CHẶNG ĐƯỜNG CUỐI CÙNG DẪN ĐẾN
TỰ DO HẠNH PHÚC.
Sáng sớm ngày 5-8-1992, phi cơ “Hàng không dân dụng Việt Nam”
đưa chúng tôi rời Tân Sơn Nhất Saigon. Bay được khoảng 2 tiếng
đồng hồ, phi cơ hạ cánh xuống phi trường Bangkok Thái Lan. Sau
khi lăn bánh ra khỏi phi đạo, phi cơ không ghé vào trạm tiếp
hành khách chính của phi cảng, chạy đến đậu tại nơi tiếp đón
riêng, phía bên trong khu tiếp liệu của phi trường. Mọi người
xuống phi cơ, vào ngồi trong một dẫy nhà tôn tiền chế, chờ làm
thủ tục giấy tờ xếp chuyến bay đi tiếp. Thời tiết nóng như nung,
mấy chiếc quạt điện cỡ lớn thổi vù vù liên tục, chẳng đem lại
chút gió mát nào. Chuẩn bị đi đường dài bằng phi cơ đến xứ lạnh,
ai cũng phải mặc áo len, khoác áo choàng, áo bành tô, mồ hôi ra
nhễ nhại, khát nước khô cổ họng. Mấy chiếc tủ máy tự động, bán
các hộp nước uống giải khát, được người ta xếp hàng đứng bên bỏ
tiền vào bắt hoạt động liên tục. Cũng may các máy này nhận tiền
Đô La giấy, và thối lại tiền cắc tự động, nếu không th́ đành
chịu nhịn khát.
Làm thủ tục suốt từ lúc xuống máy bay, đến tận 5 giờ chiều mới
xong. Có nhóm được dẫn sang trạm hành khách của phi cảng, lên
phi cơ đi tiếp ngay chiều hôm đó. Có nhóm ở lại tại chỗ chờ, đến
tối mới có chuyến bay. Gia đ́nh tôi lọt ngay vào nhóm chưa có
chuyến bay trong ngày. Lúc 5 giờ chiều, phải lên xe mang theo
tất cả hành lư đă cân gửi theo phi cơ cũng như mang tay, vào
nghỉ tại nơi tạm trú trong thành phố Bangkok.
Nơi tạm trú là một dẫy nhà gạch 3 tầng, trong Khu Khám rộng lớn,
gồm nhiều dẫy nhà giam các tội phạm h́nh sự của thành phố
Bangkok. Mỗi tầng là một pḥng giam rộng thông luôn, nằm ngồi
ngay trên nền xi măng, chứa được khoảng 100 người. Dọc 2 bên
tường có dẫy cửa sổ dài suốt căn pḥng, gắn song sắt. Có đèn
điện chiếu sáng ở giữa pḥng, không có quạt trần nên ban ngày
cũng hơi oi nồng chút đỉnh, nhưng ban đêm th́ lạnh. Chỉ có một
lối ra vào duy nhất, tại nơi đầu cầu thang lên. Pḥng vệ sinh và
pḥng tắm công cộng, ở ngay kế bên đầu cầu thang cũng khá rộng
răi, có nước đầy đủ, không có giấy vệ sinh.
Ai nấy ngỡ ngàng, không ngờ trước khi được hưởng cuộc sống Tự do
Hạnh phúc trên đất nước Hoa Kỳ, ḿnh và thân quyến lại bị buộc
phải nếm thử cái không khí nhà tù của xứ Thái Lan. Đối với Tôi,
đă từng phải chịu đựng khổ nhục, mười mấy năm trời trong các
trại tù tập trung của Cộng sản Việt Nam, quen rồi th́ không sao.
Nhưng quả là một hoàn cảnh vô cùng buồn tủi, cho Vợ Con Cháu đi
theo ḿnh để t́m cuộc sống Hạnh phúc Tự do Dân chủ. Kỷ niệm này
là một vệt đen, làm hoen ố phần nào cái cảm t́nh ban đầu, đối
với việc làm Nhân đạo Vị tha của người bạn Hoa Kỳ tốt bụng, đang
dang tay cứu giúp ḿnh thoát khỏi ách cai trị tàn bạo của Cộng
sản Việt Nam.
Tất cả hành lư nặng mang theo, đều để tập trung trong kho dưới
nhà, có cửa khoá. Mỗi gia đ́nh phải có người theo vào kho kiểm
tra, và xếp dọn hành lư của ḿnh vào chung một chỗ, để khi lên
đường lấy ra không bị thiếu sót. Nhóm chúng tôi được đưa lên
tầng lầu 2. Đă có một số gia đ́nh nằm chờ tại đó từ nhiều ngày
trước. Có gia đ́nh mới ở đây một hai ngày, có gia đ́nh đă phải ở
cả tuần lễ, mà chưa được xếp chuyến bay. Tùy theo những chỗ c̣n
trống, mỗi gia đ́nh tự động chiếm một khu, hoặc ngay giữa pḥng,
hoặc dọc bên tường. Trước khi lên pḥng ngủ tạm, nhân viên hướng
dẫn đă dặn ḍ, mọi người hăy để đồ đạc của ḿnh gọn gàng cho
khỏi bị thất lạc, v́ những người ra đi ban đêm, vội vă có thể
cầm lộn. Hiểu ngụ ư của những lời dặn ḍ, gia đ́nh Tôi chiếm một
chỗ trống sát bên tường. Hành lư để tập trung sát vào tường,
người nằm bao chung quanh phía ngoài. Vậy là yên tâm, chẳng sợ
ai lấy lộn. Ḿnh cũng chẳng sợ lỡ vội vă cầm nhầm của người ta.
Trong khi ở đây, mỗi ngày được phát 2 bữa ăn. Mỗi phần được để
riêng trong một bao ni lông, gồm một nắm cơm và một quả trứng
luộc. Một thùng nước chín để ở đầu pḥng, ḿnh phải tự động lấy
đồ chứa riêng ra đong vào để dùng dần. Ai ăn không đủ no, có thể
yêu cầu nhân viên phục vụ cung cấp thực phẩm, mua giùm ḿ gói có
châm sẵn nước sôi để ăn thêm. Việc nhờ mua đồ ăn thêm, có thể
trả bằng Đô La hoặc tiền Việt Nam. Những người tự nguyện phục vụ,
thuộc trường hợp đợi trả về Việt Nam, thường mời gọi những người
ra đi c̣n sót tiền Cụ Hồ trong túi đổi lấy Đô La, dĩ nhiên là
với giá rẻ hơn giá chính thức 50 phần trăm.
Mấy người t́nh nguyện phục vụ hướng dẫn tại đây, toàn là người
Việt đă ở đây lâu ngày. Họ cũng là người thuộc thành phần đi
định cư, nhưng bị ngă bệnh trong thời gian chờ đợi xếp chuyến
bay, nên cả gia đ́nh phải ở lại chờ chữa hết bệnh, mới được xếp
chuyến bay đi tiếp. Hoặc v́ không có thân nhân bên Hoa Kỳ bảo
lănh, đang chờ kiếm một gia đ́nh Hoa Kỳ nào đó, t́nh nguyện nhận
bảo trợ giúp đỡ khi tới Hoa Kỳ, mới được xếp chuyến bay cho đi.
Cũng có trường hợp các cá nhân v́ lư do nào đó không được đi
tiếp, đợi hoàn tất thủ tục đưa trả về Việt Nam.
Ngay đêm hôm chúng tôi đến tạm trú, có một nhóm cũ được gọi đi
vào lúc nửa khuya, và một nhóm khác ra đi vào lúc sáng sớm ngày
hôm sau. Căn pḥng trở thành rộng mênh mông. Chỉ c̣n gia đ́nh
Tôi và mấy gia đ́nh khác, đi cùng chuyến bay từ Saigon đến ngày
hôm trước. Sáng hôm sau, ngày 6 tháng 8 năm 1992, cả nhóm chúng
tôi mới đến, được gọi xuống văn pḥng làm thủ tục tiếp để xếp
chuyến bay. Cả nhóm được thông báo cho biết, phải chuẩn bị sẵn
sàng để ra phi trường, rời Bangkok Thái Lan trên chuyến bay dự
trù cất cánh lúc 8 giờ tối.
Mọi thủ tục xong suôi, tất cả lại phải xuống văn pḥng nghe
thuyết tŕnh và xem phim hướng dẫn về nếp sống bên Hoa Kỳ, trong
2 tiếng đồng hồ liền. Riêng Tôi được miễn không phải tham dự. Có
lẽ v́ trước kia, Tôi đă có lần sống trên đất Hoa Kỳ cả năm rồi,
nên được miễn. Tôi nằm lại trên lầu trông chừng hành lư cho mọi
ngườiù. Bốn giờ chiều, các chủ gia đ́nh đi chuyến bay tối, phải
xuống văn pḥng nhận vé máy bay, thẻ IOM có ghi tên dán ảnh
riêng của mỗi người để cài lên ngực áo, và một túi ni lông ghi
chữ IOM to tướng, đựng những b́ thơ hồ sơ Y tế, cùng các giấy
hành chánh nhập cảnh Hoa Kỳ. Theo lời dặn, những thứ để trong
túi IOM không được mở ra, cho đến khi tới đất Hoa Kỳ tŕnh cho
nhân viên phụ trách đón tiếp tại phi trường. Trong khi đó, những
người khác trong gia đ́nh lo thu xếp hành lư xuống sân tập trung,
và coi chừng cho nhân viên khuân vác đem hành lư của ḿnh, từ
trong kho ra chất lên xe không thiếu sót.
