Phụ-Bản
1
Hiệp
định phân định vịnh bắc bộ và hiệp định
hợp tác nghề cá
giữa Việt Nam - Trung quốc trong vịnh bắc bộ
Lê
Công Phụng
Thứ trưởng Ngoại giao
Nhân
chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Chủ
tịch Trần Ðức Lương, ngày 25-12-2000, nước ta và
Trung Quốc đã ký Hiệp định phân định
Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác
nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ. Lễ ký kết
được tổ chức với sự chứng kiến
của Chủ tịch Trần Ðức Lương và Chủ
tịch Giang Trạch Dân. Sự kiện trọng đại
mang tính lịch sử này diễn ra vào thời khắc
rất đặc biệt, nhân loại đang hối hả thu
xếp hành trang giã từ thế kỷ XX đi vào
thế kỷ XXI và thiên niên kỷ mới. Sự kiện
này cũng diễn ra vào điểm đỉnh tốt đẹp
của quan hệ Việt - Trung kể từ khi bình thường
hóa quan hệ năm 1991 đến nay. Nhân dân ta đón nhận
việc ký kết hai hiệp định trên như một
thành công lớn của hoạt động đối ngoại
của Ðảng và Nhà nước ta trong năm 2000, coi đó là
nhân tố hết sức quan trọng trong việc tăng cường,
thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, cũng như
trong việc duy trì, củng cố hòa bình,
ổn định và hợp tác trong khu vực.
Trong các vấn đề do lịch sử để lại
trong quan hệ giữa ta và Trung Quốc có 3 vấn đề
liên quan đến biên giới lãnh thổ là xác định
đường biên giới trên đất liền ; phân định
Vịnh Bắc Bộ và vấn đề trên Biển Ðông
(mà thực chất là vấn đề chủ quyền đối
với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như
đối với vùng đặc quyền kinh tế, thềm
lục địa của ta), trong các vấn đề trên,
vấn đề biên giới trên đất liền đã được
giải quyết bằng việc ký kết Hiệp ước
trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày
30-12-1999.
Vịnh
Bắc Bộ được bao bọc bởi Việt Nam và Trung
Quốc có diện tích 123.700 km2, chiều ngang nơi rộng
nhất khoảng 320 km2 (176 hải lý) và nơi hẹp
nhất khoảng 220 km2 (119 hải lý). Chiều dài
bờ biển phía Việt Nam khoảng 763 km2, còn phía
Trung Quốc khoảng 695 km. Phần Vịnh phía ta có
khoảng 1 300 hòn đảo ven bờ, đặc biệt có
đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền nước
ta khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc)
khoảng 130 km.
Vịnh
có vị trí chiến lược quan trọng đối với
Việt Nam và Trung Quốc về an ninh và quốc phòng.
Ðặc thù của Vịnh là chiều ngang tương đối
hẹp, từ trước tới nay hai nước chưa hề phân
định Vịnh. Theo Công ước luật Biển năm 1982
của Liên hợp quốc, thì toàn bộ Vịnh
Bắc Bộ là vùng chồng lấn và trong thực tế
thời gian qua có tranh chấp, ảnh hưởng không
tốt đến quan hệ giữa hai nước.
Trước tình hình đó, hai nước đều có
nhu cầu tiến hành đàm phán để phân định
Vịnh Bắc Bộ nhằm đạt hai mục tiêu cơ
bản và lâu dài : một là xác định đường phân
giới rạch ròi, phân chia vùng biển, vùng đặc
quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước
láng giềng ; hai là giải quyết vấn đề tồn
tại do lịch sử để lại, tạo cơ sở và
động lực thúc đẩy quá trình xây dựng lòng
tin, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác
giữa hai Ðảng, hai nước theo phương châm 16 chữ
mà hai đồng chí Tổng Bí thư đã thỏa thuận.
Ngoài ý nghĩa về an ninh, quốc phòng,
Vịnh Bắc Bộ còn có ý nghĩa lớn
về kinh tế, có nguồn lợi hải sản phong phú.
