THÀNH QUẢ 13 NĂM ĐỔI
ĐỜI THEO XĂ HỘI CHỦ NGHĨA
Trong lúc đang nằm điều trị bệnh tim mạch, tại Bệnh viện Điện
Biên Phủ chuyên khoa mắt giữa thành phố Saigon, Tôi nhận được
giấy tha ra khỏi Trại cải tạo, vào đúng chiều ngày cuối năm Âm
lịch, áp Tết Mậu Th́n-1988. Được trả lại Tự do sau thời gian dài
đằng đẵng 13 năm trời, chịu bao nhục h́nh đầy đọa trong rừng núi
âm u trên cả 3 miền đất nước, bởi chính sách tập trung cải tạo
thâm độc man rợ, của Nhà Nước Cộng hoà Xă hội Chủ nghiă và Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Không c̣n bị Công An ở bên canh giữ. Bác sĩ trưởng Khu tim mạch
kư giấy cho xuất viện. Cô Con gái đang thăm Tôi, liền thuê xe
xích lô đưa rời khỏi Bệnh viện ngay tức khắc. Với tấm thân tàn
tạ bệnh hoạn bước vào nhà, cả gia đ́nh uà ra ôm Tôi mừng rỡ,
nước mắt đầm đià tạ ơn Trời Phật, Tổ Tiên, đă phù hộ cho c̣n
sống trở về đoàn tụ bên nhau. Các bà Thông gia, Xóm giềng thân
hữu, nghe tin t́m đến mừng thăm tíu tít. Thật là một chiều cuối
năm hân hoan, hạnh phúc nhất trong đời Tôi, từ thuở Cha sinh Mẹ
đẻ chưa từng có.
Trong lúc bận rộn tiếp khách, cậu Con trai lớn phải cầm tờ giấy
tha Tôi ra khỏi Trại tù, đến nhà bà Tổ trưởng Tổ Dân Phố và cơ
quan Công An Phường 10 Quận Phú Nhuận, báo cáo Hộ khẩu có thêm
người cư trú. Nếu không, giữa đêm Công An có thể tới nhà bắt đi
giam, v́ vi phạm luật lệ di trú của Nhà Nước. Nhờ được tha trong
thời gian Nhà Nước đang áp dụng Chính sách “cởi mở đổi mới”, nên
cũng không gặp khó khăn ǵ cho lắm. Cậu con Trai kể cho biết,
lúc tới tŕnh giấy, ông Trưởng Công An Phường chỉ hỏi : “-Anh
Hùng đâu, sao không đến tŕnh diện?” Con trai Tôi trả lời :
“-Ông Già của Tôi đang nằm Nhà thương mổ mắt, được lệnh tha mới
đón về nhà hồi chiều này. Người c̣n yếu, mắt đang băng kín nên
không thấy đường đi, mong anh thông cảm. Có chút quà biếu anh
dùng lấy thảo đón Xuân, chia vui cùng gia đ́nh chúng tôi.” Mọi
việc êm xuôi, lấy được lời ghi nhận ngày giờ đă tŕnh diện, chữ
kư và dấu mộc đỏ của Công An Phường đóng trên mặt sau tờ giấy
tha. Thế là xong bước thủ tục thứ nhất, tạm coi là yên bụng.
Giờ Giao Thừa điểm, lẻ tẻ bắt đầu có những tiếng pháo nổ, tạch
tạch đùng tại các trụ sở cơ quan Nhà Nước, phá tan bầu không khí
thanh tịnh của đêm khuya trừ tịch. Tôi giật ḿnh thức giấc, mặc
bộ quần áo sạch sẽ, bước ra hàng lan can trên lầu, đến đứng
trước chiếc bàn vuông nhỏ. Trên bàn, Vợ tôi đă bầy sẵn chiếc lư
hương, cặp đèn cầy (nến), mâm ngũ quả, chai rượu, 3 chiếc tách
hột mít, b́nh bông vạn thọ, cặp bánh chưng và hộp mứt thập cẩm.
Tôi thắp nến, rót rượu, đốt sáng 3 nén nhang, chắp 2 tay dơ cao
ngang trán, lâm râm khấn tạ ơn 9 phương Trời, 10 phương Đất, Chư
Phật 10 phương, các Vị Thần linh, Tổ Tiên, đă che chở cho c̣n
sống về đoàn tụ với Vợ Con, và cầu xin phù hộ cho gia đ́nh được
mọi sự an b́nh thịnh vượng, hơn những ngày năm cũ vừa qua.
Khấn vái xong, đứng lặng người nh́n quang cảnh phố xá vắng hoe,
tâm hồn xúc động, mắt rưng rưng lệ, nhớ lại những đắng cay tủi
nhục đă phải chịu đựng suốt 13 năm qua. Mỗi lần Xuân về, chỉ
nhắm mắt chắp tay ngồi xếp bằng theo thế Kiết già, ngay trong
mùng trên xạp ngủ trại giam, giữa nơi rừng núi âm u, lâm râm cầu
nguyện. Những dịp ấy chẳng bao giờ cầu xin ǵ cho bản thân, mà
chỉ cầu xin cho Vợ Con, thân quyến, đồng bào được ngày ngày cơm
no áo ấm, cho vận nước sớm đổi thay, để mọi người được đoàn tụ
sống trong Tự do, Dân chủ, Thanh b́nh. Lễ rước Tân Niên theo lệ
cổ truyền do Ông Bà để lại xong, cả nhà Vợ Chồng Con Cháu quây
quần chúc nhau sức khoẻ, ăn bánh chưng dưa món củ kiệu, uống trà
đón Xuân mới. Thật là mau, mới ngày nào ra đi các Con c̣n nhỏ
dại, nay trở về thấy đùm đề 2 cháu nội, 2 cháu ngoại chưa biết
nói trọn câu cho đủ lời, quấn quưt giành nhau ngồi bên Ông Bà
đ̣i ăn tíu tít.
Sáng sớm mồng Một Tết, lúc đường xá c̣n vắng tanh, Vợ tôi ở nhà
lo làm cơm cúng Gia Tiên. Mấy đứa Con và Cháu dắt Tôi “xuất hành”
đi Chùa lễ Phật đầu năm, cầu phước cầu tài đem về tự “xông đất”
cho yên tâm. Để pḥng trường hợp chẳng may, gặp người nặng vía
hoặc khắc tuổi, đạp đất xông nhà ḿnh đầu năm, có thể đem lại
những điều không may. Chúng tôi đi bộ đến Chùa Giác Ngạn, cách
nhà khoảng một cây số. Chùa này ở trong ngơ, phía sau lưng Chợ
Mới (mở sau 30-4-1975 gần cổng xe lửa số 6) giữa xóm đông dân cư,
với đủ loại nhà : villa, phố gạch mái tôn, nhà lầu đúc, nhà trệt...
có đường đá đủ rộng cho xe hơi chạy. Đây là ngôi Chùa do Thượng
Tọa Thích Thanh Long, Giám đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo Quân Lực
Việt Nam Cộng Hoà xây dựng và chủ tŕ. Trong khi Thượng Tọa
Thanh Long phải đi học tập Cải tạo, Vị Thượng Tọa Phụ tá lên Chủ
tŕ thay.
Chung quanh khu chúng tôi ở, có nhiều Chùa khác gần nhà hơn,
nhưng Tôi ưu tiên đi Chùa Giác Ngạn, v́ b́nh Tro Cốt của Nhạc
Mẫu được gửi trong Nhà Vong tại Chùa này. Mười ba năm rồi, chưa
có dịp quỳ lạy di cốt của người Mẹ hiền, thuở sinh tiền đă dầy
công nuôi dưỡng dạy dỗ Vợ và các Con của Tôi. Ngày 2 tháng 9 năm
1966, Nhạc Mẫu của Tôi qua đời, chôn tại Nghĩa trang Bắc Việt
Tương Tế khu Xóm Mới G̣ Vấp. Mộ phần được xây Kim tĩnh, dát đá
cẩm thạch cẩn thận. Đến năm 1987, Chính quyền Cộng sản địa
phương đuổi Nghĩa trang phải rời đi nơi khác. Lợi dụng dịp thân
nhân đến bốc mộ, kẻ xấu trà trộn phá các mộ phần chưa có thân
nhân đến lo, lấy đá cẩm thạch và gạch xây đem đi bán lấy tiền.
