|
Bấy giờ tin Trần Minh đã
đền nợ nước tại giới tuyến
miền Trung. Sự ra đi của người đàn anh,
của người hùng lý tưởng làm Quang
buồn không ít. Nhưng huyền thoại về
Trần Minh lưu truyền, càng làm chính khí trong người
Quang bừng bừng bốc lên.
Tại sư đoàn 21 bộ binh,
tất cả các hạ sĩ quan cũng như các
Thiếu-sinh-quân mới ra trường, thường
chỉ được theo hành quân như một khinh binh. Đợi
một vài tháng đã quen với chiến trường,
rồi mới được chỉ định làm tiểu
đội trưởng. Nhưng vừa trình diện,
Quang được cử làm trung đội phó ngay, dù
hầu hết các tiểu đội trưởng đều
ở cấp trung sĩ, trung sĩ nhất, mà
những người này đều vui lòng. Họ tuân
lệnh Quang răm rắp!
Sáu tháng sau, đầu năm 1975
nhờ chiến công, Quang được thăng trung sĩ
nhất, nhưng chưa đủ một năm thâm niên, nên chưa
được gửi đi học sĩ quan. Quang trở thành
nổi tiếng trong trận đánh ngày 1-2-1975, tại
Thới-lai, Cờ-đỏ. Trong ngày hôm ấy, đơn
vị của Quang chạm phải tiểu đoàn Tây-đô.
Đây là một tiểu đoàn được thành lập
từ năm 1945, do các sĩ quan Nhật-bản không
muốn về nước, trốn lại
Việt-Nam...huấn luyện. Quang đã được
Đại-tá Hồ Ngọc Cẩn giảng về kinh
nghiệm chiến trường:
" Tây-đô là tiểu đoàn cơ động của
tỉnh Cần-thơ. Tiểu đoàn có truyền
thống lâu đời, rất thiện chiến. Khi tác
chiến cấp đại đội, tiểu đoàn chúng không
hơn các đơn vị khác làm bao. Nhưng tác chiến
cấp trung đội, chúng rất giỏi. Chiến
thuật thông thường, chúng dàn ba tiểu đội
ra, chỉ tiểu đội ở giữa là nổ súng.
Nếu thắng thế, thì chúng băén xối
xả để uy hiếp tinh thần ta, rồi hai
tiểu đội hai bên xung phong. Nếu yếu
thế, thì chúng lui. Ta không biết, đuổi
theo, thì sẽ dẵm phải mìn, rồi
bị hai tiểu đội hai bên đánh ép. Vì
vậy khi đối trận với chúng, phải im
lặng không bắn trả, để chúng tưởng ta
tê liệt. Khi chúng bắt đầu xung phong, thì dùng
vũ khí cộng đồng nã vào giữa, cũng
như hai bên. Thấy chúng chạy, thì tấn công
hai bên, chứ đừng đuổi theo. Còn như chúng
tiếp tục xung phong ta phải đợi chúng
tới gần rồi mơí phản công".
Bây giờ Quang có dịp áp
dụng. Sau khi trực thăng vận đổ quân
xuống. Cả đại đội của Quang bị địch
pháo chụp lên đầu, đại liên bắn xối
xả. Không một ai ngóc đầu dậy được.
Nhờ pháo binh, trực thăng can thiệp, sau 15 phút đại
đội đã tấn công vào trong làng. Vừa
tới bìa làng, thiếu-úy trung đội trưởng
của Quang bị trúng đạn lật ngược. Quang
thay thế chỉ huy trung đội. Trung đội dàn ra
thành một tuyến dài đến gần trăm mét. Đến
đây, thì phi pháo không can thiệp được
nữa, vì quân hai bên chỉ cách nhau có 100 mét,
gần như lẫn vào nhau. Nhớ lại lời
giảng của Cẩn, Quang ra lệnh im lặng,
chỉ nổ súng khi thấy địch. Ngược
lại ngay trước mặt Quang, khoảng 200 thước
là một cái hầm lớn, ngay trước hầm hai
khẩu đại liên không ngừng nhả đạn.
Quang ghi nhận vị
trí hai khẩu đại liên với hai khẩu B40 ra
lệnh:
Sau gần 20 phút, thình lình địch
xả súng bắn xối xả như mưa, như gió,
rồi tiếng hô xung phong phát ra. Chỉ chờ có
thế, M79 của Quang khai pháo. Đại-liên, B40
bị bắn tung lên, trong khi địch đang xung phong.