Nhóm ra đi, kể cả gia đ́nh chúng tôi, gồm khoảng 50 người. Gia
đ́nh Tôi đông nhất là 16 người, c̣n các gia đ́nh khác chỉ có từ
3 đến 10 người. Đúng 6 giờ xe chuyển bánh ra phi trường. Đèn dọc
đường và trên bảng quảng cáo của các nhà hàng, bật sáng trưng đủ
mầu sắc, trông rất đẹp mắt và hấp dẫn. Những ḍng xe hơi lưu
thông buổi tối đông nghẹt. Nhiều khúc bị kẹt làm ứ đọng, phải
nối đuôi nhau chạy chậm rề rề, măi 7 giờ 30 tối chúng tôi mới
tới trạm hành khách chính của phi trường Bangkok. Nhân viên Hoa
Kỳ tại đây làm việc thật chu đáo. Họ biết xe kẹt bị chậm trễ,
nên đă liên lạc thu xếp trước với các giới chức phụ trách phi
trường. Khi đoàn chúng tôi đến nơi, được vào tŕnh Hộ Chiếu, vé
máy bay, cân gửi hành lư và lên phi cơ ngay, không phải khai báo
khám xét ǵ cả. Những hành khách khác đi cùng chuyến đă lên hết
trên phi cơ, đang kiên nhẫn ngồi đợi chúng tôi. Phi cơ đưa chúng
tôi đi là của hăng hàng không Thái Lan.
Máy bay cất cánh lúc 8 giờ tối, bay liên tục tới gần trưa hôm
sau, đáp xuống phi trường quốc tế tại Tokyo Nhật Bản. Chúng tôi
được dẫn vào khu đợi, có nhà hàng bán các thức ăn uống kiểu Âu
Mỹ rất sáng sủa. V́ Tôi nghe nói được tiếng Anh tương đối khá
hơn những người khác, nên trong suốt thời gian chờ đợi, nhân
viên hướng dẫn người Nhật, nhờ Tôi thông dịch hướng dẫn mọi
người. Trong lúc ngồi nghỉ để ăn uống, và đợi chuyến bay của
hăng Hàng không Nhật Bản đưa đi San Francisco, Hoa Kỳ, mọi người
được yêu cầu không nên lang bang đi ra ngoài khu vực chờ đợi.
Tuy nhiên cũng vẫn có đôi người tùy tiện không tôn trọng, nhân
viên trật tự phi trường đă phải can thiệp, dẫn quay trở lại khu
đợi.
Khoảng 2 giờ chiều, nhân viên hướng dẫn đến trao vé máy bay cho
từng gia đ́nh, và cho biết chuyến bay sẽ cất cánh lúc 4 giờ
chiều. Ngồi đợi tiếp đến gần giờ bay, nhân viên hướng dẫn trở
lại, nhờ Tôi gọi mọi người tập trung, và cho biết là nhóm H.O.
chúng tôi được xếp ngồi chung một khu. Họ nhắc nhở cho mọi người
biết, trên mỗi vé đều có ghi rơ số chỗ ngồi riêng. Rồi dẫn đường
cho nhóm chúng tôi, ưu tiên lên phi cơ trước các hành khách đi
cùng chuyến bay. Khi bắt đầu lên máy bay, Tôi tưởng rằng mọi
người đă hiểu, và biết t́m vào ngồi đúng ghế dành cho ḿnh. Nên
thay v́ cùng gia đ́nh đi đầu dẫn lối, Tôi đă nhường cho mọi
người lên trước, gia đ́nh chúng tôi đứng cuối hàng lên sau chót.
Nhưng không ngờ, khi vào trong phi cơ, những người lên trước
không ngồi vào ghế có ghi số trên vé của ḿnh. Thích ngồi đâu,
kéo nhau vào chiếm đại chỗ đó. Những người lên sau bị mất chỗ
ngồi căi lộn om x̣m, kiếm Tôi nhờ can thiệp, làm tắc nghẽn lưu
thông.
Những hành khách phải nhường cho nhóm H.O. chúng tôi lên trước,
đang ùn ùn vào t́m ghế của họ gặp trở ngại, ngạc nhiên nh́n ngó
tỏ vẻ không hài ḷng. Nhân viên phi hành đoàn phải chạy đến, hỏi
xem chuyện ǵ đang xẩy ra. Không thể để những hành khách khác
phải chờ đợi phiền hà, v́ nhóm người H.O. Việt Nam tranh nhau
chỗ ngồi, Tôi phải hết lời năn nỉ những người khiếu nại, vui
ḷng ngồi vào những chỗ c̣n trống cho yên chuyện.
Theo số ghế ghi trên vé máy bay, thân nhân gia đ́nh Tôi 16 người,
được xếp ngồi chung một khu sát bên nhau. Nhưng những người lên
trước đă chiếm mất, đành phải chia nhau ngồi vào những chỗ lẻ tẻ
c̣n lại, trong nhiều hàng ghế cách xa nhau. Trong suốt thời gian
bay, Tôi cứ phải bỏ chỗ ngồi, chạy đi chạy lại hỏi han xem chừng
các con các cháu. Bà Xă cằn nhằn hoài, thật bực ḿnh hết sức,
nhưng đành ngậm tăm chịu đựng biết làm sao hơn.
Trên ngực áo của mỗi người trong nhóm H.O. chúng tôi, đều phải
ghim 1 phiếu b́a cứng mầu đỏ cỡ 5 phân cao, 10 phân rộng, ghi
chữ IOM và Họ Tên, cùng kư hiệu số danh sách H.O. của người mang.
Ngoài ra, c̣n phải đeo thêm nơi túi áo ngực, 1 thẻ IOM nhận diện
khác cũng bằng giấy cứng mầu trắng cỡ 10 X 15 phân. Trên thẻ ghi
Tên Họ, ngày tháng năm sinh, và dán ảnh cá nhân đóng dấu đỏ tṛn
(Intergovernmental Committee for Migration). Phiá trên đầu thẻ,
bên trái có in chữ H.O. to tướng, bên phải đóng dấu đỏ h́nh chữ
nhật ghi Pre-Embarcation Card và ngày làm thẻ 4 Aug 92. Ai cũng
có thể nh́n thấùy và đọc dễ dàng từ xa. Chẳng làm sao dấu được
tông tích, trước những hành khách đi cùng chuyến, toàn là người
thuộc cái xứ mà ḿnh đang đi đến để sống nhờ. Thật xấu hổ quá
chừng! Chuyện lộn xộn này, không xẩy ra trên chuyến bay từ
Bangkok đi Tokyo, v́ các hành khách khác đă lên trước, đang ngồi
đợi nhóm H.O. chúng tôi. Khi chúng tôi lên phi cơ, tiếp viên
hàng không nh́n vé của từng người chỉ chỗ ghế ngồi.
Phi cơ rời Tokyo bay liên tục băng qua Thái B́nh Dương. Lúc đang
mơ màng ngủ, nghe tiếng loa thông báo cho hành khách biết phi cơ
đang vượt qua Kinh Tuyến giờ Greenwitch, phân chia ngày đêm trên
trái đất. Tôi bấm chuông gọi cô tiếp đăi viên, yêu cầu cấp cho
một Chứng Chỉ kỷ niệm chứng nhận ngày giờ bay ngang Kinh tuyến
phân chia ngày đêm giữa Thái B́nh Dương, có chữ kư của Trưởng
phi hành đoàn. Cô ta đi vào pḥng lái một lúc trở ra trả lời,
hăng máy bay của cô không dự trù làm việc này. Thật đáng tiếc!
Hồi năm 1960, Tôi sang Hoa Kỳ bằng phi cơ của hăng hàng không
PANAM. Lúc bay ngang qua Kinh tuyến này, Trưởng phi hành đoàn đă
tự động cấp cho một Chứng Chỉ ghi rơ Họ Tên của Tôi, số chuyến
bay của hăng hàng không PANAM, ngày giờ tháng năm vượt qua Kinh
tuyến phân định ngày đêm trên Thái B́nh Dương, tên và chữ kư của
phi công trưởng phi hành đoàn. Nhưng tờ giấy kỷ niệm qúy báu này
đă bị mất, cùng với tất cả các giấy tờ, h́nh ảnh kỷ niệm khác
của gia đ́nh, vào ngày Việt Cộng xâm lăng Saigon 30 tháng 4 năm
1975.
Gần buổi trưa ngày 7 tháng 8 năm 1992, phi cơ tới Lục địa Hoa Kỳ,
đáp xuống phi trường Quốc tế San Francisco. Mọi người tuần tự
dắt nhau hoà ḿnh cùng các hành khách đi cùng chuyến, rời phi cơ
đi ṿng vèo dọc theo hành lang bít bùng để ra “Cửa Đến”, làm thủ
tục chính thức đặt chân lên đất nước Hoa Kỳ. Ra tới “Cửa Đến”,
có nhân viên nói tiếng Việt đứng đón, mời gọi những người thuộc
diện H.O. đi theo đến khu làm thủ tục riêng. Trong khi làm thủ
tục, phải luôn luôn nh́n chừng khi nào hành lư được thang tự
động đưa ra tới, đến nhận lại ngay để c̣n đem theo chuyển sang
phi cơ khác lên đường đi tiếp.