Hai nước đều có nhu cầu hợp tác đánh bắt,
bảo vệ môi trường và bảo vệ và nuôi
trồng nguồn hải sản trong Vịnh. Vào các năm
1957, 1961 và 1963 hai nước có ký các thỏa thuận
cho phép thuyền buồm của hai bên được đánh
bắt trong Vịnh ngoài phạm vi tương ứng 3 hải lý,
6 hải lý và 12 hải lý tính từ bờ
biển và hải đảo mỗi bên. Các thỏa thuận
này đã hết hiệu lực vào những năm 70. Trong
quá trình đàm phán về phân định Vịnh Bắc
Bộ, phía Trung Quốc kiên trì đề nghị lập
vùng đánh cá chung đồng thời với việc phân định
Vịnh Bắc Bộ và nhấn mạnh nếu không
thỏa thuận được vấn đề này thì khó có
thể giải quyết được vấn đề phân định
Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000.
Ta không chủ trương gắn vấn đề nghề cá
mang tính kinh tế, kỹ thuật với vấn đề phân
định quốc giới mang tính chiến lược lâu dài.
Nhưng ta cũng nhận thức rõ là việc không
giải quyết được vấn đề nghề cá có
thể dẫn đến hậu quả là khó giải
quyết được vấn đề phân định Vịnh
Bắc Bộ trong năm 2000. Lúc đó toàn bộ Vịnh sẽ
tiếp tục bị coi là vùng chồng lấn giữa hai
bên, và tình hình ở đó sẽ tiếp tục
mất ổn định.
Thực tiễn quốc tế cho thấy nhiều nước
có vịnh hoặc vùng biển chung cũng đã thỏa
thuận lập vùng đánh cá chung và về mặt pháp lý
thì điều đó không trái với Công ước luật
Biển năm 1982. Nhằm mục đích tạo thuận
lợi tối đa cho việc giải quyết vấn đề
phân định và trên cơ sở cân nhắc kỹ mọi khía
cạnh trong quan hệ hai nước cũng như thực
tiễn quốc tế, ta đã đồng ý lập vùng
đánh cá chung ở trong Vịnh Bắc Bộ. Cuộc đàm phán về biên giới lãnh
thổ, trong đó có vấn đề phân định Vịnh
Bắc Bộ giữa ta và Trung Quốc đã được
tiến hành từ đầu những năm 70.
Trong
các năm 1974 và 1977 - 1978, hai nước đã tiến hành 2 vòng
đàm phán về phân định. Nhưng do điều kiện lúc đó
nên đàm phán không có kết quả. Sau khi hai nước bình
thường hóa quan hệ, hai bên đã quyết định thương
lượng để giải quyết các vấn đề biên
giới lãnh thổ, trong đó có vấn đề phân định
Vịnh Bắc Bộ. Hai nước đã ký Thỏa
thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết
vấn đề biên giới - lãnh thổ giữa
Việt Nam và Trung Quốc ngày 19-10-1993, trong đó nêu rõ
phương hướng phân định Vịnh Bắc Bộ là
"Hai bên sẽ áp dụng luật quốc tế và tham
khảo thực tiễn quốc tế, theo nguyên tắc công
bằng và tính đến mọi hoàn cảnh liên quan trong
Vịnh để đi đến một giải pháp công
bằng". Thực hiện thỏa thuận đó, từ
1993 đến năm 2000, hai bên đã triển khai 7 vòng đàm
phán cấp chính phủ, 3 cuộc gặp giữa hai Trưởng
đoàn đàm phán cấp chính phủ và 18 vòng đàm phán
cấp chuyên viên.