Bấy giờ trung đội của Quang mới bắn
trả. Chỉ một loạt đạn, toàn bộ phòng
tuyến địch bị cắt. Quang ra lệnh xung
phong. Tới căn hầm, binh sĩ không dám lại
gần, vì bị lựu đạn từ trong ném
ra. Quang ra lệnh cho hai khẩu đại liên bắn
yểm trợ, rồi cho một khinh binh bò
lại gần, tung vào trong một quả lựu đạn
cay. Trong khi Quang hô :
Cánh cửa hầm mở ra, mười tám người,
nam có, nữ có, tay dơ lên đầu, ra khỏi hầm,
lựu đạn cay làm nước mắt dàn dụa.
Đến đây trận chiến chấm dứt.
Sau trận này Quang được tuyên dương công trạng
trước quân đội, được gắn huy chương Anh-dũng
bội tinh với nhành dương liễu. Trong lễ
chiến thắng giản dị, Quang được
một nữ sinh trường Đoàn Thị Điểm quàng
vòng hoa. Nữ sinh đó tên Nguyễn Hoàng Châu, 15
tuổi, học lớp đệ ngũ. Cho hay, anh hùng
với giai nhân xưa nay thường dễ cảm nhau.
Quang, Châu yêu nhau từ đấy. Họ viết thư cho
nhau hàng ngày. Khi có dịp theo quân qua Cần-thơ,
thế nào Quang cũng gặp Châu. Đôi khi Châu táo
bạo, xuống Chương-thiện thăm Quang. Mẹ Quang
biết truyện, bà lên Cần-thơ gặp cha mẹ
Châu. Hai gia đình đính ước với nhau. Họ cùng
đồng ý : Đợi năm tới, Quang xin học khóa
sĩ quan đặc biệt, Châu 17 tuổi, thì cho
cưới nhau.
Nhưng mối tình đó đã đi vào lịch
sử...
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, viên tướng
mặt bánh đúc, đần độn Dương Văn Minh phát
thanh bản văn ra lệnh cho quân đội Việt-Nam
Cộng-hòa buông súng đầu hàng. Tất cả
các đơn vị quân đội miền Nam tuân lệnh,
cởi bỏ chiến bào, về sống với gia
đình. Một vài đơn vị lẻ lẻ còn
cầm cự. Tiếng súng kháng cự của các
đơn vị Dù tại Sài-gòn ngừng lúc 9
giờ 7 phút.
Đúng lúc đó taiï Chương-thiện, tỉnh-trưởng kiêm
Tiểu-khu trưởng là đại-tá Hồ Ngọc
Cẩn. Ông đang chỉ huy các đơn vị thuộc
quyền chống lại cuộc tấn công của
Cộng-quân. Phần thắng đã nằm trong tay
ông. Lệnh của Dương Văn Minh truyền đến. Các
quận trưởng chán nản ra lệnh buông súng.
Chỉ còn tỉnh lỵ là vẫn chiến đấu.
Đại-tá Hồ Ngọc Cẩn ra lệnh:
" Dương Văn Minh lên làm Tổng-thống trái
với hiến pháp. Ông ta không có tư cách của
vị Tổng-tư-lệnh. Hãy tiếp tục
chiến đấu".
Nhưng đến 12 giờ trưa, các đơn vị dần
dần bị tràn ngập, vì quân ít, vì
hết đạn vì mất tinh thần. Chỉ còn
lại bộ chỉ huy tiểu khu. Trong bộ
chỉ huy Tiểu-khu, có một đại đội địa
phương quân cùng nhân viên bộ ham mưu. Đến 13
giờ, lựu đạn, đạn M79 hết. Tới 14
giờ 45, thì đạn hết, làn sóng Cộng-quân
tràn vào trong bộ chỉ huy. Cuối cùng chỉ còn
một ổ kháng cự từ trong một hầm
chiến đấu, nơi đó có khẩu đại liên.
Một quả lựu đạn cay ném vào trong hầm,
tiếng súng im bặt. Quân Cộng-sản vào
hầm lôi ra hai người. Một là đại-tá
Hồ Ngọc Cẩn, tỉnh trưởng, kiêm
tiểu khu trưởng và một trung sĩ
mơí 19 tuổi. Trung sĩ đó tên là Vũ
Tiến Quang.
Bấy giờ đúng 15 giờ.
Kẻ chiến thắng trói người
chiến bại lại. Viên đại-tá chính ủy
của đơn vị có nhiệm vụ đánh tỉnh Chương-thiện
hỏi:
Đại-tá Cẩn trả lời bằng
nụ cười nhạt.