Tại phi trường San Francisco, từng gia đ́nh được xếp đi theo
những chuyến bay khác nhau, để về các nơi định cư quy định tùy
theo trường hợp riêng của mỗi gia đ́nh. Không biết có gia đ́nh
nào xuống tại đây không? Làm xong thủ tục, Tôi phải đi t́m khu
làm việc của hăng United Airline, để dẫn gia đ́nh chuyển hành lư
tới cân gửi đi chuyến bay cất cánh lúc 2 giờ trưa, rời San
Francisco Tiểu Bang California đến Cedar Rapids Tiểu Bang Iowa,
nơi cậu con trai bảo trợ chúng tôi, đợi đón đưa về chỗ cư ngụ
chính thức.
Nhà ga phi cảng San Francisco rộng mênh mông. Ngoài những quầy
làm việc của các hăng hàng không, c̣n đầy những khu bán thức ăn
đồ uống, quần áo, đồ kỷ niệm địa phương, sách báo, h́nh ảnh...
Hành khách từ bốn phương trên Thế giới đến, đi, ghé chuyển đổi
các chuyến bay, di chuyển bên trong nhà ga tấp nập vội vă, đông
như đi mua sắm trong các siêu thị vào các dịp lễ lớn. Tôi chẳng
có thời giờ mà nḥm ngó.
Khu các “Cửa Đến” và khu các “Cửa Đi” cách xa nhau, phải đi ṿng
quanh lên xuống cầu thang cũng cả dặm đường dài. Để giúp cho
hành khách di chuyển nhanh chóng không mệt mỏi, giữa các khu bên
trong nhà ga phi cảng, người ta có thiết trí những đoạn thang
giây di chuyển tự động trên sàn nhà. Ai không muốn đi bộ, có thể
bước lên đứng cùng với hành lư của ḿnh, rất tiện lợi. Thân nhân
gia đ́nh Tôi chưa đi bao giờ, nên ngại không dám dùng. Đành phải
dắt d́u nhau, vừa đeo trên vai hành lư xách tay và đẩy xe hành
lư nặng đi bộ, suốt quăng đường dài cả cây số. Lại c̣n cái nạn
mấy cháu nhỏ, bước đi ngắn chậm, mấy người đàn ông phải thay
nhau cơng chúng lên lưng đi, để có mặt tại “Cửa Đi” của chuyến
bay kịp giờ ấn định. Vừa vội vừa mệt, ai nấy thở dốc muốn hụt
hơi. Nhưng cũng may, chúng tôi đến nơi vừa kịp lúc các hành
khách đang tŕnh vé để lên tầu.
Bề ngang nước Hoa Kỳ này rộng quá, người ta phải chia ra 2 khu
vực hoạt động chuyển vận khác nhau : các đường bay xuyên Lục
địa, và các đường bay tiếp chuyển trong từng vùng địa phương.
Chuyến bay của chúng tôi không đi thẳng một lèo đến Cedar Rapids
Tiểu bang Iowa. Tới phi trường Denver Tiểu Bang Colorado miền
Trung Hoa Kỳ, chúng tôi phải xuống để đổi sang phi cơ khác đi
tiếp đến Cedar Rapids. Vé máy bay chặng San Francisco-Denver đă
được mua từ trước, nhưng trước giờ bay hành khách phải tự đến
ghi danh giữ chỗ ngồi. Chúng tôi tới sau cùng nên không c̣n ưu
tiên lựa chỗ, do đó gia đ́nh bị chia ra thành nhiều nhóm, ngồi
vào những chỗ c̣n lại trên chuyến bay. Tôi bị xếp ngồi một ḿnh
vào hàng ghế chót sát đuôi máy bay. Đây là vị trí tồi nhất, gần
cửa buồng vệ sinh, và khu nhân viên phục dịch của phi hành đoàn
sửa soạn cung cấp bữa ăn cho hành khách, cũng là nơi hứng chịu
sự trồi xụt nặng nề nhất, mỗi khi máy bay gặp lỗ hổng trong
không trung. Nhưng nếu rủi ro gặp tai nạn máy bay phải đáp khẩn
cấp, th́ khúc đuôi máy bay lại là nơi có nhiều hy vọng sống hơn
khúc giữa và khúc đầu.
Dọc lộ tŕnh bay từ San Francisco đến khoảng qua ranh giới Tiểu
bang Utah vào Tiểu bang Colorado, bất thần gặp một vùng mưa
giông sấm sét rộng lớn, phi cơ phải bay bao ṿng bên ŕa khu
giông nguy hiểm, nên giờ giấc đáp xuống phi trường Denver trễ
mất 30 phút so với lịch tŕnh quy định. Đáp xuống xong, phi cơ
rẽ ra khỏi phi đạo, c̣n phải chạy, ngừng, ṿng vèo theo lệnh đài
điều khiển không lưu, mất 30 phút mới vào tới bến đậu. Ra khỏi
phi cơ, đi dọc theo hành lang dẫn tới “Cửa Đến”, chúng tôi chỉ
c̣n 15 phút để băng suốt chiều dài nhà ga khoảng gần một dặm,
dùng cầu thang tự động lên lầu t́m “Cửa Đi” của chuyến bay đi
Cédar Rapids ghi trên vé. Cũng may, tại phi trường Denver này
chỉ phải xuống đổi máy bay, chớ không phải chờ lấy hành lư ra và
gửi trở lại như ở phi trường San Francisco, nên chúng tôi t́m
được tới nơi “Cửa Đi” vừa kịp giờ lên phi cơ.
Đây là chuyến bay cuối cùng trong ngày, từ Denver Tiểu bang
Colorado đi Cedar Rapids Tiểu bang Iowa. Hành khách ít, có rất
nhiều ghế trống, chúng tôi tha hồ muốn ngồi chỗ nào tùy ư. Hai
tiếng đồng hồ sau khi cất cánh rời phi trường Denver, phi cơ đáp
xuống phi trường Cedar Rapids đúng 9 giờ tối, giờ Miền Trung Hoa
Kỳ (Central time) ngày 7 tháng 8 năm 1992. Lúc đó là 7 giờ tối
tại San Francisco Miền Tây Hoa Kỳ (Pacific time), 10 giờ đêm
cùng ngày 7-8-92 tại Hoa Thịnh Đốn Miền Đông Hoa Kỳ (Eastern
Time), và là 9 giờ sáng ngày 8 tháng 8 năm 1992 tại Saigon Việt
Nam.
Suốt mấy ngày liền, phải ngồi trong phi cơ lên xuống chuyển đổi
chuyến bay hoài, thật là vô cùng mệt mỏi. Cũng may, đến đây là
chấm dứt chặng bay cuối cùng, của cuộc hành tŕnh dài mấy ngày
đêm liên tục, từ Á Châu sang Mỹ Châu của chúng tôi. Trước khi ra
“Cửa Đến” để gặp thân nhân, Vợ Tôi và các cô con gái, con dâu,
phải ghé pḥng vệ sinh tại phi trường để coi lại đầu tóc, trang
điểm sơ sơ cho bớt nét mệt mỏi bơ phờ trên khuôn mặt.
Trong khi Tôi và mọi người đứng đợi, th́ 2 vợ chồng cậu con 31
tuổi và cậu con út rảnh rang, nôn nóng muốn gặp ông Anh sau 21
năm xa cách, phăng phăng kéo hành lư xách tay theo các hành
khách đi cùng chuyến bay ra trước. Nhưng thật ngỡ ngàng, 2 thập
niên là một thời gian khá dài của cuộc đời, làm dáng vóc con
người thay đổi nhiều, nhất là từ tuổi thơ ấu sang tuổi trưởng
thành, Anh Em thấy nhau mà chẳng nhận ra nhau. Măi đến lúc khách
xuống máy bay đă ra hết, những người đợi đón thấy một cậu bé
chạy ra, đến cạnh 3 người đứng đó từ lâu, đảo mắt ngơ ngác như
t́m kiếm ai, chạy lại hỏi mới biết là người nhà. Anh Em Bác Cháu
vừa nhận được ra nhau, th́ Vợ Chồng Tôi và toàn gia quyến cũng
ra đến nơi. Mọi người uà lại ôm nhau mừng rỡ. Cậu con trai lớn
của Tôi, thay đổi thật nhiều, mậm mạp cao lớn như người Âu Tây,
chạy lại ôm chầm lấy 2 Vợ Chồng Tôi, mừng rỡ.
Từ sau biến cố 30-4-1975 Việt Cộng xâm lăng miền Nam, đă tưởng
chẳng bao giờ c̣n hy vọng gặp được con, không ngờ đêm nay Cha
Con lại được trùng phùng. Tôi vô cùng xúc động, nghẹn ngào không
nói được nên lời, chỉ dang rộng hai tay ôm chặt lấy Vợ và Con vỗ
vỗ lên lưng, hai hàng nước mắt giàn dụa.
“Tôi nức nở nói : -Cám ơn Trời Phật, cám ơn Chính phủ và nhân
dân Hoa Kỳ.”