Một thuận lợi hết sức lớn lao đối
với quá trình đàm phán là quan hệ hợp tác,
hữu nghị giữa hai nước không ngừng được
tăng cường, ngày càng đi vào thực chất và toàn
diện, lãnh đạo của hai bên luôn luôn quan tâm,
chỉ đạo sát sao. Trong các chuyến thăm Trung Quốc vào
năm 1997 của Ðồng chí Tổng Bí thư Ðỗ Mười
và tháng 2-1999 của Ðồng chí Tổng Bí thư Lê
Khả Phiêu, lãnh đạo cấp cao hai nước đạt
được thỏa thuận là khẩn trương đàm phán để
giải quyết vấn đề biên giới trên đất
liền trước năm 2000 và hoàn thành việc phân định
để ký Hiệp định phân định Vịnh
Bắc Bộ trong năm 2000. Với tinh thần đó, trong năm
1998 và 1999 hai bên chủ yếu dành ưu tiên cho việc
giải quyết vấn đề biên giới trên đất
liền. Năm 2000 cuộc đàm phán về phân định
Vịnh Bắc Bộ được đẩy mạnh và đi vào
giải quyết thực chất (1 vòng đàm phán
cấp chính phủ, 3 cuộc gặp liên tiếp giữa 2
trưởng đoàn cấp chính phủ và 8 vòng đàm phán
cấp chuyên viên).
Trong quá trình đàm phán, hai bên đã vận
dụng các nguyên tắc như sau để giải quyết :
một là, căn cứ vào các quy định của Công ước
luật Biển 1982 của Liên hợp quốc cũng như các
nguyên tắc luật pháp quốc tế và tập quán được
công nhận rộng rãi ; hai là, hai bên tính đến các
đặc thù của Vịnh Bắc Bộ như sự hiện
diện của các đảo, chiều dài bờ biển
v.v... ; ba là, việc giải quyết vấn đề phân định
phải xuất phát từ thực trạng cũng như nhu
cầu phát triển quan hệ giữa hai nước ; bốn
là, bảo đảm nguyên tắc công bằng và chiếu
cố lợi ích của nhau.
Về diện tích, phía Trung Quốc kiên trì
chủ trương đại thể chia đôi, thừa nhận ta có
thể nhỉnh hơn nhưng hơn không đáng kể. Ta chủ trương
giải pháp công bằng phải phù hợp với các hoàn
cảnh hữu quan trong Vịnh như sự hiện diện
của các đảo của ta, chiều dài bờ biển
của ta lớn hơn v.v... Do đó, kết quả của
giải pháp phân định phù hợp với yêu cầu ta đặt
ra. Về diện tích tổng thể ta được 53,23%
diện tích Vịnh, Trung Quốc đạt 46,77% (ta hơn Trung
Quốc 6,46% tức là khoảng 8205 km2), đường phân định
cách đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lý, đảo
Cồn Cỏ được hưởng 50% hiệu lực. Về
khía cạnh tài nguyên, giải pháp phân định đạt
được cũng bảo đảm việc phân chia lợi ích
một cách công bằng. Hai bên đã phân chia rõ ràng
phần thềm lục địa để mỗi bên đều có
thể tiến hành thăm dò, khai thác tài nguyên trong
phạm vi thềm lục địa của mình mà không
bị bên kia can thiệp hoặc gây khó khăn. Trong trường
hợp có cấu tạo mỏ vắt qua đường phân định
thì hai bên sẽ thỏa thuận với nhau về
việc khai thác và phân chia lợi ích của việc khai thác
đó.
Cuộc đàm phán về nghề cá được khởi động
muộn hơn. Cho mãi đến tháng 4-2000 ta mới tán thành
đàm phán nghề cá. Qua 6 vòng đàm phán cấp chuyên viên
về nghề cá, hai bên nhất trí lập vùng đánh cá
chung ở trong Vịnh Bắc Bộ từ vĩ độ 20o
xuống đường đóng cửa Vịnh. Vùng này có bề
rộng là 30,5 hải lý kể từ đường phân định
về mỗi phía và có tổng diện tích là 33.500 km2,
tức là khoảng 27,9% diện tích Vịnh. Như vậy, đảm
bảo cách bờ của mỗi nước là 30 hải lý
: đại bộ phận cách bờ của ta 35 - 59 hải lý
và có 2 điểm cách bờ là 28 hải lý. Thời
hạn của vùng đánh cá chung là 15 năm (12 năm chính
thức và 3 năm gia hạn). Hai bên cũng đã thỏa
thuận các điều khoản liên quan đến bảo
vệ môi trường và bảo vệ và nuôi trồng
nguồn hải sản trong Vịnh.