Mộ Nhạc Mẫu của Tôi cũng bị nạn đập phá này. Gia đ́nh nào không
biết, hoặc chần trừ chưa kịp thi hành lệnh, Nhà Nước tự tiện cho
người đập phá, bốc tập trung, không cần thông báo cho thân nhân
biết đem đi đâu. May bè bạn chúng tôi, có thân nhân qua đời cũng
chôn cùng Nghĩa trang, biết được ghé nhà thông báo. Vợ và các
Con Tôi lo thuê người bốc và thiêu hài cốt, để vào b́nh đem gửi
nơi Chùa Giác Ngạn. B́nh tro cốt gửi tại Chùa này, v́ sau khi
Tôi đi tŕnh diện học tập cải tạo vào tháng 6 năm 1975, ở nhà
các con của Tôi phải vừa đi học, vừa đi làm thợ cho Tổ hợp mành
trúc kiếm cơm ăn hàng ngày. Trụ sở Tổ hợp đặt tại Chùa Giác Ngạn,
nên trở thành thân quen với Thượng Toạ chủ tŕ.
Sau khi lễ Phật, thăm b́nh Tro Di Cốt của Mẹ xong, Tôi ghé qua
nhà khách chúc Tết Thượng Tọa chủ tŕ Chùa. Nghe mấy Phật tử nói
chuyện với nhau, mới biết Thượng Tọa Thích Thanh Long đă được
tha khỏi trại cải tạo, hiện đang cư trú tại Chùa. Tôi dắt bầy
Con Cháu lên pḥng riêng của Thượng Tọa Thanh Long, chào chúc
Tết. Gặp nhau hân hoan mừng rỡ, chẳng ai muốn nhắc chuyện quá
khứ, chỉ thăm hỏi về cuộc sống hiện tại và dự tính cho tương lai,
làm sao thích ứng được với hoàn cảnh khó khăn đương thời. Thượng
Tọa Thanh Long được tha trước Tôi 6 tháng. Ngài bệnh hoạn gầy
yếu hơn những năm, bị nhốt chung với Tôi tại K1, Trại Thanh
Phong, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá Trung Việt (1980-1982).
Ngài cho Tôi biết, suốt 6 tháng qua từ ngày được tha về, Chính
quyền địa phương không cho nhập Hộ khẩu tại Chùa. Họ buộc phải
rời khỏi Chùa, về nhà thân quyến mà ở. Ngài đă trả lời là : “-Đi
tu từ thuở nhỏ đến giờ không có gia đ́nh. Năm 1954, di cư từ Bắc
vào Nam, theo Hiệp định Genève chia đôi đất nước do Nhà Nước
Cộng sản kư kết với Pháp. Hiện tại “tứ cố vô thân” nên nhất định
ở tại Chùa, do chính Ngài và Thầy của Ngài (đă viên tịch) xây
dựng nên, chớ không đi đâu hết. Nếu Chính quyền không chịu, cứ
việc khiêng Ngài bỏ ra đường. Ngài sẽ nằm đó đến chết khô, phó
mặc nhục thể cho chó, chuột hoang, mặc t́nh rúc rỉa.”
Từ hôm đó trở đi, hàng tuần Tôi đều ghé Chùa Giác Ngạn thăm
Thượng Tọa Thanh Long, và thắp nhang cầu Phật độ tŕ cho hương
hồn Nhạc Mẫu được tiêu sinh tịnh độ nơi cơi Phật, thoát khỏi
kiếp luân hồi.
Rời Chùa trở về nhà được một lúc, có ông trưởng Công An Phường
và bà Tổ trưởng Tổ Dân Phố đến thăm. Họ nói là đến thăm chúc Tết,
nhưng thực ra để kiểm soát coi có bệnh hoạn thực không, mà không
chịu đích thân đi tŕnh diện. Cũng kể từ hôm đó trở đi, thấy bên
kia lề đường, trước cửa căn phố đối diện nhà Tôi, có mấy cô bé
đem một tủ kính nhỏ kê trên chiếc ghế đẩu, thay phiên nhau ngồi
bán thuốc lá điếu cho khách qua đường. Họ ngồi thường trực hàng
ngày, từ sáng sớm cho đến 9, 10 giờ tối, nhà Tôi đóng cửa họ mới
biến đi.
Thời gian Tôi được tha, Nhà Nước không c̣n áp dụng Chính sách
quản chế đối với Tù Chính trị, như trường hợp các bạn được tha
nhiều năm về trước. Nhưng, không biết hoàn cảnh các bạn khác ra
sao, riêng cá nhân Tôi th́, Công An Quận, Công An thành phố, Cán
bộ Bộ Nội Vụ ngoài Hà Nội, đôi khi đi riêng lẻ, đôi khi đi chung,
bất thần đến thăm hỏi sức khoẻ và t́m hiểu xem có kế hoạch làm
ăn kinh tế nào quy mô, để góp phần cùng đồng bào tái thiết đất
nước không? Lần nào họ cũng chỉ thấy Tôi ngồi in các mẫu thêu
lên vải, cho các Con gái của Tôi dùng máy thêu làm “gia công”, (tức
là lănh hàng về nhà làm bằng máy riêng của ḿnh) cho Tổ hợp sản
xuất quần áo may sẵn, do gia đ́nh các Cán bộ chức quyền địa
phương làm Chủ nhiệm, để kiếm cơm ăn hàng ngày. Trong xă hội Xă
hội Chủ nghĩa, Tổ hợp là một loại tổ chức cai thầu trung gian,
giữa các Xí nghiệp Nhà Nước và các lao động làm thuê. Chủ nhiệm
Tổ hợp đến nhận hàng của các Xí nghiệp Nhà Nước với giá cao, đem
về thuê người làm “gia công” trả giá rẻ mạt, để ăn chặn phần sai
biệt mà không phải vất vả lao động. Người lao động thuê chẳng có
quyền lựa chọn, “mật ít ruồi nhiều”, mặc dù biết là thiệt tḥi,
nhưng vẫn buộc ḷng phải nhận làm mới có ăn, ít c̣n hơn không.
Hồi Tôi chưa được tha, ở nhà Vợ tôi được 2 cô con gái (tốt
nghiệp Trung học, không được vào Đại học) chưa lập gia đ́nh, phụ
lực mở quán bán cháo vịt và nước uống. Khách ăn thoạt đầu vắng
vẻ, nhưng lâu dần nhờ bán rẻ, tiếp đăi tử tế nên cũng khá đông,
tiền lời kiếm được tạm đủ cho gia đ́nh chi dùng hàng ngày. Thấy
vậy, Công An Phường và Ủy ban Nhân dân Phường bắt đầu ghé ăn,
năm bẩy bữa tới một lần. Ban đầu chỉ có 2, 3 người dắt nhau tới
ăn nhậu, gia đ́nh muốn tỏ ra lịch thiệp không lấy tiền. Nhưng
rồi từ từ số người tới ăn “chùa” tăng dần lên cả chục, bắt buộc
phải tính tiền không thể khoản đăi măi. Lập tức vài ngày sau,
nhân viên Kinh tế Phường đến hỏi giấy phép kinh doanh. Không có
phải đi xin, Phường tŕ hoăn cứu xét không chịu cấp. Trong khi
nhà hàng xóm, không thuộc diện phải đi cải tạo, thấy gia đ́nh
Tôi kiếm ăn được, cũng mở quán bán cháo vịt để chia bớt khách.
Họ xin giấy phép được Phường xét cấp ngay. Trong ṿng một tuần
lễ, nhà chúng tôi bị kiểm tra liên tục nhiều lần, vẫn chưa có
giấy phép buộc phải đóng cửa, nếu không sẽ bị làm biên bản phạt
vi phạm luật Kinh tế của Nhà Nước.