Sau những giây phút xúc động hạnh phúc, Đại gia đ́nh gặp nhau
mừng rỡ, Con trai tôi gọi Vợ và 4 cô con gái đến chào chúng tôi,
và giới thiệu mọi người trong gia đ́nh với nhau. Rồi đưa Vợ
Chồng tôi đến giới thiệu với mấy người bạn Mỹ, Việt, cùng làm
việc chung trong một xí nghiệp với cậu ấy, cũng đến phi trường
đợi đón chúng tôi. Có 5 người Việt trạc tuổi Con trai tôi, và 2
cặp vợ chồng người Hoa Kỳ. Những bạn bè tốt bụng này, đem xe
Minivan và xe du lịch riêng đến phi trường từ lúc 8 giờ tối, để
chờ đón chở chúng tôi về nhà.
Trong số 4 người bạn Hoa Kỳ, có ông bà Homer Stones, bạn vong
niên của Con trai tôi, là những người đặc biệt, chúng tôi nhớ
măi không bao giờ quên. Ông bà Stones là những người rất ngoan
đạo, tốt bạn, lớn hơn Tôi gần chục tuổi, đă nghỉ việc về hưu
trí, nhưng sức khoẻ vẫn c̣n tốt. Ông bà Stones rất qúy mến cậu
Con tôi, và luôn luôn tiếp tay giúp đỡ, y như lo lắng cho con
của chính ḿnh vậy. Hồi Đệ Nhị Thế chiến, ông Stones cũng đă bị
động viên tham gia trận chiến tại Âu Châu, nên rất thông cảm
hoàn cảnh của Tôi và gia đ́nh. V́ thế, ông bà Stones đă tự
nguyện vận động quyên góp các đạo hữu trong Hội Nhà Thờ của ông
bà ấy, giúp thêm để Con tôi có đủ tiền mua vé máy bay cho chúng
tôi sang Hoa Kỳ. Thật là những người nhân hậu đạo đức, Chúa Trời
đă thấy và đă ban ân phước cho ông bà Stones, có được người con
trai duy nhất làm Mục Sư, rao giảng tin mừng và dẫn giắt đàn con
chiên phụng sự Chúa.
Thời tiết tại đây mới bắt đầu vào mùa Thu, chúng tôi ai cũng
phải mặc áo len áo choàng ngoài, vẫn cảm thấy lạnh. Trong khi
những người đi đón, mặc quần áo vải mỏng, loại dùng trong mùa Hè
một cách thoải mái. Nhận lại hành lư chuyển từ phi cơ ra xong,
chúng tôi chia nhau lên 7 chiếc xe để về nhà. Từ phi trường phải
chạy mất 45 phút trên xa lộ, băng qua thành phố Cedar Rapids mới
về tới nhà. Mọi người được con dâu cả của Tôi, đăi một bữa phở
ḅ nhà nấu lấy thật là ngon. Đang ăn uống tṛ chuyện lai rai, cô
con gái và chồng đang cư ngụ tại Quận Orange Nam California, gọi
điện thoại sang hỏi thăm sức khỏe mọi người đi đường ra sao,
cũng như chuyển lời thăm hỏi của một số bạn bè đang định cư tại
Nam California. Bữa tiệc phở mừng hội ngộ, ồn ào măi tới nửa đêm
mới dứt. Mọi người chia tay ra về để chúng tôi nghỉ ngơi, lấy
lại sức sau cuộc du hành dài mấy ngày đêm mệt mỏi.
Căn nhà riêng của Con trai tôi mua, có tới 5 pḥng ngủ mà vẫn
không đủ chỗ cho mọi người, phải nằm choáng đầy cả 2 pḥng khách
trên lầu và dưới nhà. Chúng tôi ở tạm như vậy cả tuần lễ, mới
kiếm thuê được thêm 2 căn nhà khác, đủ chỗ cho mọi người được
thoải mái theo đúng nếp sống bên Hoa Kỳ. Cũng may, nhờ có bà
thông gia ở Texas, Mẹ cô con dâu cả của Tôi, gửi cho 2 ngàn Đô
la, nên mới có tiền đặt cọc thuê được nhà nhanh chóng như vậy.
Nghỉ ngơi lấy lại sức 2 ngày kể từ sau bữa đến, chúng tôi bắt
đầu tuần tự đến các cơ quan công quyền Quận nơi định cư, làm các
thủ tục về Y tế, và An sinh Xă hội. Ông Stones tự nguyện tiếp
xúc hỏi tin tức về các thủ tục phải làm, và đích thân lái xe
riêng đưa chúng tôi đi lo mọi việc. Nhờ thế Con trai tôi không
phải lấy phép nghỉ tại xí nghiệp, để lo lắng cho chúng tôi. Gia
đ́nh đông quá, mỗi lần làm giấy tờ tại đâu cũng phải chia ra
nhiều đợt, đi vào những ngày khác nhau. Tại nơi nào khách hàng
cũng đông, phải xếp hàng lấy thẻ ngồi chờ nhân viên giải quyết,
lần lượt theo thứ tự đến trước sau. Mất thật nhiều thời giờ,
nhưng lúc nào ông Stones cũng vui vẻ, tận tâm giúp đỡ rất chu
đáo, y như lo lắng cho chính thân nhân của ḿnh vậy. Thật là một
ân nhân hào hiệp đáng kính, chẳng bao giờ gia đ́nh chúng tôi
quên ơn hai vợ chồng ông bà Stones.
Độ 10 ngày sau khi tới Hoa Kỳ, những người nhập cư theo diện
O.D.P., nhận được Thẻ Thường Trú Nhân (Permanent Resident)
thường được gọi tắt là Thẻ Xanh (Green Card). Những người nhập
cư theo các diện H.O. và P.I.P., tiếp tục dùng giấy I-94 đă được
cấp ngay từ lúc đặt chân xuống phi trường San Francisco. Những
người thuộc diện H.O. chờ đến khi thời hạn cư trú đủ một năm,
được làm hồ sơ xin cấp Thẻ Xanh. C̣n những người thuộc diện
P.I.P. phải đợi tới 5 năm, mới được coi là đủ thời hạn luật định
để xin cấp Thẻ Xanh. Những người có Thẻ Xanh và cư ngụ liên tục
trên đất nước Hoa Kỳ đủ 5 năm, được quyền nộp đơn xin thi gia
nhập Quốc tịch để trở thành Công dân Hoa Kỳ.
Địa phương nơi chúng tôi định cư, chỉ có khoảng một chục gia
đ́nh người Việt, nên hầu như ai cũng quen biết nhau. Hai ngày
sau khi chúng tôi đến, họ rủ nhau đến thăm và làm quen. Có người
trước thuộc Lực lượng Cảnh sát Quốc gia. Có người là Sĩ quan
Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Cũng có người là Công chức Hành
chánh. Toàn là những người trước đây Tôi chưa gặp bao giờ, nhưng
gặp nhau nơi đất lạ quê người, rất dễ trở thành thân quen. Vào
một ngày Chủ Nhật gần cuối tháng 8 Dương lịch, chúng tôi rủ nhau
xuống tận thành phố Davenport, cách Cedar Rapids chừng 100 dặm
về hướng Đông Nam, sát bên bờ sông Mississippi, giáp ranh với
Tiểu bang Illinois, để tham dự Lễ Vu Lan do một Chùa Việt Nam tổ
chức. (Theo tục truyền ông bà để lại, hàng năm cứ vào ngày Rằm
tháng 7 Âm lịch, người sống tổ chức trai đàn đốt vàng mă, cầu
kinh tụng niệm xin cho linh hồn những người đă chết được xá tội,
ra khỏi Âm ty Địa ngục đi đầu thai kiếp khác.) Thành phố
Davenport có khoảng 20 ngàn người Việt định cư, nhưng số Phật tử
đến tham dự chỉ có khoảng một trăm người. H́nh như đa số người
Việt ở đây theo đạo Thiên Chuá.
Đầu tháng 9, cả gia đ́nh Tôi lần lượt nhận được thẻ An sinh Xă
hội, ông Stones lại phải đưa những người lớn đến cơ quan D.M.V.
(Department of Motor and Vehicle) làm thủ tục thi lấy bằng lái
xe hơi. C̣n 4 đứa Cháu và cậu trai út của Tôi, th́ đưa đến Khu
học chính xin nhập học các lớp tùy theo tuổi. Gia đ́nh các con
Tôi, được chia ra ở nhà thuê tại 3 khu vực xa nhau, nên mấy đứa
nhỏ phải đi học tại các trường công lập khác nhau. Nhưng không
có ǵ trở ngại, v́ hàng ngày trường học có xe đưa đón tận nhà.
Theo luật lệ quy định, gia đ́nh các con Tôi được xếp vào loại có
lợi tức thấp, nhờ thế các trẻ đi học được ăn bữa trưa tại trường
không phải trả tiền. Ngoài chương tŕnh học chung của lớp học,
trẻ c̣n được học những giờ đặc biệt riêng về Anh ngữ căn bản.
Cả gia đ́nh Tôi, ai cũng có bằng Tú Tài Việt Nam toàn phần, ông
Stones khuyên nên vừa đi làm vừa theo học tiếp chương tŕnh Đại
học, tương lai mới có cơ hội kiếm được việc làm tốt và bền vững.
Đầu tháng 9, ông Stones đưa chúng tôi đến thăm trường Đại học
Công cộng Kirwood, nơi ông Stones có nhiều bạn làm Giáo sư, và
Cố vấn hướng dẫn sinh viên. Tại đây, chúng tôi được giúp đỡ điền
đơn xin học bổng hàng năm của Liên Bang, và hướng dẫn lập hồ sơ
ghi danh nhập học khoá mùa Xuân 1993. Sau đó chúng tôi được gọi
tham dự thi kiểm tra khả năng tổng quát, và được cố vấn chỉ nên
học chuyên về Anh ngữ trong Lục cá nguyệt đầu, đến các mùa sau
hăy ghi danh học thêm các môn khác.
