỹ về khu chiến Khải còn nhớ điện thoại chào tôi.  Chẳng biết nói gì, tôi chỉ biết chúc Khải an lành, nhiều sức khỏe để chịu đựng, kèm theo môt lời dặn chót , luôn nhớ bảo trọng mạng sống của mình.  Thấy tôi có vẻ quá lo lắng, anh có nói “Ðã chấp nhận ra đi, thì cũng có thể chấp nhận không hẹn ngày trở lại  Lần đó tôi có linh cảm sẽ không bao giờ có dịp gặp lại, hay được nói chuyện vói Khải nữa.  Hôm đó, nói chuyện xong với Khải, tôi buồn bã liên tiếp mấy ngày.  Anh đã đúng, anh không chấp nhận ngày trở về để gặp lại những quyến thuộc, bạn bè của anh, trong số nầy có tôi, người đã luôn kính trọng anh, môt người trẻ, không màng danh lọi quyết hiến mình cho đại cuộc.  Anh đã thực sự “Tự thắng để chỉ huy”, bỏ tất cả theo tiếng gọi của lên đường, của tấm lòng yêu nước thương dân của mình.  Tôi thường tự hỏi, vào những giây phút cuối, lúc chiến đấu với quân thù tài sản quý báu nhất nơi anh, cây đàn guitar Espagnol, cùng tập nhạc Trăng Chiến Khu có còn bên anh nữa không???  Khải ơi, thôi nghìn thu vĩnh biệt, hình ảnh Khải sẽ còn mãi trong tâm khảm tôi cùng các bạn bè, cùng thân quyến…..

Thêm một tên tuổi Hải Quân nữa cũng ngã gục cạnh Trần Thiên Khải, đó là nhà văn Vỏ Hoàng, môt tên tuổi mới thành danh trong làng văn hải ngoại.  Anh là môt Ðoàn Viên Hải Quân, còn rất trẻ, sinh quán tại Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.  Anh mất đi ở tuổi 35 để lại người vợ trẻ, một nách ba đứa con thơ còn nhỏ dại.  Chẳng hiểu, hằng đêm vợ anh trong mấy năm đầu chờ anh, có tự chỉ  vào bong  mình để nói với con “không không, bóng cha đêm tối mới về” như người thiếu phụ Nam Xương thời xưa.  Bóng chị, bóng anh đã hoà  nhập làm một.  Phải can đảm lắm, chị mới để anh ra đi.  Võ Hoàng, chỉ một hai lần tôi được thấy anh trong đám đông.  Trông anh thư sinh với cặp kính trắng, vẻ mặt linh hoạt.  Rất tiếc, tôi không có dịp chuyện trò cùng anh.  Tại sao có những người trẻ như anh đang say sưa với nghiệp dĩ văn chương, hấp dẫn, đam mê như vậy mà anh lại có can đảm bỏ hết ra đi để rồi cũng không hẹn ngày trở lại, nhất là trở về  tiếp tục phụ giúp vợ anh chăm sóc đàn con thơ dại của anh.  Ðộng lực thúc đẩy sự ra đi của anh quả là cao cả, vĩ đại….

Mười bốn năm trôi qua, dòng đời bao thay đổi, tổ chức Mặt Trận giờ nầy mới công bố những sự hy sinh, mất mát to lớn của mình, Tổ chức sẽ có những lý lẽ hợp tình hợp lý với tất cả.  Cuộc đấu tranh giải thể chế độ VC cai trị nơi quê nhà vẫn đang tiếp diễn, Mặt Trận vẫn kiên trì.  Hoàng Cơ Minh, Trần Thiện Khải, Võ Hoàng cùng nhiều tên tuổi khác có mất đi, sẽ còn có những Hoàng Cơ Minh, Trần Thiện Khải, Võ Hoàng cùng nhiều tên tuổi khác đứng lên tiếp nối con đường quang phục quê hương.  Chính nghỉa sẽ luôn luôn tất thắng bạo tàn.

Sau nầy, lịch sử có ghi lại công cuộc chiến đấu chống bạo quyền nơi quê nhà từ hải ngọai, chắc sẽ không quên những tên tuổi đã hy sinh trên đưòng Ðông Tiến, trong những trận đánh đẫm máu, ác liệt tại vùng núi non miền Hạ Lào.  Nơi này đã có một cấp chỉ huy gan dạ, một cựu đại đon vị trưởng ưu tú , vang bóng môt thời của Hải Quân VNCH, người lảnh đạo tổ chức đã chiến đấu hào hùng.  Cuối cùng vì thương tích, tự sát để được chết bên cạnh các chiến hữu của mình, nhất là để khỏi lọt vào tay địch quân “ thà chết vinh hơn sống nhục”.

Thuở xưa Kinh Kha,trước khi vào đất chết để hành thích hôn quân Tần Thủy Hoàng, được vài chung rượu tiễn đưa, có thêm tiếng sáo não ruột của người bạn tâm giao Cao Tiệm Ly, thay cho lời vĩnh biệt, Kinh Kha biết trước hiểm nguy vẫn hiên ngang cảm khái, tuốt gươm “Ta tráng sĩ một đi không trở lại…”.  Thời nay, mười bốn năm trước, những anh hùng Ðông Tiến xa vời vợi, những hiểm nguy lại được gia tăng do những bội phản, lọc lừa của những người bạn đồng minh hiểm độc.  Vậy mà họ vẫn cất bước ra đi, “Không thành công cũng thành nhân”.  Giữa sự hy sinh của Kinh Kha, những sự hy sinh của một chiến dịch Ðông Tiến, nội dung sự việc hoàn toàn khác biệt, nhưng cá tính anh hùng của những con người trong mọi thời đại được coi là mẫu số chung.

Muôn đời, những hy sinh vì đại nghỉa luôn xứng đáng được lịch sử ghi danh là những anh hùng hào kiệt.  Những sự hy sinh Ðông Tiến đã không vô nghĩa.  Ảnh hưởng của những sự hy sinh này đã và đang nẩy mầm, đơm hoa, kết trái cho một quê huơng Việt Nam tự do dân chủ, no ấm trong một ngày sẽ chẳng còn bao xa.

 

                                                                                                                                        Trịnh Hoàng

Hosted by www.Geocities.ws

1