Tôi được tha về, thêm miệng ăn trong nhà, 2 cô Con gái phải nhận
làm “gia công”, may ráp thêu quần áo cho Tổ hợp may của gia đ́nh
Cách mạng làm chủ. Rồi lợi dụng “chiếc dù” này, trương bảng hiệu
nhận cắt may, thêu quần áo phụ nữ. Tôi ngồi in mẫu thêu, bấm
khuyết áo, cắt các mẩu chỉ dư trên các chiếc quần áo đă may xong,
và ủi phẳng xếp vào bao ni lông. Khách hàng bắt đầu có kha khá,
nhân viên Kinh tế Phường lại đến kiểm tra xét giấy phép và tính
thuế. Cũng đă nộp đơn xin, nhưng Phường c̣n cứu xét chưa cấp, do
đó lại phải hạ bảng hiệu xuống. Để có thể tiếp tục làm ăn kiếm
sống, đành viết một bảng nhỏ bằng b́a cứng, h́nh chữ nhật cỡ 20
phân cao, 40 phân dài, ghi câu “Nhận gia công may thêu quần áo,
và hướng dẫn kỹ thuật thêu máy”, treo ṭng teng trên dàn cửa sắt
trước nhà. Những khách hàng quen và bạn bè cũng biết, họ giới
thiệu nhau tiếp tục tới đặt hàng, làm cũng đủ sống qua ngày.
Được tha không bị quản chế, nên 1 tuần lễ sau ngày được tha,
Chính quyền Quận gửi giấy gọi Tôi lên Công An Quận chụp ảnh, lăn
dấu tay, điền mẫu lư lịch làm Giấy Chứng minh Nhân dân. Một
tháng sau, Công An thành phố gọi lên tŕnh diện để kiểm tra bổ
túc. Hai tháng kế sau nữa, được kêu lên kư nhận Giấy Chứng minh
Nhân dân, để chính thức trở thành người Công dân, hàng năm phải
đi tham gia lao động Xă hội Chủ nghĩa 7 ngày không có thù lao.
Với tấm Giấy Chứng Minh Nhân Dân gốc cải tạo về, đến đâu xin
việc làm cũng chẳng được, dù chỉ là một chân lao công quét rác
dọn vệ sinh. Nh́n thấy ngày cấp ghi trên Giấy Chứng Minh Nhân
Dân, người ta hỏi ngay : “-Diện Cải tạo về hả? Rất tiếc, tuyển
đủ người rồi.” Vấn đề ghi tên xin nhập Hộ Khẩu, phải tới Phường
nộp đơn xin trong ṿng 7 ngày, kể từ ngày được tha về đến nhà.
Nộp đơn rồi, đợi 2 tháng mới cứu xét xong, để được Phường gọi
mang giấy Hộ khẩu đến ghi thêm tên vào.
Buổi trưa mồng 3 Tết, Tôi đang nằm ngủ, anh Nguyễn văn Sáu Đội
phó cùng Đội 23 tại Z30D, cũng được tha vào dịp trước Tết, nhà ở
tuốt tận bên kia cầu chữ Y, lạch cạch cưỡi chiếc xe đạp đến thăm.
Thời gian ở trong các trại Z30C và Z30D (1982-1988) anh ấy và
Tôi ăn cơm chung, nên có nhiều cảm t́nh thân thiết hơn các bạn
khác. Gặp anh Sáu, Tôi mới biết là trong Đội 23 chỉ c̣n một ḿnh
anh Đại tá Phạm Tài Điệt (An ninh Quân đội Biệt Khu Thủ Đô) nhà
ở đường Huỳnh văn Bảnh gần nhà Tôi, chưa được tha. Những ngày kế
theo, một số bạn bè khác cũng ghé thăm Tôi. Có người ở gần cùng
khu phố như anh Đại tá Trịnh đ́nh Đăng (Đội 23 K1 Z30D), Trung
tá Phạm ngọc Xuyến (Đội 6 K1 Z30C), Đại tá Nguyễn văn Bích (nguyên
Thị trưởng Đà Lạt, bạn đồng môn Vơ bị Quốc gia, tốt nghiệp sau
Tôi một khoá). C̣n phần lớn là những người trước kia cùng phục
vụ trong ngành Truyền Tin, cư ngụ tại các Quận khác trong thành
phố Saigon Chợ Lớn Gia định. Cũng có người ở thật xa, như anh
bạn Tù tên Khuông (trước 30-4-1975 làm Cán bộ Liên đoàn Lao công
Saigon) quen tại Trại Thanh Phong Thanh Hoá, nhà ở tận Tây Ninh,
nhân dịp đi chợ Saigon biết tin Tôi được tha, cũng ghé nhà thăm
cho ít trái cây thổ sản của gia đ́nh. Hồi ở Trại Thanh Phong anh
ấy làm trực nhà của Đội, v́ không có tiếp tế của gia đ́nh, Tôi
đưa đồ tiếp tế riêng nhờ lo việc nấu nướng cải thiện ăn chung,
“miếng khi đói bằng gói khi no” nên đă trở thành bạn thân chẳng
bao giờ quên nhau.
Nhờ có dịp gặp nhiều bạn bè, biết thêm tin đại đa số Tù nhân
Chính trị miền Nam, đang bị giam trong tất cả các Trại trên toàn
nước Cộng hoà Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam, được tha vào dịp Tết
Mậu Th́n 1988. Chỉ c̣n lại khoảng 150 người (gồm cả Tướng, Tá,
Úy, và Hạ sĩ quan), bị Nhà Nước Cộng sản liệt vào loại có “nợ
máu” với nhân dân nặng nề hơn cả, bị giữ lại dồn về giam tại
Trại Z30D tiếp tục cải tạo chưa được tha. Theo suy nghĩ riêng
của Tôi, đây là mánh khoé của Việt Cộng “suy bụng ta ra bụng
người”, giữ lại một số làm con tin, để buộc Hoa Kỳ thực hiện đầy
đủ những lời đă hứa, rồi mới tha lần lần đến hết. Chứ không phải
các Bạn này, có nhiều “nợ máu” với Nhân dân hơn những người khác.
Một anh Trung sĩ Trung đội trưởng Nghĩa quân kiêm ủy viên An
ninh xă, làm sao có “nợ máu” nhiều bằng một ông Tướng hay một Sĩ
quan cấp Tá, thế mà cũng bị giữ lại tiếp tục cải tạo như nhau.
Trước 30-4-1975, thường qua ngày mồng 7 tháng Giêng, các Đ́nh,
Chùa, Lăng Miếu làm lễ hạ Cây Nêu xong, quảng đại quần chúng mới
coi là hết Tết. Nhưng bây giờ, vào ngày mồng 2 mọi sinh hoạt xă
hội đă trở lại b́nh thường. Tôi nhờ Con trai dùng xe máy dầu chở
đi một ṿng, để trả lễ các bạn bè đă tới thăm chúc Tết ḿnh,
cũng nhân đó thăm quang cảnh phố phường chợ búa, khắp vùng
Saigon Chợ Lớn Gia Định, sau 13 năm xa vắng.
Chẳng có ǵ đổi mới, chỉ thấy tàn tệ hơn. Đó đây đầu các ngơ hẻm,
gần những ngă tư đường lớn các khu chung cư, gần các góc chợ,
xừng xững mọc lên những đống rác lù lù, ruồi nhặng đảo lượn tự
do như bầy ong vỡ tổ, mùi xú uế xông lan xa hàng trăm mét nồng
nặc muốn ngộp thở. Dân khất thực, lẫn lộn cả những người bị bệnh
phong cùi cụt các ngón tay ngón chân loét lở đầy mặt, ngồi vật
vă bên vỉa hè phố, quanh đầu chợ, giữa các công viên, níu kéo
nài nỉ người qua lại xin ăn, xin tiền. Thảm thương nhất là những
trẻ thơ cỡ 5 đến 10 tuổi, đứng ŕnh bên các bàn ăn, hễ thấy
khách vừa ăn xong buông bát đũa xuống bàn, là nhào tới giành
nhau cướp húp vét những ǵ c̣n sót lại trong tô, nhặt những mẩu
xương vứt trên mặt bàn, gặm nốt những ǵ khách ăn không gặm được.