Cuối tháng 9, vợ chồng cô con gái cư ngụ bên California lấy phép
nghỉ một tuần lễ, đem con sang thăm chúng tôi. Nhân dịp này,
chúng tôi được đưa đi thăm một Thị trấn gồm toàn người gốc Đức.
(Xưa kia Tổ Tông của họ rời nước đến đây, định cư v́ lư do Tôn
giáo từ năm 1850. Bây giờ địa phương quen gọi là Lănh địa Amana
(Amana Colonies), cách thành phố Cedar Rapids khoảng 30 dặm về
phía Nam. Bắt đầu từ năm 1932, Nhà Thờ Cộng đồng Amana kêu gọi
mọi người gắn bó với nhau để duy tŕ đạo giáo riêng của họ có từ
thời Thế kỷ 17, 18, và liên kết thành một tập thể hoạt động kinh
tế xă hội thuần nhất.) Lănh địa Amana gồm 7 Làng (village), toàn
người Đức cư ngụ trên một vùng đất rộng 26,000 mẫu Anh, dọc theo
ven bờ sông Iowa. Đó là các làng : Amana, East Amana, High
Amana, Homestead, Middle Amana, South Amana, và West Amana. Các
mặt hàng do cư dân trong Lănh địa Amana sản xuất, cung cấp cho
cả thị trường quốc tế lẫn quốc nội, gồm : tủ lạnh, dụng cụ nhà
bếp, hệ thống sưởi và điều hoà không khí. Họ cũng sản xuất đồ
gỗ, thịt gia súc, len và các loại nước uống lạnh rất ngon, đặc
biệt là bia. Lănh địa Amana có xây dựng một khu trưng bầy, theo
khuôn mẫu đặc thù của một làng Đức, để khách bốn phương đến thăm
viếng, mua sắm những sản phẩm và vật kỷ niệm do họ sản xuất.
Khách thăm viếng lúc nào cũng đông, phải xếp hàng lần lượt đi
xem các xưởng sản xuất nước giải khát lạnh, xưởng dệt vải, xưởng
sản xuất các vật dụng trong nhà bằng gỗ trạm trổ rất công phu.
Đặc biệt có một pḥng bầy bán đồng hồ để bàn, treo tường, đặt
trang trí trong nhà, đựng trong các hộp gỗ đủ kiểu, trạm trổ
điêu khác rất tinh vi sắc sảo, theo nét nghệ thuật thuần túy cổ
xưa của dân tộc Đức.
Tại Hoa Kỳ, nh́n trên lịch hàng năm, thấy tháng nào cũng có ghi
ít nhất là một loại Lễ kỷ niệm. Các Siêu Thị tha hồ đua nhau
quảng cáo hạ giá, để thúc đẩy lôi cuốn dân chúng đi mua sắm. Hẳn
đây là một phương thức kinh doanh, tạo cơ hội cho công nghiệp
sản xuất liên tục các loại hàng mới cạnh tranh, để duy tŕ cho
nền Kinh Tế Thị Trường tăng trưởng phồn vinh. Ngược hẳn với lối
kinh doanh bên Việt Nam, những ngày Lễ, Tết, thường là những dịp
cho các nhà buôn tăng giá bán sản phẩm đắt hơn ngày thường. V́
các gian thương thường lợi dụng những dịp này dấu bớt nguyên
liệu đi, tạo ra sự thiếu thốn giả tạo để tăng giá. Nhu cầu sản
xuất tăng, nguyên liệu khan hiếm, do đó người ta phải tăng giá
thành các sản phẩm. Hậu quả là người tiêu thụ phải chịu cứa cổ.
Suốt tháng 10, siêu thị nào cũng trang hoàng thêm những quầy
hàng bầy bán các mặt nạ, quần áo hoá trang dùng cho đêm hội
Halloween (Đêm Ma Qủy) dành cho trẻ em. Ngoài ra, các chợ c̣n
bầy bán các trái bí ngô to tướng, dân chúng mua về khoét các lỗ
mắt, mũi, tai, miệng dữ tợn như đầu ma qủy, thắp đèn bên trong
để trưng bầy ngoài cửa và sân trước nhà. Người ta c̣n treo cả
những h́nh ma qủy, mạng nhện, các con dơi đen, bộ xương người
giả....trên các cửa sổ, cửa ra vào, trước cổng, bao phủ trên cây
trong vườn hoa chung quanh nhà, làm như khu vực riêng của ma qủy
vậy. Đúng buổi tối ngày Thứ Năm tuần lễ cuối tháng 10, chính
thức là đêm hội Halloween, từng tốp thiếu nhi nam nữ mặc đồ hoá
trang Ma Qủy, giắt nhau đến các nhà hàng xóm gơ cửa xin kẹo,
thật là vui. Nhà nào cũng phải mua sẵn thật nhiều loại kẹo, để
ĺ x́ cho các Ma Qủy đến gơ cửa. Người ta tin rằng càng có nhiều
Ma Qủy đến xin kẹo, th́ những ngày tháng tới sẽ gặp nhiều may
mắn hơn trong quá khứ.
Vào đầu tháng 11, vợ chồng cô con gái ở bên California, biết
rằng măi tới tháng 1 đầu năm, khoá nhập trường Đại học mùa Xuân
mới khai giảng, nên mua vé tầu hoả và gửi mời chúng tôi sang
chơi. Nhiều bạn trong Quân đội cũ định cư tại Quận Orange, biết
tin Tôi mới sang Hoa Kỳ cũng gọi điện thoại thăm mừng, và rủ
sang chơi cho biết phong cảnh California. Tiểu Bang nằm bên bờ
biển Thái B́nh Dương rất đẹp, thời tiết ấm áp quanh năm y hệt
Việt Nam, không có mùa đông ngập tuyết giá lạnh như bên Iowa,
nơi Tôi mới tới định cư. Vé gửi cho chúng tôi không phải loại
khứ hồi. Cậu con trai có linh tính sao đó, muốn can ngăn không
cho đi. Nhưng sợ nói ra Cha Mẹ buồn ḷng, đành phải nín thinh để
chúng tôi dẫn cậu trai út, cô con gái thứ và 2 đứa cháu Ngoại
sang Nam California chơi thời gian 2 tuần lễ.
Chúng tôi phải dùng xe hơi đi từ thành phố Cedar Rapids xuống
tận thành phố Burlington, vượt đoạn xa lộ dài khoảng 120 dặm,
mới có ga xe hoả để lên tầu đi California. Chuyến Xe Hoả xuyên
Lục địa đưa chúng tôi đi, khởi hành lúc 9 giờ tối thứ Sáu, chạy
ṛng ră suốt 2 đêm và 2 ngày mới tới nơi. Đoàn tầu chạy băng
ngang suốt miền Nam Tiểu bang Iowa, tiếp tục qua 4 Tiểu bang
Nebraska, Colorado, Utah, Nevada, mới tới Los Angeles miền Nam
Tiểu bang California, vào lúc 4 giờ chiều ngày Chủ Nhật. Dọc
đường, tầu cũng ngừng lại một số ga chính tại các Tiểu bang,
nhưng Tôi không nhớ hết, v́ có lúc dừng ban ngày, có lúc dừng
ban đêm ngủ nên không biết.
Khách đi tầu có 2 hạng. Hạng nhất có giường nằm trong các pḥng
riêng. Hạng du lịch có ghế nệm, lưng tựa ngả ra sau được y như
trên máy bay. Dĩ nhiên gia đ́nh chúng tôi đi vé hạng du lịch,
như đa số dân lao động Hoa Kỳ. Đoàn tầu có toa phục dịch ăn uống
riêng, có bàn ghế ngồi khang trang, dọc theo dẫy cửa sổ kính
rộng, dài 2 bên hông toa xe, cho khách vừa ăn uống vừa ngắm cảnh
thoải mái. Nhưng thường th́ ai cũng lo ăn cho mau xong, để c̣n
nhường chỗ cho người khác, lúc nào cũng đứng xếp hàng đợi rất
đông. Hành khách có thể tới ăn bất cứ lúc nào, gọi mua các món
ăn uống ghi trên bảng thực đơn, như tại các nhà hàng ăn nơi
thành phố. Riêng đối với những khách đi trên các toa hạng nhất,
có thể gọi nhà hàng đem thức ăn đến tận pḥng nằm. Dĩ nhiên phải
trả thêm tiền phục vụ đặc biệt, ngoài món tiền lót tay như
thường lệ. Cũng có một toa đặc biệt, nóc và chung quanh dát toàn
bằng kính mát, cho hành khách lên ngồi hút thuốc, đọc sách, hoặc
ngắm phong cảnh dọc đường.