Cộng quân thu nhặt xác chết trong, ngoài bộ
chỉ huy tiểu khu. Viên chính ủy chỉ
những xác chết nói với đại-tá Cẩn:
Đại-tá Cẩn vẫn không trả lời, vẫn
cười nhạt. Trung sĩ Quang ngang tàng:
Viên đại-tá rút súng kề vào đầu Quang:
Quang cười nghạo nghễ:
Một tiếng nổ nhỏ, Quang ngã bật
ngửa, óc phọt ra khỏi đầu, nhưng trên môi
người thiếu niên còn nở nụ cười.
Tôi không có mặt tại chỗ, thành ra không mường
tượng ý nghĩa nụ cười đó là nụ
cười gì? Độc giả của tôi vốn thông
minh, thử đoán xem nụ cươì đó mang ý nghĩa
nào? Nụ cười hối hận ? Nụ cười
ngạo nghễ? Nụ cười khinh bỉ? Hay nụ
cười thỏa mãn?
Ghi chú
Nhân chứng quan trọng nhất, chứng kiến
tận mắt cái chết của Vũ Tiến Quang
thuật cho tác giả nghe là cô Vũ Thị
Quỳnh Chi. Cô là em ruột của Quang, nhỏ hơn
Quang 4 tuổi. Lúc anh cô bị giết, cô mới 15
tuổi (cô sinh năm 1960). Hiện (1999) cô là phu nhân
của bác sĩ Jean Marc Bodoret, học trò của
tôi, cư trú tại Marseille.
Cái lúc mà Quang ngã xuống, thì trong đám đông
dân chúng tò mò đứng xem có tiếng
một thiếu nữ thét lên như xé không gian,
rồi cô rẽ những người xung quanh tiến ra
ôm lấy xác quang. Thiếu nữ đó là Nguyễn Hoàng
Châu. Em gái Quang là Vũ thị Quỳnh-Chi đã
thuê được chiếc xe ba bánh. Cô cùng Nguyễn Hoàng
Châu ôm xác Quang bỏ lên xe, rồi bọc xác Quang
bằng cái Poncho, đem chôn.
Chôn Quang xong, Châu từ biệt Quỳnh-Chi, trở
về Cần-thơ. Nhưng ba ngày sau, vào một buổi
sáng sớm Quỳnh-Chi đem vàng hương, thực
phẩm ra cúng mộ anh, thì thấy Châu trong
bộ y phục trắng của nữ sinh, chết
gục bên cạnh. Mặt Châu vẫn tươi, vẫn
đẹp như lúc sống. Đích thân Quỳnh-Chi dùng mai,
đào hố chôn Châu cạnh mộ Quang.
Năm 1998, tôi có dịp công tác y khoa trong đoàn Liên-hiệp
các viện bào
chế châu Âu (CEP= Coopérative Européenne Pharmaçeutique). Tôi
đem J.M Bodoret cùng đi, Quỳnh-Chi xin được tháp tùng
chồng. Lợi dụng thời gian nghỉ công tác
4 ngày, từ Sài-gòn, chúng tôi thuê xe đi Chương-thiện,
tìm lại ngôi mộ Quang-Châu. Ngôi mộ
thuộc loại vùi nông một nấm dãi
dầu nắng mưa, cỏ hoa trải 22 năm, rất khó
mà biết đó là ngôi mộ. Nhưng Quỳnh-Chi có trí
nhớ tốt. Cô đã tìm ra. Cô khóc như mưa,
như gió, khóc đến sưng mắt. Quỳnh-Chi xin phép
cải táng, nhưng bị từ chối. Tuy nhiên,
cuối cùng có tiền thì mua tiên cũng được.
Giấy phép có. Quỳnh-Chi cải táng mộ Quang-Châu
đem về Kiên-hưng, chôn cạnh mộ của ông Vũ
Tiến Đức. Quỳnh-Chi muốn bỏ hài
cốt Quang, Châu vào hai cái tiểu khác nhau. Tôi là người
lãng mạn. Tôi đề nghị xếp hai bộ
xương chung với nhau vào trong một cái hòm.
Bodoret hoan hô ý kiến của sư phụ.
Ngôi mộ của ông Đức, của Quang-Châu xây
xong. Tôi cho khắc trên miếng đồng hàng chữ: "Nơi đây
AET Vũ Tiến Quang, 19 tuổi,
Giấc mộng của Quang mà tôi muốn nói, là:
được nhập học trường Thiếu-sinh-quân,
rồi trở thành anh hùng. Giấc mộng của Châu
là được chết, được chôn chung với người
yêu. Nhưng ngươì ta có thể hiểu rằng:
Quang thỏa mãn nở nụ cười vì
mối tình trọn vẹn.
Paris ngày 13 tháng 4 năm 1999. |