Ngay tại khu phố chúng tôi ở, xế bên cổng Nhà Thờ Ba Chuông, một
bộ đội thương binh “quân hàm” Đại úy phục viên (giải ngũ), kiên
nhẫn chịu đựng hậu quả “vắt chanh bỏ vỏ”, ngồi sửa vá lốp xe đạp
kiếm tiền sinh sống hàng ngày tại miền Nam, chứ không chịu trở
về quê cũ nơi chôn nhau cắt rốn của anh ta tại miền Bắc. Ngoài
ra, c̣n có mấy toán bộ đội thương binh cũng gốc miền Bắc, từ
chiến trường Campuchia trở về. Ngày nào cũng chống nạng dắt nhau
từng nhóm 2, 3 người, miệng nồng nặc hơi rượu, ghé vào từng nhà
suốt dọc phố xin tiền. Bà con cho 1, 2 chục đồng không thèm lấy,
vứt trả lại, rồi xấn vào trong nhà gây gổ, chửi đổng : “-Đ.Mẹ
chúng bay, không có chúng ông vào giải phóng, rồi lại sang
Campuchia làm nghĩa vụ quốc tế, làm ǵ chúng bay được ngồi yên
đó mà kiếm tiền? Bát phở bây giờ tối thiểu cũng 5 chục bạc, cho
1, 2 chục th́ mua được ǵ?” Có người thuộc hạng thân nhân Cán bộ
tập kết mới về, mạnh bạo lên tiếng dọa đi gọi Công An. Nhóm kiêu
binh thách thức : “-Có ngon cứ đi mời chúng nó lại đây, xem có
dám làm ǵ chúng ông không?”
Hàng ngày ngồi tại nhà, Tôi c̣n phải chứng kiến nhiều cảnh
thương tâm khác nữa, chưa từng thấy trong những năm có thiên tai
lớn tại miền Nam trước 30 tháng 4 năm 1975. Những bà mẹ đầu quấn
khăn tang,ï nách bồng con thơ chưa đầy 1 tuổi, tay dắt theo 2, 3
đứa khác tuổi san sát nhau từ 3 đến 10, quần áo rách rưới dơ bẩn
hôi hám, ghé vào nhà tay ch́a tấm giấy địa phương vùng Thanh Hoá
Nghệ An cấp, cho phép di chuyển vào các tỉnh miền Nam xin trợ
giúp và kiếm việc làm, v́ quê quán bị thiên tai tàn phá mất sạch
hoa mầu nhà cửa. Từng nhóm trẻ thơ chưa quá 13 tuổi, đứa lớn
cơng đứa bé, dắt díu nhau ghé cửa xin ăn xin uống v́ đói khát,
không cha không mẹ, không thân quyến đùm bọc. Tối nào cũng có
một gia đ́nh “tha phương cầu thực”, không nhà cửa Hộ khẩu trong
thành phố, ghé dọn chỗ chen chúc bên nhau đắp manh chiếu đụp,
không mùng không mền, nằm nhờ dưới mái hiên ngay bên lề đường,
trước cửa nhà Tôi. Mùa nắng đă vậy, mùa mưa thấy thật thê thảm
thương tâm hết chỗ nói. Nhưng toàn là người lạ không quen, chẳng
biết ở đâu tới, gốc gác ra sao, dù có xót thương tội nghiệp đến
mấy, cũng chẳng dám cho vào tá túc trong nhà ban đêm.
Đấy là những ǵ chính mắt Tôi thấy, giữa “thiên thanh bạch nhật”
trên khắp nẻo phố phường Saigon (Ḥn Ngọc Viễn đông) sau 13 năm
“đổi đời”, dưới sự lănh đạo ưu việt của Đảng Cộng sản Việt Nam,
và quyền quản lư tài giỏi của Nhà Nước Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam
(tôi tớ của Nhân dân như Bác Hồ vĩ đại từng nói trước khi đi về
với các Cụ Lênin Các Mác). Thật vô cùng thảm thương!
Nhân dịp “tham quan cho biết sự t́nh” này, Tôi c̣n được chứng
kiến một sự kiện đau ḷng khác, tại một trụ sở Dịch vụ làm hồ sơ
xuất cảnh theo diện Đoàn tụ gia đ́nh (ODP=Orderly Departure
Program) trên đường Nguyễn Trăi. Những bạn Cựu Tù, có thân nhân
di tản ra ngoại quốc dịp 30-4-1975, nay đă có cuộc sống tạm ổn
định, được Chính phủ Hoa Kỳ và các nước đang tạm trú cho làm
giấy bảo lănh thân nhân qua đoàn tụ, chen nhau đứng ṿng trong
ṿng ngoài đợi đóng tiền, lập hồ sơ xin xuất ngoại. Có người ở
tỉnh xa Saigon lên ăn chực nằm chờ, ngày nào cũng phải đi từ 4,
5 giờ sáng để đứng xếp hàng giữ chỗ ưu tiên vào trước. Có người
hồ sơ trục trặc thiếu sót, phải chạy đi chạy lại nhiều lần mới
bổ túc xong. Lệ phí mỗi hồ sơ tùy theo số người cùng Hộ khẩu xin
đi nhiều hay ít. Tối thiểu cũng phải từ ba bốn trăm ngàn trở lên
đến một, hai triệu đồng bạc Cụ Hồ.
Rút kinh nghiệm sống với Cộng sản, Anh Em sợ Nhà Nước Cộng hoà
Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam vốn trở mặt như bàn tay, có thể thay
đổi ư kiến bất cứ lúc nào. Các Cụ thường nói : “Ăn đi trước, lội
nước đi sau”, dịp may hiếm có, cánh cửa đang mở, phải vội vă bon
chen lo cho xong sớm, kẻo lỡ “trâu chậm uống nước đục”, th́ mộng
đẹp tương lai sẽ tan tành theo mây khói. Có người được tha về
sau muốn đi trước, theo hướng dẫn của pḥng dịch vụ, biên thơ
sang Hoa Kỳ bảo Vợ Con đến đóng lệ phí bằng Đô la cho văn Pḥng
Luật sư có đại diện bên Việt Nam. Chịu tốn vài bốn trăm Đô la
theo phương cách này, hồ sơ sẽ được giải quyết xét cấp Hộ Chiếu
(Passeport), và lên danh sách chuyển cho Đại diện Hoa Kỳ phỏng
vấn nhanh chóng hơn. Mấy người bạn tốt bụng, cũng mách nước cho
Tôi làm theo phương cách này. Nhưng Tôi không thực hiện, v́ gia
đ́nh đông quá, chẳng biết 2 người con ở Hoa Kỳ có khả năng lo
nổi hay không, đành phải làm ngơ.
Loanh quanh bận bịu phụ các con, may thêu kiếm tiền ăn hàng ngày
cho gia đ́nh, chả mấy chốc mùa Giáng sinh 1988 đă tới. Một hôm
đang ngồi quay mặt ra đường, cặm cụi in mẫu thêu lên vải. Bỗng
một ông già mặc quần tây áo sơ mi vải đen, ghé vào vỗ vai hỏi :
“-Bác c̣n nhớ Tôi không?” Ngẩng lên, mừng rỡ reo : “-Ồ! Linh mục
Sinh, Ngài đi đâu làm ǵ mà qua lối này? Được tha về từ bao giờ?