Tới ga Los Angeles, chúng tôi rời khỏi tầu xuyên lục địa, vào
trong ga t́m chuyển sang hệ thống tầu địa phương. Phải ngồi đợi
khoảng 30 phút mới có chuyến rời Los Angeles đi San Diego. Đây
là loại phương tiện chuyên chở công cộng suốt ngày đêm, cho cư
dân đi làm giữa các thành phố dọc miền Nam California xử dụng,
nên khách lúc nào cũng rất đông. Chậm chân lên sau không c̣n chỗ
ngồi, chúng tôi phải đứng dọc hành lang giữa toa cùng với nhiều
người khác. Cũng may không phải đứng lâu, v́ tầu chỉ chạy khoảng
30 phút đă tới thành phố Fullerton, nơi chúng tôi xuống.
Cô con gái bận đi làm chưa về, anh con rể đem xe đợi đón, chở
chúng tôi từ ga xe hoả về nhà ở thành phố Santa Ana. Hành lư
nặng cồng kềnh cân gửi theo tầu, phải đợi tới sáng hôm sau mới
trở ra ga lấy lại được. V́ người ta chưa kịp chuyển từ tầu xuyên
Lục địa qua chuyến tầu địa phương mà chúng tôi lên đi. Ngay đêm
hôm chúng tôi tới Quận Orange Nam California, 2 ông bạn già Đại
tá Hoàng đạo Thế Kiệt và Hoàng ngọc Tiêu, trước 30-4-1975 cùng
làm việc tại Tổng cục Chiến tranh Chính trị, gọi điện thoại chào
thăm và mời đi ăn mừng tái ngộ tại nhà hàng Sea foods Cove (món
ăn biển, Tầu nấu) ở thị xă Westminster, vào chiều thứ Bẩy cuối
tuần.
Những ngày kế theo, anh con rể chở Tôi đi thăm khu Little
Saigon. Suốt dọc phố Bolsa toàn những tiệm buôn, nhà hàng ăn,
nhà hàng bán đồ ăn nấu sẵn (foods to go), các siêu thị bán thực
phẩm tươi, pḥng mạch Bác sĩ, tiệm bán Âu dược và thuốc Nam,
trung tâm băng nhạc, tiệm cà phê, tiệm phở, tiệm ảnh, tiệm may
quần áo phụ nữ Việt... do người Việt lưu vong tỵ nạn làm chủ.
Tôi được dẫn vào thăm văn pḥng Hội Tương trợ Cựu Tù nhân Chính
trị Việt Nam, do Trung tá Nguyễn Hậu làm Hội trưởng, ở gần Chợ
Little Saigon của ông Trần Dũ, góc đường Brookhurt và Bolsa. Đây
là một Hội Bất Vụ Lợi có giấy phép hoạt động do Chính quyền Tiểu
bang California cấp, để lo giúp đỡ gia đ́nh anh em cựu tù chính
trị mới tới định cư t́m việc làm, xin trợ cấp xă hội cho người
già (SSI) theo luật định, làm hồ sơ xin cấp Thẻ Xanh, cũng như
làm thủ tục nhận bảo trợ, đón tiếp các anh em cựu tù và gia đ́nh
đang làm thủ tục xin rời Việt Nam, đến định cư tại Nam
California theo diện H.O. Tại đây, Tôi gặp anh Thiếu tá Vũ văn
Tụ cựu tù nhân chính trị đang làm Tổng thư kư của Hội, quen biết
từ năm 1965. Hồi đó Tôi làm Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy Trung
ương Địa phương quân và Nghĩa quân, anh Tụ làm việc trong Pḥng
Ba của Bộ Chỉ huy. Gặp nhau anh em mừng rỡ hết chỗ nói.
Qua câu chuyện hàn huyên thăm hỏi hoàn cảnh gia đ́nh, anh Tụ đề
nghị Tôi nên ở lại định cư tại California. V́ Vợ Chồng Tôi nhập
cư theo diện ODP có thẻ Thường Trú Nhân ngay, có con nhỏ dưới 21
tuổi phải nuôi dưỡng, theo luật trợ cấp xă hội của Tiểu bang
California, chúng tôi được hưởng trợ cấp xă hội để nuôi người
con cho tới khi đủ 18 tuổi mới thôi. Ngoài ra, cả 2 vợ chồng và
người con c̣n được cấp thẻ khám bệnh, mua thuốc, và điều trị
bệnh tại nhà thương không mất tiền, cho đến khi người con đủ 21
tuổi mới dứt. Bên Tiểu bang IOWA không có loại trợ cấp xă hội
như vậy.
Tại Nam California, tổng số người Việt định cư đông khoảng hơn 2
trăm ngàn, có rất nhiều công việc làm trong các Tổ chức thiện
nguyện phục vụ xă hội, được chính quyền Tiểu bang hoặc Liên bang
trả thù lao. Hoặc đi làm trong các công ty, cơ xưởng sản xuất tư
nhân do người Việt làm chủ, lănh lương tùy theo khả năng và thời
gian làm hàng ngày, hợp với tuổi và sức khoẻ của Tôi. Ở đây cũng
có rất nhiều các Hội Ái hữu đồng hương, Hội ái hữu Quân Binh
chủng Quân lực Việt Nam Cộng hoà, và Đoàn thể Chính trị đấu
tranh hoạt động hỗ trợ cho đồng bào trong nước, vùng lên lật đổ
Bạo quyền Cộng sản Việt Nam, để sớm thoát ách cai trị tàn bạo
độc tài của Đảng CSVN vong nô vô nhân đạo. Như vậy, so sánh với
t́nh h́nh sinh hoạt của đồng hương Việt Nam tỵ nạn bên Tiểu bang
Iowa, Tôi nhận thấy tại Nam California có môi trường thuận lợi
đáp ứng đủ những điều mong ước của Tôi, nên đă quyết định ở lại
định cư vĩnh viễn tại Nam California.
Tôi điện thoại báo cho con trai bên Iowa biết là không trở lại
Iowa nữa. Cậu ấy rất buồn, nhưng sau khi nghe phân giải kỹ càng,
cậu ấy đă phải xuôi ḷng chiều theo ư muốn để Cha được sống vui
vẻ hạnh phúc, trong những ngày tháng c̣n lại của tuổi già, là
muốn :
-1. Sống tự lập, không lệ thuộc vào sự cấp dưỡng của con, trong
khi c̣n đủ khả năng và sức khỏe tự lo toan cho bản thân, cho Vợ,
và cậu con út.
-2. T́m được chân hạnh phúc trong tuổi già, nhờ có môi trường
tiếp tục giúp ích cho nhân quần xă hội, như đă từng làm trong
quá khứ tại quê hương Việt Nam thân yêu, suốt từ tuổi thiếu niên
cho đến 30-4-1975.
-3. Sống trong khu vực đông đảo đồng hương tỵ nạn, môi trường
thuận lợi tiếp tục cuộc đấu tranh, làm cho nhân dân Thế giới
thấy được mặt thật tàn bạo vô nhân đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam, và hỗ trợ đồng bào trong nước vùng lên lật đổ Bạo quyền Vô
sản chuyên chính, giành lại Tự do, Dân chủ, và Nhân quyền cho
Dân tộc Việt Nam được sống ấm no hạnh phúc.
Một tuần lễ sau khi tới Quận Orange Nam California, Tôi dẫn Vợ
và cậu con trai út đến Sở Xă hội xin được Trợ cấp và Thẻ Y tế
(MediCal), đúng như anh Tụ đă mách bảo. Tôi đi t́m thuê một căn
nhà 2 pḥng trong khu chung cư có đông người Việt tỵ nạn cư trú.
Sau khi dọn vào ở trong chung cư, may mắn làm sao, Tôi gặp được
một bạn đồng nghiệp cũ trong ngành Truyền Tin Quân lực Việt Nam
Cộng hoà, Trung tá Tôn thất Tâm. Anh Tâm đang đi làm cho Trung
tâm thiện nguyện của Quận Cam (Voluntier Center of Greater
Orange County), với giá lương 4 đồng 25 xu 1 giờ, ngày làm 4
tiếng đồng hồ, tuần lễ làm 5 ngày. Anh Tâm đă giới thiệu cho Tôi
đến nộp đơn xin việc. Sau khi phỏng vấn, Trung tâm gửi Tôi đến
phục vụ với tư cách Nhân viên Cao niên thiện nguyện Phụ tá
(S.T.E.P. Senior Assistant) tại D.M.V. Fullerton.
Mục đích của Trung Tâm Thiện nguyện Quận Orange là, giúp cho các
Công dân Hoa Kỳ và Thường Trú Nhân cao tuổi, muốn t́nh nguyện
phục vụ xă hội, có môi trường thực hiện mong ước của ḿnh. Đồng
thời cũng để huấn luyện cho các người Cao niên thành thạo trong
mọi lănh vực sinh hoạt phục vụ xă hội, nên cứ mỗi 2 năm lại được
chuyển sang làm việc phụ tá tại 1 Cơ quan khác. Do đó, chương
tŕnh này được gọi là Senior Training and Employment Program
(S.T.E.P.). Sau thời gian phục vụ tại D.M.V. Fullerton, Tôi được
chuyển sang làm việc tại Cơ quan United States Catholic
Charities (U.S.C.C.) của quận Orange chi nhánh thành phố Garden
Grove, sau cùng chuyển sang phụ việc cho Hội người già Quận
Orange (Vietnamese Community of Orange County), trụ sở đặt tại
đường First, thành phố Santa Ana.