Ba nguyên tắc lớn của vùng đánh cá chung là : vùng
đặc quyền kinh tế của nước nào thì nước
đó có quyền kiểm tra, kiểm soát các tàu cá được
phép vào vùng đánh cá chung ; sản lượng và số tàu
thuyền được phép vào vùng đánh cá chung là dựa trên
nguyên tắc bình đẳng, căn cứ vào sản lượng
được phép đánh bắt, xác định thông qua điều tra
liên hợp định kỳ ; mỗi bên đều có quyền
liên doanh hợp tác đánh cá với bên thứ 3 trong vùng đặc
quyền kinh tế của mình. Hai bên thỏa thuận
lập Uủy ban liên hợp nghề cá để xây dựng
quy chế liên quan đến vùng đánh cá chung.
Ngoài vùng đánh cá chung ra, hai bên thỏa thuận
về dàn xếp quá độ với thời hạn 4 năm
ở phía Bắc vĩ tuyến 20o cho tàu thuyền của
hai bên tiếp tục được đánh bắt. Phạm vi
cụ thể của vùng này hai bên sẽ tiếp tục
thảo luận. Sau thời hạn quá độ, tàu
thuyền của các bên về đánh cá ở vùng đặc
quyền kinh tế của mình, trừ khi được bên
kia cho phép.
Ðồng thời hai bên cũng thỏa thuận
lập một vùng đệm nhỏ ở ngoài cửa sông
Bắc Luân với mục đích là tạo thuận lợi
cho việc ra vào của các tàu cá nhỏ (nếu phát
hiện các tàu đó đánh cá thì cảnh cáo và buộc
rời khỏi vùng nước của mình). Vùng này dài
10 hải lý và tính từ đường phân định
rộng 3 hải lý về mỗi bên.
Về tổng thể, các giải pháp đạt được
trong quá trình đàm phán và được thể hiện trong
hai bản Hiệp định là thỏa đáng, đáp ứng
lợi ích và nguyện vọng của cả hai bên. Các
Hiệp định đó là kết quả của quá trình
đàm phán lâu dài, thể hiện nỗ lực, thiện chí
và tính đến sự quan tâm, nhân nhượng từ cả
hai phía.
Ðối với ta, việc ký Hiệp định
phân định Vịnh Bắc Bộ tiếp theo việc ký
Hiệp ước về biên giới trên đất liền năm
1999, có ý nghĩa rất quan trọng vì qua đó ta
đã đạt được mục tiêu là giải quyết
được hai trong ba vấn đề biên giới - lãnh
thổ tồn đọng lâu nay giữa hai nước. Hiệp
ước biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung
Quốc năm 1999 và Hiệp định phân định Vịnh
Bắc Bộ tạo nên một cơ sở pháp lý
vững chắc để quản lý biên giới, lãnh
thổ, thực hiện mục tiêu là xây dựng biên
giới Việt Nam - Trung Quốc thành biên giới hòa
bình, hữu nghị, ổn định lâu dài, và tạo
động lực thúc đẩy, tăng cường quan hệ hai nước.
Hiệp
định phân định Vịnh Bắc Bộ đã xác định
trọn vẹn đường biên giới lãnh hải
giữa ta và Trung Quốc ở khu vực ngoài cửa sông
Bắc Luân, phân định rõ ràng phạm vi vùng đặc
quyền kinh tế và phạm vi thềm lục địa
của hai nước ở Vịnh. Hiệp định đã
ghi nhận cam kết của hai bên tôn trọng chủ
quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán
của mỗi bên trong phạm vi các vùng biển của mình.
Hiệp định cũng đã đề ra cách giải
quyết khi xảy ra trường hợp hai bên chung nhau các
mỏ tài nguyên khoáng sản nằm trong Vịnh.
Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ
vừa mới ký với Trung Quốc này là Hiệp định
phân định biển thứ hai của nước ta (Hiệp
định phân định biển đầu tiên là Hiệp định
phân định các vùng biển giữa Việt Nam và Thái Lan
ký năm 1997) và là Hiệp định phân định biển
gần đây nhất ở trong khu vực). Do đó ý nghĩa
của Hiệp định này không chỉ dừng lại
trong khuôn khổ quan hệ Việt - Trung mà thực sự
góp phần vào việc ổn định hòa bình
trong khu vực.
Hiệp định hợp tác nghề cá đã góp
phần quan trọng đưa đến việc ký kết
Hiệp định phân định ; thể hiện rõ
sự nhân nhượng, thông cảm lợi ích của nhau, phù
hợp với phương châm "Láng giềng hữu nghị,
hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng
tới tương lai"; trong quan hệ hai nước.
(http://www.cpv.org.vn/tccs/022001/6_lecongphung.htm)
Tạp
chí Cộng sản 1 Nguyễn Thượng Hiền, Hà Nội
- Tel: 8252061, Fax: 8222846 - 19 Ph𓏹m Ngọc Thạch, Q3, Tp
Hồ Chí Minh - Tel: 8225768 - Tổng biên tập: Hà Ðăng.
Phụ
bản 2
Về
việc ký hiệp định phân định vịnh
bắc bộ và hiệp định hợp tác nghề cá
giữa Việt Nam và Trung quốc
Ngày 25 tháng 12 năm 2000, tại Bắc Kinh Trung Quốc,
Chính phủ Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã ký
Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và
Hiệp định hợp tác nghề cá giữa hai nước
trong Vịnh Bắc Bộ. Theo yêu cầu của bạn đọc,
Tạp chí tóm tắt sự kiện này như sau:
A.
Về Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ,
Vịnh Bắc Bộ có diện tích 126.250km2,
chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 310km và nơi
hẹp nhất khoảng 220km. Khác với biên giới trên
bộ, đường ranh giới trong Vịnh Bắc Bộ
giữa ta và Trung Quốc từ trước đến nay chưa
được xác định. Dưới thời Pháp thuộc, chính
quyền Pháp và nhà Thanh mới thoả thuận lấy đường
kinh tuyến Paris 105 độ 04 3 Ðông (kinh tuyến Greenwich
108 độ 03 13" Ðông) để quy thuộc chủ
quyền của các đảo ở khu vực sát cửa sông
Bắc Luân.
Do
đặc thù của Vịnh chưa phân định, nên toàn
bộ Vịnh Bắc Bộ là vùng luôn xảy ra các tranh
chấp giữa ta và Trung Quốc, nhất là về thăm dò
tài nguyên dầu khí và về đánh cá. Do đó, rất
cần đàm phán để ký kết Hiệp định phân
định giữa hai nước. Vào những năm 70, ta và Trung
Quốc đã có hai cuộc đàm phán về vấn đề
phân định Vịnh Bắc Bộ (vào năm 1974 và 1977 -
1978), nhưng chưa có kết quả.
Sau khi hai nước bình thường hoá quan hệ, hai
Ðảng, hai nước đã quyết định giải
quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ,
trong đó có vấn đề phân định Vịnh Bắc
Bộ. Với chủ trương đó, ngày 19-10-1993 hai bên đã
ký "Thoả thuận về những nguyên tắc cơ
bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh
thổ giữa nước Cộng hoà Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa", trong
đó quy định về Vịnh Bắc Bộ là "Hai bên
sẽ áp dụng luật quốc tế và tham khảo
thực tiễn quốc tế theo nguyên tắc công
bằng và tính đến mọi hoàn cảnh hữu quan trong
Vịnh để đi đến một giải pháp công
bằng". Từ đó đến nay, vấn đề phân định
Vịnh Bắc Bộ đã được hai bên bàn bạc
tại 7 vòng đàm phán cấp Chính phủ, 3 cuộc
gặp giữa hai Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính
phủ, 18 vòng đàm phán cấp chuyên viên và một
số vòng họp không chính thức giữa các chuyên
viên phân định.