Bây giờ ở đâu?” Linh mục Bùi đức Sinh cười vui vẻ, tự kéo ghế
ngồi xuống bên kể cho biết : “-Hồi được lệnh ra đi khỏi Đội 23
Trại Z30D bất ngờ, nên chẳng chào chia tay được ai. Rời Trại
Z30D hôm đó là ngày 20-6-1986, được đưa về giam chung với các
Linh mục Tuyên úy Quân đội tại Trại Z30A Xuân Lộc Long Khánh, và
được tha về ngày 13 tháng 10 năm 1987. Giấy tha về địa chỉ ḍng
tu Đa Minh Thủ Đức, nhưng Nhà Nước đă tịch thu làm Trường Đảng,
nên địa phương không nhận, chỉ lên thành phố khiếu nại. Thành
phố cho về Nhà Thờ Ba Chuông, ngay ngă tư đường Lê văn Sĩ này
tạm trú. Rồi phải t́m kiếm thân nhân hoặc bạn bè ngoài Nhà Thờ,
xin về ở chung với họ. Linh mục đi cải tạo về không được tiếp
tục thi hành mục vụ, nên không cho nhập Hộ khẩu Nhà Thờ.” Tôi (Linh
mục Sinh) giải thích : “-Nhà Thờ Ba Chuông cũng là Tu viện Đa
Minh”. Thành phố trả lời : “-Nếu là Tu viện th́ phải dẹp Nhà Thờ,
hiện tại được coi là Nhà Thờ th́ không thể là Tu viện.” Loanh
quanh bị gọi tới gọi lui làm việc hoài. Cả năm sau t́m được
người cháu ở xóm Bùi Phát (trên đường Trương Minh Giảng) bằng
ḷng nhận cho cư trú. Tŕnh lên thành phố, được chấp nhận chỉ
định cho nhập Hộ khẩu nhà người cháu. Theo chỉ thị của thành phố,
ban ngày muốn đi đâu th́ đi, đêm phải có mặt tại nhà người cháu.
Lâu lâu thành phố cũng cho người tới kiểm tra, hỏi thăm làm ăn
ǵ mà có tiền sinh sống hàng ngày? Hiện nay, ban ngày tới Nhà
Thờ Ba Chuông ngay góc ngă tư Lê văn Sĩ-Huỳnh quang Tiên này,
tối phải về cư ngụ tại nhà người cháu tại xóm Bùi Phát.”
Từ đó trở đi, Tôi lại có thêm một bạn Tù cũ nữa gần nhà, để
thỉnh thoảng ghé thăm nói chuyện thời sự. Cũng nhờ thế, Tôi biết
được lư do tại sao Chính quyền Cộng sản không bằng ḷng cho các
Nhà Thờ tổ chức quy mô, Lễ Tôn vinh 117 hiển Thánh tử đạo Việt
Nam vào ngày 19 tháng 6 năm 1988, như chỉ thị của Toà Thánh
Vatican. Theo Linh mục Sinh cho biết, Cán bộ địa phương nói với
Ngài : “-V́ 19 tháng 6 là ngày kỷ niệm Quân Lực của Chế độ cũ,
nếu cho Nhà Thờ tổ chức rầm rộ, sợ các cựu Tù gốc Quân đội được
tha về khá đông, không bị quản chế, lợi dụng sự đông đảo của
quần chúng, gây xáo trộn trật tự anh ninh xă hội.”
TỰ DO XĂ HỘI CHỦ NGHIĂ.
Ngoài nơi lao lư vẫn thân Tù,
Báo Quận, tŕnh Thành mệt ngất ngư.
Xê dịch xa nhà cần giấy phép,
Buôn bưng bán lẻ phải chi xu.
Đêm ngày ŕnh rập dân cḥm xóm,
Năm tháng theo ḍ mật vụ khu.
Độc Đảng chuyên quyền, Dân chủ nhỉ?
Tam Vô chuyên chính, Tự do ư ?
Mùa Thu năm Mậu Th́n - 1988.
Noel tới, chỉ có đồng bào trong các xóm Đạo và Nhà Thờ, tấp nập
chuẩn bị đón ngày Chúa Giáng Trần. Bà con ngoại Đạo, không thấy
ai tham gia vui như hồi trước 30-4-1975. Các Nhà Thờ cũng phải
gia giảm việc chăng đèn kết hoa bên ngoài chung quanh sân, chỉ
tập trung sửa soạn bên trong Cung nguyện mà thôi. Đi xem Lễ Misa
đêm Noel, cũng chỉ thấy toàn đồng bào Công giáo, và rất đông
Công An Nhân Dân bận sắc phục và không sắc phục, trà trộn bao
quanh Nhà Thờ.
Đầu năm dương lịch 1989, nhờ chính sách của Nhà Nước “đổi mới,
mở cửa”, t́nh h́nh buôn bán của tư nhân bắt đầu nhộn nhịp hơn.
Các Cơ quan Nhà Nước đua nhau đốt pháo, mừng ngày tân niên Dương
lịch rất là rôm rả. Nhờ thế, đồng bào nô nức mua sắm chuẩn bị ăn
Tết Kỷ Tỵ 1989 thật thoải mái. Dưa hấu, các loại hoa cành, hoa
cây trồng trong chậu, mứt, pháo… bầy bán đầy 2 bên lề đường,
trong các chợ. Gia đ́nh Tôi, nhờ có 2 người con đang ở Hoa Kỳ (một
du học từ năm 1971 đến 30 tháng 4 năm 1975 xin ở lại tỵ nạn
không về nước, một mới vượt biên hồi cuối năm 1982) gửi về cho
vài thùng thuốc Âu, bán đi lấy tiền chi dùng, nên cũng có một
cái Tết tạm coi được, nhưng không bằng những cái Tết trước
30-4-1975. Để mừng đón cái Xuân thứ 2, đoàn tụ bên Vợ Con Cháu,
Tôi quyết định tổ chức gói bánh chưng. Chúng tôi bắc bếp, luộc
ngay trên lề đường trước cửa nhà, suốt đêm 29 đến sáng ngày 30
mới vớt bánh ra ép. Các cháu Nội cháu Ngoại của Tôi mừng vui hớn
hở. Từ khi lọt ḷng Mẹ ra đời đến nay đă 4, 5 tuổi, lần đầu tiên
chúng được hưởng cái thú vị cổ truyền của gia đ́nh Việt Nam,
thức đêm nấu bánh chưng chuẩn bị đón Tết. Các Con của Tôi không
lạ ǵ, trước 30-4-1975, năm nào gia đ́nh cũng tự gói nấu bánh
chưng ăn Tết. Chỉ có 12 cái Tết vừa qua, gia đ́nh ly tán hoạn
nạn thiếu thốn, Vợ Con ở nhà dành dụm đủ tiền mua được một cặp
bánh, trước cúng Gia Tiên sau chia nhau thưởng thức Tết là may
lắm rồi, có đâu mà bầy đặt tự gói nấu lấy bánh trong nhà. Ông
hàng xóm, Tổ trưởng Lăo Ông Phường ở cách nhà Tôi 2 căn, thấy
gia đ́nh chúng tôi rục rịch gói nấu bánh chưng ăn Tết, cũng đến
nhờ gói nấu giùm 2 cặp bánh, để vợ chồng già ăn Tết cho được rẻ,
và chắc chắn là ngon hơn mua ngoài chợ.
Giao thừa tiễn năm con Rồng 1988 đón năm con Rắn 1989, gia đ́nh
Tôi đốt một bánh pháo dài 2 mét, để chung vui với xóm giềng mừng
đón Xuân mới. Đến sáng sớm mồng Một, Tôi đi lễ Chùa về tự “xông
nhà”, đốt thêm một bánh pháo dài 2 mét nữa, mừng t́nh h́nh Thế
giới đang xoay chuyển, làm cho cái nôi Cộng sản Liên Xô đang rơi
vào thế cờ bí, dẫn đến tan ră sau 3 phần tư Thế Kỷ tung hoành
tàn bạo, giết hại hàng chục triệu sinh linh vô tội trên khắp mặt
địa cầu. Chiều ngày mồng Một, 2 vợ chồng ông bạn già Tổ trưởng
Lăo Ông Phường dắt nhau sang chúc Tết, khen bánh ngon, nền hơn
bánh mua ngoài chợ rất nhiều. Rồi tiện lúc đang vui câu chuyện,
ông bạn già đề nghị Tôi đóng tiền niên liễm gia nhập đoàn thể
Lăo Ông Phường. Ông ấy giải thích : “-Có thẻ Lăo Ông được miễn
không phải đi làm Nghĩa vụ Lao động Xă hội Chủ nghĩa. Tất cả đàn
ông đàn bà đủ 18 tuổi nhưng chưa đến tuổi lăo, hàng năm đều phải
đi làm Nghĩa vụ Lao động Xă hội chủ nghĩa một tuần lễ. Ai có
tiền đóng thế chân theo giá biểu Nhà Nước quy định th́ không
phải đi, Chính quyền địa phương sẽ thuê người làm thay cho. Ai
không tiền đóng góp, phải “cơm đùm áo gói” đi lao động không
công cho Nhà Nước 1 tuần lễ, thường là tại các vùng kinh tế mới
thuộc quyền quản lư của Quận.”