Trong suốt tháng 11, các Siêu thị đua nhau quảng cáo bán đồ hạ
giá, mời gọi dân chúng đi mua sắm để ăn mừng Lễ Tạ Ơn
(Thanksgiving Day) vào ngày Thứ Năm của tuần lễ thứ tư trong
tháng 11. Họ quảng cáo ai mua một lúc trên 20 Đô La hàng hoá, sẽ
được tặng không 1 con gà tây (turkey) đông lạnh nặng cỡ 5 cân
Anh (pound). Mỗi năm vào dịp Lễ Tạ Ơn, dân chúng Hoa Kỳ tiêu thụ
hàng triệu con gà tây, mỗi con nặng từ cỡ 10 đến gần 30 cân Anh.
(Thanksgiving Day là một ngày nghỉ lễ hàng năm được ấn định bởi
một Đạo Luật của Liên bang Hoa Kỳ. Theo các tài liệu giải thích
chính thức, đây là ngày Nhân dân Hoa Kỳ kỷ niệm để nhớ lại, ngày
những người Âu Châu đầu tiên phải lưu vong tới đất Bắc Mỹ bằng
con tầu buồm May Flower, v́ muốn được tự do tôn thờ Đạo giáo
riêng của ḿnh. Họ đă được Thổ dân địa phương, giúp đỡ hướng dẫn
canh tác để sống c̣n. Một năm sau ngày định cư được muà, họ tập
họp dâng lễ vật Tạ Ơn Thiên Chúa đă ban Ơn Lành cho họ. Cũng nhờ
thế mới có Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ ngày hôm nay.)
Trong dịp này, các hăng xưởng công nghiệp lớn thường tặng cho
nhân viên, mỗi người một con gà tây đông lạnh nặng từ 15 đến 25
cân Anh. Cô con gái lớn của Tôi cũng được Xí nghiệp tặng cho một
con gà tây đông lạnh nặng 20 cân Anh. Vợ Chồng cô ấy đem thuê ḷ
nướng nguyên con theo kiểu Hoa Kỳ, rồi mang đến nơi cư ngụ của
chúng tôi xum họp tổ chức mừng Ngày Tạ Ơn, như mọi gia đ́nh đang
sống trên đất nước Hoa Kỳ. Tôi đă cảm tác ghi lại bài thơ sau
đây để lưu niệm :
NGÀY NGÀY TẠ ƠN.
Cha Mẹ đưa Ta nhập cuộc đời,
Dạy theo Chính Đạo, nhớ ơn Trời.
Ơn Thần, ơn Phật, ơn Thiên Chúa,
Ơn kính Tổ Tiên, ơn dưỡng nuôi.
Trời định cho Ta nhận kiếp Người,
Biết yêu, biết ghét, biết đua đ̣i.
Biết trung, biết hiếu thờ Cha Mẹ,
Biết lấy ngọt bùi reo khắp nơi.
Thầy Bạn giúp Ta hiểu được đời,
Hiểu Nhân, hiểu Nghĩa, hiểu Ḷng người.
Hiểu điều Lương thiện, điều Hung ác,
Hiểu Luật bù trừ mỗi cuộc chơi.
Thất bại dạy Ta kinh nghiệm đời,
Dạy khôn, dạy khéo xét dùng người.
Thực hư, trường đoản, tung tùy thế,
Giục hoăn, cương nhu, hạ đúng nơi.
Dân Mỹ giúp Ta đổi cuộc đời,
Cứu Ta ra khỏi ách tôi đ̣i.
Thoát ṿng Cộng sản quân tàn bạo,
Ơn nghĩa muôn đời nhớ chẳng phai.
Nhân Nghĩa Ta theo hợp Đạo Trời,
Công bằng, Bác ái đẹp ḷng người.
Thanh liêm, Chính trực tâm an lạc,
Thẳng bước đường đời chẳng hổ ngươi
Lễ Tạ Ơn, Tháng 11 năm 1992.
Buaro Street, Garden Grove, Nam California.
Công việc Tôi làm chỉ là bán thời gian, không nặng nhọc ǵ. Các
ngày Thứ Bẩy và Chủ Nhật rảnh rỗi, Tôi thường ghé thăm trụ sở
Hội Tương trợ Cựu Tù nhân Chính trị Việt Nam. Nhờ thế Tôi gặp
thêm nhiều bạn cũ, đặc biệt anh Đại tá Dương đ́nh Thụ, bạn từng
cùng theo học Trường Cao Đẳng Quốc Pḥng Việt Nam, phải đi cải
tạo có 3 năm được tha về, và được đi định cư theo diện O.D.P.
sớm hơn mọi người. Trong Hội Tương Trợ anh Thụ là một thành viên
hoạt động rất đắc lực. Ngày 7 tháng 2 năm 1993, Hội Tương trợ
Cựu Tù nhân Chính trị tổ chức ngày Tân Xuân hội ngộ, tại trường
Golden West College. Có khoảng hơn 2 ngàn Cựu tù Chính trị và
gia đ́nh đến tham dự. Gia đ́nh Tôi cũng đến họp mặt. V́ là một
trong mấy gia đ́nh mới tới định cư tại Quận Cam, nên anh Hội
trưởng mời Tôi lên phát biểu ư kiến. Rồi lại giới thiệu cho
phóng viên của các báo Los Angeles Times và Orange County
Register phỏng vấn, để tăng cường cho bài phóng sự của họ thêm
hấp dẫn.
Kết thúc ư kiến phát biểu, Tôi đă tặng toàn thể cử toạ một bài
thơ 8 câu, ghi tóm những suy tư của người cựu Chiến binh Việt
Nam Cộng hoà, đang phải bỏ nước lưu vong tỵ nạn Cộng sản tại Hoa
Kỳ.
MỪNG XUÂN QUƯ DẬU – 1993
Qúy Dậu mừng Xuân nhớ cố hương,
Nhân dân cùng khốn thiếu t́nh thương.
Đêm ngày lận đận giành cơm áo,
Sớm tối âu lo vướng đoạn trường.
Gấu tuyết Liên Xô nay đă xụp.
Sài lang Việt Cộng vẫn c̣n cương.
Thế gian nhân đạo yêu Dân chủ,
Hăy cứu Việt Nam thoát bạo cường.
Garden Grove, Tết Quư Dậu, 23-1-1993.
Cũng kể từ sau ngày Tân Xuân Hội Ngộ này, Tôi bắt đầu viết các
bài tham luận và làm Thơ tranh đấu, đăng trên Nguyệt san Hội Ngộ
của Hội Tương trợ Cựu Tù nhân Chính trị, do Chị Hạnh Nhân, một
Sĩ quan Nữ quân nhân cựu Tù Chính trị, làm Chủ bút. Đồng thời,
Tôi cũng gửi đăng trên các Nhật báo và Tuần báo Việt ngữ phát
hành tại Quận Orange, để góp ư nhắc nhở đồng hương và cựu Chiến
binh Việt Nam Cộng hoà đang lưu vong, đừng quên nhiệm vụ đoàn
kết hiệp lực bên nhau, tiếp tục cuộc đấu tranh hỗ trợ đồng bào
trong nước vùng lên lật đổ bạo quyền Việt Cộng.
Xin ghi lại dưới đây, một trong các bài đă được phổ biến trên
các báo tại Nam California, để thay cho lời kết luận cuốn truyện
dài HỒI ỨC TÙ CẢI TẠO VIỆT NAM này. Bài này đă đăng trên Tuần
báo Lập Trường số 172, phát hành ngày 22-8-1997, do Khu Hội Cựu
Tù nhân Chính trị Nam California chủ trương thực hiện, để phổ
biến trên toàn Thế giới (kể cả Việt Nam). Lúc đó, Tôi được anh
em Cựu Tù bầu ra gánh vác trách vụ Chủ tịch Khu hội Cựu Tù nhân
Chính trị Nam California, thay Giáo sư Phan Ngô hết nhiệm kỳ.
ĐĂ ĐẾN LÚC CHÚNG TA
CẦN THÊM NỖ LỰC MỚI.
Kinh nghiệm ghi nhận được trong quá khứ qua các thời đại, cho
thấy hầu như là một nhu cầu tự nhiên, khi người ta cùng rơi vào
chung một hoàn cảnh, th́ t́m sáp lại gần nhau để nương tựa giúp
đỡ nhau vượt qua mọi khó khăn, chung lưng đấu cật thực hiện
những ǵ cần làm để cùng vươn lên, trở thành một tập thể mạnh có
uy tín, khiến các tập thể khác nể trọng.
Nhưng khi đạt kết quả rồi, bắt đầu phát sinh một tệ trạng không
tránh được, đó là sự tranh chấp giữa những người ham danh giành
quyền lănh đạo. Hậu quả là gây chia rẽ, lủng củng nội bộ triền
miên, làm tŕ trệ việc thực hiện các mục tiêu căn bản cần thiết
đă đề ra lúc ban đầu, và manh nha mầm mống tan ră, khiến quảng
đại quần chúng hoang mang không c̣n biết tin vào ai. Sự kiện này
c̣n tạo muôn vàn khó khăn, cho những người có thành tâm thiện
chí, muốn t́nh nguyện đứng ra gánh vác việc chung sau này, cảm
thấy e ngại thối chí không muốn dấn thân.