-
Vào năm 1997, nhân dịp đồng chí Tổng Bí thư Ðỗ
Mười thăm Trung Quốc và tháng 2-1999, nhân dịp đồng
chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu thăm Trung Quốc, lãnh
đạo cao nhất của hai Ðảng, hai nước đã
thoả thuận tích cực thúc đẩy đàm phán để hoàn
thành việc phân định và ký Hiệp định phân
định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000.
-
Trong quá trình đàm phán, hai bên đã căn cứ vào Công
ước năm 1982 của Liên hợp quốc về Luật
biển, các nguyên tắc luật pháp quốc tế và
thực tiễn quốc tế được công nhận, cũng
như tính đến các hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh
Bắc Bộ, thương lượng hữu nghị để
giải quyết vấn đề một cách công bằng,
hợp lý. Dưới sự chỉ đạo chặt
chẽ của Bộ Chính trị và Chính phủ hai nước,
cuối năm 2000 hai bên đã hoàn thành việc phân định
dẫn đến việc ký Hiệp định phân định
Vịnh Bắc Bộ vừa qua.
-
Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ là
hiệp định phân định mang tính tổng hợp. Xác
định rõ biên giới lãnh hải của hai nước
ở ngoài cửa sông Bắc Luân, cũng như giới
hạn vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
của ta và Trung Quốc ở trong Vịnh Bắc Bộ.
Về diện tích tổng thể, tính theo mực nước
trung bình thì ta được 53,23%, Trung Quốc được
46,77% diện tích Vịnh. Ðường phân định cách đảo
Bạch Long Vĩ 15 hải lý (về phía bờ đảo
Hải Nam). Ðường đóng cửa Vịnh nối mũi
Oanh Ca của Trung Quốc, qua đảo Cồn Cỏ đến
bờ biển của Việt Nam. Hiệp định đã
khẳng định nghĩa vụ của hai bên tôn trọng
chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán
của mỗi bên đối với lãnh hải, vùng đặc
quyền kinh tế và thềm lục địa của mình
theo đường phân định. Các trường hợp đường
phân định đi qua các cấu tạo địa chất có
khả năng có dầu khí thì hai bên đã thoả
thuận sau này nếu phát hiện thấy dầu khí
sẽ hợp tác phân chia lợi ích một cách công
bằng khi khai thác.
B.
Về Hiệp định hợp tác nghề cá ở trong
Vịnh Bắc Bộ giữa ta và Trung Quốc.
Vào các năm 1957, 1961 và 1963, ta và Trung Quốc ký các
thoả thuận cho phép tàu thuyền đánh cá của hai bên
được đánh cá chung trong Vịnh ngoài phạm vi tương
ứng 3 hải lý, 6 hải lý và 12 hải lý
tính từ bờ biển và hải đảo mỗi bên. Các
thoả thuận này hết hiệu lực vào đầu
những năm 70. Trong quá trình đàm phán về phân định,
phía Trung Quốc kiên trì đề nghị lập vùng đánh
cá chung đồng thời với việc phân định
Vịnh. Nhằm mục đích tạo thuận lợi
tối đa cho việc giải quyết vấn đề phân định
và trên cơ sở cân nhắc kỹ mọi khía cạnh trong
quan hệ hai nước, luật pháp và thực tiễn
quốc tế (gần ta nhất là thực tiễn ký
Hiệp định vùng đánh cá chung giữa Trung Quốc và
Nhật Bản, giữa úc và In-đô-nê-xi-a), ta đã đồng
ý mở các cuộc đàm phán riêng về vấn đề
hợp tác nghề cá giữa hai nước ở trong
Vịnh Bắc Bộ từ tháng 2/2000. Tháng 9/2000, nhân
chuyến thăm làm việc của Thủ tướng ta tại
Trung Quốc, lãnh đạo cấp cao hai nước
khẳng định ký Hiệp định phân định
Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định nghề cá trong
Vịnh Bắc Bộ vào cuối năm 2000.