XUÂN LỤC TUẦN CẢM HỨNG
Kỷ Tỵ hân hoan đón Lục Tuần,
Cháu Con hớn hở chúc mừng Xuân.
Thế t́nh nghiêng ngửa tâm bền vững,
Tạo hoá vần xoay tuổi Thọ lần.
Tổ họ Nguyễn-huy, ḍng Nghiă Sĩ,
Quê cha Phù Đổng, đất Linh Thần.
Đă qua bĩ vận đời thay đổi,
Sẽ tới vượng thời tái lập thân.
Xuân Kỷ Tỵ - 1989
Khoảng giữa năm Dương lịch 1989, Nhà Nước ban bố lệnh cho các
cựu Tù nhân thuộc Chế độ cũ, bị giam giữ trong các Trại cải tạo
từ 3 năm trở lên đă được tha, có thể tiếp xúc Chính quyền địa
phương, lập hồ sơ xin cho ḿnh và Vợ Con ở chung trong một Hộ
khẩu, cùng đi định cư tại nước ngoài. Ngay sau khi bản tin được
thông báo qua hệ thống truyền thanh và báo chí của Nhà Nước, anh
em cựu Tù Chính trị ùn ùn kéo nhau đến Trụ sở Ủy ban Nhân dân
Quận, đông như đi hội chợ. Cổng trụ sở Quận đóng kín, mọi người
chen nhau đọc bản thông cáo treo trên cánh cổng, cho biết mẫu hồ
sơ c̣n đang in, khi nào có sẽ thông báo sau.
Một tháng sau, chẳng cần phổ biến trên báo chí truyền thanh, một
biết đồn mười, mười biết đồn trăm, trăm biết đồn ngàn, loan
truyền cho nhau. Anh em lại ùn ùn tới trụ sở Quận “mua mẫu hồ sơ”
về nhà điền, đi làm bản sao các giấy Khai sanh, Giá thú, Hộ khẩu,
Chứng minh Nhân dân, Giấy tha ra Trại... để kèm với đơn đem trở
lại, chen nhau đứng xếp hàng lấy số đợi gọi vào nộp. Việc thị
thực các bản sao giấy tờ, được thực hiện tại các Ủy ban Nhân dân
Phường. Tiền lệ phí thị thực cho mỗi bản tài liệu, phải trả đắt
gấp mười lần lệ phí b́nh thường dành cho dân, không thuộc thành
phần cải tạo viên nộp hồ sơ xin đi nước ngoài.
Trụ sở Ủy ban Nhân dân Quận Phú Nhuận đóng ngay tại cơ sở của
Quận Hành chánh Phú Nhuận cũ, trên đường Hoàng văn Thụ (trước là
đường Vơ Tánh), xế trước cổng số 2 Trại Trần Hưng Đạo (Bộ Tổng
Tham mưu Quân Lực Việt Nam Cộng hoà). Cả tháng trời ngày nào
cũng đông nghẹt người, đi lại đứng ngồi trong sân và dọc lề
đường bên ngoài cổng. Các xe đẩy, gánh hàng rong, bán thức ăn
nước uống tha hồ thâu tiền. Câu lạc bộ bên trong trụ sở Quận,
cũng được dịp phục vụ không nghỉ tay, thu tiền vào như nước. Các
khu nhận giữ xe 2 bánh lấy tiền, bên trong sân Quận cũng như dọc
lề đường phía ngoài cổng trụ sở, lúc nào cũng đầy nhóc. Ai đến
trễ phải gửi xe xa hàng mấy trăm mét, rồi đi bộ tới. Thật là một
dịp may hiếm có, cho thân nhân viên chức Cán bộ Quận, cấu kết
với nhau tha hồ móc tiền của cựu Tù Cải tạo.
Chục ngày đầu, anh em ùn đến đông quá, chen nhau kẻ ra người vào
nườm nượp, suốt từ giờ mở cửa buổi sáng sớm cho đến chiều tối
đóng cửa chẳng lúc nào ngớt. Tôi phải chờ tới ngày thứ mười lăm
mới tới, vẫn c̣n đông như nêm. Xếp hàng vào mua được mẫu hồ sơ
xong trở ra, đang lách giữa đám đông đi ra cổng, nghe có tiếng
gọi : “-Ê ! Hùng! Hùng!” Tôi quay nh́n phía có tiếng gọi, thấy
một người cao lênh nghênh dơ tay vẫy, Trung tướng Nguyễn Hữu Có,
ông bạn tốt nghiệp cùng Khoá 1 Sĩ Quan Trường Bơ Bị Quốc gia với
Tôi, từ ngày 1 tháng 6 năm 1949 tại Huế.
Hồi Tôi c̣n bị giam tại Trại Tân Lập Vĩnh Phú, lúc đang có tin
Hoa Kỳ vận động mở Hội nghị tại Genève để nhờ Liên Xô, Trung
Cộng áp lực Việt Cộng thả hết Tù Chính trị miền Nam, chúng tôi
được Trại trưởng cho biết, Trung tướng Có đang cùng phái đoàn Bộ
Nội Vụ vào tỉnh Thanh Hoá, t́m địa điểm làm Vùng Kinh tế mới để
tập trung tất cả Cải tạo viên và Vợ Con vào đó. Về sau, tin này
được Nhà Nước phổ biến rộng răi trên các báo Nhân Dân và Quân
đội nhân dân. Địa điểm được Trung tướng Có đề nghị phái đoàn lựa
chọn là vùng Thanh Cầm, trong vùng huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hoá
(gần Trại Thanh Phong, nơi Tôi và một số anh em ở Trại Tân Lập
Vĩnh Phú, bị chuyển vào giam từ hồi đầu năm 1980 đến năm 1982).
Tin này đă khiến phần đông anh em, không c̣n mấy cảm t́nh khi
nghe nhắc tới 3 tiếng “Nguyễn Hữu Có”, chứ đừng nói chi tới chịu
gặp mặt bắt tay chào hỏi nói chuyện. Nhưng cá nhân Tôi, v́ t́nh
nghĩa bạn cùng khoá Sĩ quan, nhất là khi c̣n là Sinh viên ở
trong Trường, chúng tôi cùng chung một Đội (Section, platoon),
nên phải lách đám đông đến gặp nói chuyện, trước sự nḥm ngó của
mọi người. Tướng Có cho Tôi biết là ông đến quan sát t́nh h́nh,
xem có nên lập hồ sơ xin đi hay không.
Biết được địa chỉ nhà ở của Tướng Có, không xa khu nhà Tôi cho
lắm, nên mấy ngày sau Tôi t́m đến thăm. Gia đ́nh ông ở khu Chung
cư sang trọng gồm toàn nhà 2, 3 tầng, bên hông có lối vào nhà để
xe hơi riêng, trước sân rộng có cây cao bóng mát. Lối vào nhà xe
và một khúc phía sân trước được lợp mái tôn, trang hoàng thành
pḥng đặt 2, 3 bàn bi da cho thuê giờ, và một quầy bán đồ giải
khát ăn nhậu lai rai, cho các kiện tướng choai choai đến đấu bi
da ăn tiền. Suốt ngày đêm lúc nào cũng đông khách. Tướng Có tiếp
Tôi nơi pḥng khách trên lầu. Đồ đạc trang trí trong nhà vẫn là
những loại sang như thời trước 30-4-1975. Không như gia đ́nh tôi,
ở trong cư xá Sĩ quan Bộ Tổng Tham mưu, sau 30-4-1975 bị đuổi ra
tay không. Từ món nhỏ nhặt nhất như chiếc bát, đôi đũa ăn, cũng
bị Cách mạng Giải phóng tịch thu hết, v́ là đồ mua sắm bằng tiền
lương do “Ngụy” phát.