Vào những năm cuối thập niên 1950 qua đầu thập niên 1960, sự
lủng củng chính trị tranh giành đ̣i chia chác quyền hành, giữa
các phe nhóm chính trị và chính quyền Đệ nhất Cộng hoà tại miền
Nam Việt Nam, đă dẫn đến cái chết tức tưởi của cố Tổng thống Ngô
đ́nh Diệm. Tiếp theo đó là khủng hoảng lănh đạo, do sự tranh
chấp triền miên suốt mấy năm trời, giữa các nhóm Tướng, Tá tham
gia cuộc đảo chánh lật đổ Tổng thống Diệm ngày 1 tháng 11 năm
1963. Hậu quả là, bọn Cộng sản Việt Nam (CSVN) ở Hà Nội và nhóm
tay sai đón gió trở cờ tại miền Nam, đă lợi dụng cơ hội đẩy mạnh
việc thực hiện nhiệm vụ Quốc tế Cộng sản giao phó, xâm lăng miền
Nam Việt Nam để áp đặt Chế độ Cộng sản trên toàn đất nước Việt
Nam. V́ thế thảm họa 30 tháng 4 năm 1975 đă xẩy ra.
Từ đó đến nay, hơn 70 triệu đồng bào Việt Nam phải chịu bao
thống khổ, dưới ách cai trị độc tài bóc lột tàn bạo của CSVN.
Hàng trăm ngàn người phải bỏ nước vượt biên ra đi t́m Tự do, đă
bỏ thây dưới ḷng biển cả, trong rừng hoang âm u. Hàng trăm ngàn
quân sĩ, nhân viên hành chánh Việt Nam Cộng hoà (VNCH), và thành
viên các Đảng phái chính trị Quốc gia không Cộng sản, bị giam
cầm đầy đọa cực nhục trong các trại tù tập trung cải tạo của
CSVN. Gia đ́nh vợ con của họ cũng bị dồn đi khai khẩn rừng hoang
lập vùng kinh tế mới, phải lao động khổ cực, đói ăn, thiếu
thuốc, chết lần ṃn trong cảnh địa ngục trần gian, chẳng khác ǵ
chồng, cha, anh của họ trong các trại tù cải tạo.
Chỉ một số người may mắn, nhờ bám được vào cuộc di tản của Hoa
Kỳ, sau thời gian ban đầu khó khăn vất vả nơi xứ lạ quê người,
nay đă tạo dựng được cuộc sống ổn định, bảo đảm tương lai sáng
sủa hạnh phúc cho bản thân và con cái, nên mới có th́ giờ rảnh
để nghĩ tới Quốc gia Dân tộc, đúng theo triết lư cổ xưa là : thứ
nhất tề gia, sau mới tham gia trị quốc, để tiến lên lănh đạo
b́nh thiên hạ.
V́ thế, nhiều nhóm chính trị với nhiều danh xưng khác nhau ra
đời, hoạt động theo những chiêu bài đường lối hành động chống
Cộng, quang phục Quê hương khác nhau. Nhóm nào cũng gồm một
thiểu số trí thức, chính trị gia, khoe rằng họ đă được sự hậu
thuẫn của một thế lực kinh tế, chính trị Tư bản nào đó, để chứng
minh nhóm của họ có thế lực hơn các nhóm khác, vững mạnh như một
mũi nhọn sắc bén cứng như thép, đủ khả năng lănh đạo đồng bào
tiếp tục cuộc đấu tranh chống CSVN, quang phục Quê hương.
Nếu chúng ta ví các nhóm đó như những ngón tay thép của một bàn
tay Việt Nam xoè, dùng để đâm vào thân cây chuối CSVN, th́ khi
rút ra các ngón tay thép đó chỉ để lại những lỗ thủng chớ không
làm gẫy được cây chuối. Nhưng, nếu những ngón tay thép đó được
khép lại sát bên nhau, thành một khối để xỉa vào thân cây chuối
CSVN, th́ bàn tay thép đó sẽ tạo được một lằn đứt rộng như dao
chém, khiến cho cây chuối gẫy đổ vào lúc nào mà chúng ta muốn.
Các Cụ ta ngày xưa đă dạy : “Một cây làm chẳng nên non, Ba cây
chụm lại nên ḥn núi cao”. Nếu chúng ta thiệt t́nh có tâm huyết
muốn hy sinh tranh đấu cho Tự do, Dân chủ, Nhân quyền của Dân
tộc Việt Nam, th́ hăy cố gắng hy sinh cái “Tôi” và cái “Nhóm của
Tôi” ngồi lại bên nhau, cùng hoạch định những đường lối hành
động hữu hiệu kịp thời, chia nhau trọng trách hợp với khả năng
sở trường của mỗi nhóm, để thực hiện những việc cần làm, để loại
bỏ được nhóm CSVN và bọn tay sai đón gió trở cờ thân CSVN, để
giải phóng Quê hương Dân tộc Việt Nam thoát ách cai trị độc tài,
độc đảng bóc lột tàn bạo, càng sớm càng tốt.
Con thuyền dân tộc Việt Nam, đă và đang c̣n lênh đênh trên sóng
gió bể khổ, từ hơn nửa Thế kỷ nay rồi. Nếu coi các vị lănh tụ
của các nhóm Chính trị Việt Nam không Cộng sản nói trên, tại hải
ngoại hiện nay là các thuyền trưởng, th́ Dân tộc Việt Nam không
thiếu các thuyền trưởng tài ba. Chẳng lẽ các thuyền trưởng khả
kính này lại không đủ kiên nhẫn, khiêm nhường ngồi lại với nhau,
thảo luận ủy thác cho một người tương đối trội hơn những người
khác, đứng ra trách nhiệm phối hợp cuộc đấu tranh, giành lại con
thuyền Việt Nam thoát khỏi tay của nhóm thủy thủ đoàn Mafia CSVN
độc tài tàn bạo hiện nay sao?
Hơn 70 triệu dân Việt Nam không Cộng sản, trong đó có cả triệu
quân sĩ và nhân viên hành chánh VNCH, đă từng xả thân chiến đấu
cho Dân tộc Quê hương Việt Nam suốt gần nửa Thế kỷ, lại c̣n phải
chịu thêm hàng chục năm khổ nhục, trong các trại tù tập trung
cải tạo của CSVN sau thảm họa 30-4-1975, để Thế giới và toàn dân
Việt Nam thấy được mặt thật tàn bạo vô nhân đạo của CSVN, đang
chờ hành động sáng suốt của qúy vị, và sẵn sàng hỗ trợ qúy vị
trong nỗ lực mới này bằng mọi giá, để Quê hương Dân tộc Việt Nam
của chúng ta, có được Tự do Dân chủ thật sự, và Nhân quyền được
tôn trọng bảo vệ, y như chúng ta và vợ con chúng ta đang được
hưởng, tại những nơi tạm dung trên toàn thế giới này từ hơn 22
năm qua.
Tuy nhiên có một điều chắc chắn cần nên nhớ là, quảng đại quần
chúng Việt Nam không chấp nhận, các đường lối hành động có xu
hướng hoà hợp hoà giải với CSVN dưới bất cứ h́nh thức nào, cũng
như không trông đợi để ngưỡng mộ tài biện luận lư thuyết khoa
bảng xuông, mà trông đợi những hành động dấn thân hy sinh thực
tiễn cho đại cuộc của qúy vị.
Là kẻ sĩ, xin qúy vị hăy chứng tỏ ḿnh là những anh hùng tạo
thời thế, hy sinh v́ hạnh phúc của Dân tộc Việt Nam, chớ không
phải v́ danh lợi cá nhân phe nhóm. Mong lắm thay./.
NGUYỄN HUY HÙNG
Cựu Đại tá, Phụ tá Tổng cục trưởng
Chiến tranh Chính trị Quân Lực Việt Nam Cộng hoà,
kiêm Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến,
Cựu Tù nhân Chính trị, 13 năm lao động khổ sai trong các trại
tập trung cải tạo của CSVN,
Chủ tịch Khu hội Cựu tù nhân chính trị Nam California.
Truyện dài HỒI ỨC TÙ CẢI TẠO VIỆT NAM này, được viết xong vào
ngày Táo Quân lên Trời, 23 tháng Chạp năm Tân Tỵ, tức là ngày 4
tháng 2 năm 2002, tại Quận Orange, Nam California, Hoa Kỳ.
Để chứng minh cho người đọc thấy được, tất cả các mẩu truyện kể
đều thật trăm phần trăm, không hư cấu, nên Tôi đă ghi tên thật
của các nhân chứng. V́ không có được địa chỉ riêng của từng vị
trong hiện tại, Tôi đă không tiếp xúc được để xin phép trước.
Mong các chiến hữu được nêu đích danh vui ḷng thông cảm./.
NGUYỄN-HUY HÙNG.
Những vần thơ đón Tết Nhâm Ngọ, 12 - 2 - 2002.
XUÂN VÙNG LÊN
Phần tư Thế kỷ đă trôi qua,
Nam Bắc đôi nơi họp một nhà.
Khói lửa tương tàn thôi giáng họa,
Đói nghèo tham nhũng lại bùng ra.
Nhân dân gian khổ xây giềng mối,
Việt Cộâng chuyên quyền phá quốc gia.
Con cháu Tiên Rồng ḍng bất khuất,
Vùng lên quét sạch lũ gian tà.
-oOo-
Cùng nhau dựng lại Sơn Hà,
Trồng cây Dân chủ, reo hoa Nhân quyền.
Công bằng Bác ái làm nền,
Phát huy Nam Nữ B́nh quyền Tự do.
Khiết Châu Nguyễn-Huy Hùng
Quận Orange, Nam California.
HẾT