-
Qua 6 vòng đàm phán, hai bên đã thống nhất
Hiệp định về hợp tác nghề cá, trong đó
nội dung chính là lập vùng đánh cá chung nơi tàu
thuyền của cả hai bên đều được đánh
bắt theo quy định của Uỷ ban Liên hợp về
nghề cá: Vùng đánh cá chung này nằm ở Nam vĩ
tuyến 20 (phía Nam đảo Bạch Long Vĩ), có bề
rộng là 30,5 hải lý kể từ đường phân định
về mỗi phía và có tổng diện tích 33.500km2,
tức là khoảng 27,9% diện tích Vịnh. Thời
hạn của vùng đánh cá chung là 15 năm. Sau đó, việc
hợp tác tiếp tục như thế nào là tuỳ hai bên
hiệp thương thoả thuận. Ba nguyên tắc lớn
của vùng đánh cá chung là: vùng đặc quyền kinh tế
của nước nào thì nước đó có quyền
kiểm tra, kiểm soát các tàu cá được phép vào vùng đánh
cá chung; sản lượng và số tàu thuyền được phép
vào vùng đánh cá chung là dựa trên nguyên tắc bình đẳng
căn cứ vào sản lượng được phép đánh bắt, xác
định thông qua điều tra liên hợp định ký;
mỗi bên đều có quyền liên doanh hợp tác đánh cá
với nước thứ ba theo các quy định cụ thể
của Hiệp định.
-
Xuất phát từ tình hình đánh bắt của ngư
dân Trung Quốc, hai bên đã đồng ý về dàn
xếp quá độ trong vùng đặc quyền kinh tế
của mỗi bên nằm ở phía Bắc vĩ tuyến
20 cho phép tàu thuyền hai bên được tiếp tục
hoạt động nghề cá trong thời hạn là 4 năm
tại khu vực này. Còn ở phía biển sát cửa
sông Bắc Luân, hai bên đồng ý lập một khu đệm
dài 10 hải lý và rộng 6 hải lý (3 hải lý
về mỗi phía kể từ đường biên giới lãnh
hải) nhằm tạo thuận lợi cho việc ra vào
của tàu thuyền hai bên.
C.
Việc ký Hiệp định phân định Vịnh
Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá
giữa Việt Nam và Trung Quốc là sự kiện quan
trọng đối với nước ta cũng như quan hệ
Việt - Trung
Với việc ký Hiệp định phân định,
ta đã giải quyết dứt điểm được
vấn đề thứ hai trong ba vấn đề biên giới,
lãnh thổ tồn tại lâu nay với Trung Quốc
(biên giới trên bộ, Vịnh Bắc Bộ và Biển
Ðông). Việc phân định một cách rõ ràng biên
giới lãnh hải phía ngoài cửa sông Bắc Luân,
phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và thềm
lục địa của hai nước trong Vịnh sẽ
tạo thuận lợi cho vệc quản lý và duy trì
ổn định ở trong Vịnh, góp phần tăng cường
sự tin cậy giữa hai bên, thúc đẩy quan hệ
hợp tác mọi mặt giữa hai nước.
Tiếp theo việc ký Hiệp ước và giải
quyết vấn đề biên giới với Lào, phân định
vùng biển với Thái Lan, đang tích cực giải
quyết một số vấn đề còn lại về
biên giới trên đất liền và đi tới giải
quyết vấn đề trên biển với Cam-pu-chia,
giải quyết vùng chồng lấn với In-đô-nê-xi-a và
đặc biệt là việc ký Hiệp ước biên
giới trên đất liền giữa ta và Trung Quốc năm
1999, việc ký các Hiệp định phân định và
hợp tác nghề cá ở trong Vịnh Bắc Bộ là bước
tiến mới quan trọng trong việc xây dựng môi trường
hoà bình, ổn định xung quanh nước ta, tạo điều
kiện cho chúng ta tập trung sức lực vào việc xây
dựng và phát triển đất nước.
Việc hai nước Việt Nam - Trung Quốc hoàn thành
giải quyết vấn đề phân định Vịnh
Bắc Bộ góp phần tích cực vào việc củng
cố hoà bình và ổn định ở khu vực./.
(http://www.cpv.org.vn/anpham/tutuong/032001/13_kyhiepdinh.htm)