Gặp nhau chuyện tṛ thăm hỏi trong t́nh Anh Em đồng môn và chiến
hữu cũ. Tôi thấy Tướng Có vẫn bộc trực thân thiện chân thật như
hồi nào. Qua câu chuyện hàn huyên, Tôi biết được Tướng Có đang
làm việc với một văn pḥng của Hội thánh Tin Lành, và đang viết
cuốn sách nói về những Phép Lạ đă xẩy ra trong đời ông, khiến
ông tin và công nhận Chúa Jesus là Đấng toàn năng để ông tôn thờ.
Ông cũng đă từng được Cán bộ Nhà Nước, dẫn nhiều phóng viên
ngoại quốc đến phỏng vấn, về cuộc sống hiện tại của ông sau khi
cải tạo, và cách cư xử của Chính quyền đối với ông và gia đ́nh,
để họ phổ biến cho Thế giới cùng biết. Ông cũng đang bị Chính
quyền hỏi tới hỏi lui, về một món tiền mấy trăm triệu của Tín
Nghĩa Ngân Hàng, thời ông làm phụ tá hay cố vấn ǵ đó (Tôi không
nhớ rơ) cho ông Tổng Giám đốc Ngân hàng Nguyễn Tấn Đời, do đó
không biết Chính quyền có chịu cấp giấy cho ông xuất ngoại hay
không...
Tháng 12 năm 1989, Vợ Tôi nhận được giấy gọi đến Cơ sở Nguyễn Du,
nơi phụ trách làm hồ sơ xuất cảnh tại Saigon, ở bên vườn Tao Đàn
phía sau Dinh Độc Lập cũ, để bổ túc hồ sơ đi theo diện ODP
(Orderly Departure Program) do con trai lớn của Tôi ở Hoa Kỳ bảo
lănh. Hồ sơ đă được nộp từ năm 1981, lúc Tôi c̣n đang ở trong tù
ngoài Bắc. Vợ Tôi đến nơi, người ta hỏi : “-Chồng đă về chưa?”
Bà ấy tŕnh giấy tha Tôi ra khỏi Trại cho họ thấy. Họ hỏi tiếp :
“-Anh ấy có muốn đi không?” Vợ Tôi trả lời : “-Có, đă nộp hồ sơ
tại Quận Phú Nhuận xin đi theo diện Nhân đạo (H.O. Humanitarian
Operation) cho cả gia đ́nh, theo lệnh Nhà Nước mới phổ biến rồi.”
Họ nói : “-Vậy th́ về yêu cầu Quận, chuyển ngay hồ sơ lên đây bổ
túc một lượt.”
Mừng hí hửng, chúng tôi đến trụ sở phụ trách giải quyết các hồ
sơ cựu Tù xin xuất ngoại của Quận (cách nhà chừng 500 mét, gần
trước Trường học Saint Thomas cũ trên đường Huỳnh Quang Tiên),
để xin họ chuyển hồ sơ của Tôi lên Cơ sở Nguyễn Du ngay, theo
lời yêu cầu của Cơ sở này. Nhân viên tiếp chúng tôi trả lời :
“-Cứ về đợi năm bẩy bữa nữa, khi nào chuyển hồ sơ đi sẽ có bản
sao để thông báo.” Hai tuần lễ sau chẳng thấy ǵ, Tôi đến nơi
hỏi nữa, một nhân viên khác trả lời : “-Số hồ sơ tồn đọng rất
nhiều. Chúng tôi không giải quyết lẻ tẻ, để đến cuối năm sẽ giải
quyết chuyển đi hết một lần.”
Tết Trung Thu, cũng là Tết Thiếu nhi Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam,
các quán bán bánh nướng bánh dẻo lồng đèn, bầy la liệt 2 bên lề
đường lớn và trong ngơ. Ngay từ tối 13, 14, chưa đến Rằm, trẻ
con đă dắt nhau rước đèn dung giăng dung dẻ khắp nơi, ngoài
đường, trong ngơ, ca hát ồn ào thấy cũng vui mắt. Các gia đ́nh
có con đi học, phải đóng góp tiền để Nhà Trường mua bánh Trung
Thu, tổ chức vui chơi cho các “cháu ngoan Bác Hồ” tại lớp học.
Vào lúc xế chiều ngày Rằm Trung Thu, tự nhiên thấy anh Đại tá
Trịnh đ́nh Đăng dẫn 2 anh Đại tá Phạm tài Điệt nhà ở đường Huỳnh
văn Bảnh gần nhà Tôi, và Lại đức Nhi ở tuốt tận Cư xá Bắc Hải
Chí Hoà ghé thăm. Thật là một bất ngờ thú vị. Anh em hỏi thăm
sức khoẻ của nhau xong, quay sang bàn tới chuyện hồ sơ xin xuất
ngoại của mỗi người đă đi đến đâu rồi. Nhờ thế Tôi mới biết, Chị
Điệt cũng mới được Cơ sở nguyễn Du tại Saigon gửi giấy mời lên
bổ túc hồ sơ, đi theo diện con bảo lănh như của Vợ Tôi. Họ cũng
hỏi chồng về chưa, có muốn đi không, về nói với Quận chuyển hồ
sơ lên bổ túc luôn thể. Khi tới cơ sở phụ trách tại Quận tŕnh
bầy, họ cũng trả lời y như đă trả lời Tôi. Nhưng sau đó nhờ có
người chỉ lối, giới thiệu nhân viên phụ trách hồ sơ của cơ quan,
đến tận nhà ra giá hai trăm ngàn đồng th́ trong ṿng một tuần lễ
xong ngay. Anh ấy đă nộp tiền, và trong ṿng có 3 ngày nhân viên
phụ trách đem đến tận nhà, cho một bản sao phiếu chuyển hồ sơ
lên Cơ sở Nguyễn Du. Hai tuần lễ sau, Anh Điệt được giấy Cơ sở
Nguyễn Du gọi lên bổ túc hồ sơ.
Lập tức ngày hôm sau, Tôi cho cậu Con đang làm trong Tổ hợp mành
trúc xin nghỉ làm một buổi, chạy đến gặp nhân viên phụ trách hồ
sơ tại Quận. Lúc gặp anh X. nhân viên phụ trách, cậu ấy đă làm
một cử chỉ ngoại giao, đặt bao thuốc thơm loại ngoại lên bàn,
rồi nói nhỏ : “-Nhờ anh xem giùm hồ sơ của ông Nguyễn huy Hùng
sinh ngày... ở nhà số... đường... đă được chuyển đi chưa?” Rời
bàn giấy, mấy phút sau anh X. đem tập hồ sơ ra, và hỏi : “-Anh
cần ǵ?” Con tôi nói : “-Anh biết địa chỉ nhà tôi rồi, tối nay
lúc 7 giờ mời anh ghé nhà, ông già của tôi muốn nhờ anh một việc.”
Thấy anh X. gật đầu, cậu ấy đứng lên rời cơ quan đi đến Tổ hợp
làm việc, chứ không về nhà sợ có người theo dơi. Trước 7 giờ tối
chừng 15 phút, cậu Con của Tôi bắc ghế trước cửa ngồi chơi hóng
mát, chờ đón anh X. mời vào nhà. Lúc gặp anh X. trong nhà, chẳng
cần rào đón ǵ trước, Tôi vào thẳng đề luôn : “-Tôi muốn nhờ Chú
tŕnh cấp trên chuyển giùm hồ sơ của Tôi lên Cơ sở Nguyễn Du
ngay, cần trà lá bao nhiêu cho biết, Tôi sẽ lo nộp tiền trước.”
Anh ta nói : “-Để về thỉnh ư cấp trên xem sao, có thế nào chiều
hôm sau sẽ trở lại trả lời.”
Giữ đúng lời hứa, chiều hôm sau anh ấy trở lại, cho biết : “-Cấp
trên bằng ḷng giúp, c̣n vấn đề tiền nong tùy khả năng tính sao
cho đẹp là được.” Tôi tŕnh bầy : “-Chú đến đây đă thấy hoàn
cảnh gia đ́nh Tôi. Đi học tập mười mấy năm về, ở nhà con cháu
đông, Vợ của Tôi cũng chẳng có khả năng làm Kinh tế, nên cũng
không dư giả ǵ như người ta. Vậy Tôi cố gắng biếu năm chục ngàn
đồng, để nhờ các Chú rộng ḷng nhân đạo giúp giùm. C̣n nhiều hơn
th́ Tôi đành chịu, chờ bao giờ cơ quan chuyển đi th́ chuyển, chứ
không đủ khả năng lo.” Anh ấy nói : “-Để về tŕnh lại, kết quả
ra sao sẽ cho biết sau.” Trưa ngày hôm sau, anh ấy ghé nhà cho
biết : “-Bẩy giờ tối đến lấy tiền, và bảo đảm một tuần sau sẽ
cho bản sao phiếu chuyển hồ sơ lên Cơ sở Nguyễn Du.” Đúng 7 giờ
tối anh ấy đến nhận tiền, và dặn : “-Sáng mai lên pḥng giấy, bổ
túc hồ sơ cho đầy đủ trước khi gửi đi.” Hôm ấy là ngày Thứ Năm
trong tuần lễ. Sáng hôm sau là Thứ Sáu lúc 10 giờ, hai Cha Con
Tôi lên gặp anh ta tại văn pḥng. Chỉ phải sửa có mỗi một chữ
chẳng có ǵ là quan trọng, trong tờ khai lư lịch của cô con dâu,
là hồ sơ hoàn toàn không c̣n vướng mắc ǵ, để được chuyển tiếp
lên Cơ sở Nguyễn Du.
Sáng sớm Chủ Nhật, anh X. đem đến nhà giao cho Tôi một bản sao
Phiếu chuyển hồ sơ lên Cơ sở Nguyễn Du, do ông Trưởng Cơ Quan kư
tên, có đóng dấu mộc của cơ quan và ghi ngày kư hẳn hoi. Chuyển
phiếu được kư vào ngày Thứ Bẩy, tức là một ngày sau khi bổ túc
sửa sai có một chữ trong hồ sơ.
Một tháng sau, gia đ́nh Tôi nhận được giấy Cơ sở Nguyễn Du mời
lên bổ túc hồ sơ, trước khi chuyển ra Hà Nội cứu xét. Người ta
hẹn tŕnh diện lúc 8 giờ sáng. Cả nhà lớn bé già trẻ gồm 16
người, lo dậy thật sớm ăn uống no nê để đi tŕnh diện cho kịp
giờ. Đến nơi đă thấy toàn người là người đứng bu đầy trước cửa,
chờ vào nộp giấy mời đến làm việc. Con Trai của Tôi phải đứng
chen lấn kèn cựa với người ta, măi đến 9 giờ mới nộp được giấy
và nhận tấm thẻ ghi số thứ tự vào làm việc. Trong trụ sở không
đủ chỗ cho mọi người vào cùng một lúc, gia đ́nh nào chưa đến
lượt làm việc phải đứng ngoài đường chờ. Gia đ́nh chúng tôi đợi
đến 1 giờ trưa mới được gọi vào làm việc.
Vợ Chồng chủ gia đ́nh đứng đơn, và mấy người con c̣n độc thân
được gọi vào làm việc trước. Mở đầu họ hỏi Tôi : “-Có làm việc
với bên pḥng Dịch vụ đường Nguyễn Trăi chưa?” Tôi trả lời không
biết, cần phải làm việc với bên đó trước sao? Họ nói : “-Không,
chỉ hỏi cho biết vậy thôi”, và bắt đầu lấy phiếu khai của Tôi ra
hạch hỏi kiểm tra trước tiên. Rồi lần lượt hỏi Vợ Tôi, và 3
người con độc thân. Sau đó, gọi lần lượt từng cặp Vợ Chồng những
người con đă thành gia thất và con của họ vào hỏi tiếp theo. Với
ai họ cũng hỏi câu : “-Tại sao muốn đi? Có thật sự muốn đi không?
Có ai bắt buộc đi không?” Qua cung cách tra vấn, Tôi thấy mục
đích chỉ để kiểm tra xem những câu trả lời tại chỗ của mỗi người,
có ăn khớp với những điều ghi trên mẫu phiếu khai đă nộp không,
h́nh cá nhân dán trên phiếu khai và người tŕnh diện có đúng là
một không. Đồng thời cũng để buộc mỗi cá nhân, phải đích thân
kưù tờ cam kết đại ư gồm : “Khi ra nước ngoài không được hoạt
động, hay hỗ trợ các hoạt động chống đối, có hại cho Nước Cộng
hoà Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam. Muốn trở lại Việt Nam, phải xin
phép Nhà Nước có chấp thuận mới được.” Gia đ́nh Tôi phải làm
việc suốt 2 tiếng đồng hồ liền mới xong. Cầm được tờ giấy chứng
nhận đă bổ túc hồ sơ xong, về nhà nằm đợi hoài chẳng thấy tăm
hơi ǵ. Chẳng biết lúc nào th́ hồ sơ được chuyển đi? đă chuyển
đi hay chưa? bao giờ sẽ được cấp Hộ Chiếu?
Hàng ngày, Tôi phải lo phụ các Con làm kiếm miếng ăn, chẳng có
th́ giờ đi t́m nơi hỏi thăm xem kết quả đến đâu? Thật vô cùng
chán nản, đành phó mặc cho thời vận đẩy đưa, đến đâu hay đến đó.
Nhưng nhiều Bạn khác rảnh rang không bận bịu như Tôi. Họ đâu có
chịu, phải ngược xuôi t́m đủ mọi cách, làm cho hồ sơ được giải
quyết nhanh chóng, sớm có Hộ Chiếu, để c̣n gặp phái đoàn Hoa Kỳ
phỏng vấn lên đường cho chắc ăn. Nhiều người đến pḥng Dịch Vụ
đường Nguyễn Trăi Saigon lo đóng tiền cả Triệu, nhưng hồ sơ giải
quyết vẫn chậm hơn pḥng Dịch Vụ tại Hàng Bài Hà Nội.
Tết Canh Ngọ 1990, Tôi ghé thăm chúc Tết Vợ Chồng anh Điệt. Mới
biết anh ấy đă cho người nhà ra Hà Nội, thăm thân quyến đồng
thời t́m đến Pḥng Dịch Vụ ở phố Hàng Bài, lo giải quyết vụ hồ
sơ xong rồi. Hiện đang đợi Cơ sở Dịch vụ gửi Hộ Chiếu (Passeport)
về cho, cũng như lên Danh sách gửi qua Thái Lan cho Đại diện Hoa
Kỳ định ngày phỏng vấn tại Saigon. Tôi xin anh ấy địa chỉ, về
nhà bàn với Vợ Con thu xếp kiếm sao cho có 2 triệu đồng bạc Cụ
Hồ, để biên thư liên lạc với Pḥng Dịch Vụ Hàng Bài Hà Nội lo
cho ḿnh. Giải pháp duy nhất là biên thư sang Hoa Kỳ, xin 2
người Con gửi cho mấy thùng Âu dược. Các Con của Tôi bên Hoa Kỳ,
đă hăng hái tiếp giúp ngay. Khi các thùng thuốc về tới, chúng
tôi phải đóng thuế cho Nhà Nước để lănh ra, rồi gọi người đến
bán cũng được gần 2 triệu đồng.
Mọi thủ tục giao dịch giữa Tôi và Pḥng Dịch Vụ Hàng Bài, được
hoàn tất qua đường bưu điện rất mỹ măn. Chúng tôi phải đóng mọi
phí tổn tổng cộng khoảng 1 triệu 800 ngàn đồng. Cuối tháng 7 năm
1990, tất cả mọi người trong gia đ́nh đă nhận được Hộ Chiếu kư
ngày 12 tháng 7 năm 1990, gửi bảo đảm từ Hà Nội vào tận nhà
chúng tôi ở Saigon. Trên chuyển phiếu họ ghi chú cho biết là, Bộ
Ngoại Giao cũng đă ghi tên mọi người vào danh sách H.13, và đă
chuyển cho Toà Đại sứ Hoa Kỳ tại Thái Lan để họ lên danh sách
gọi phỏng vấn tại Saigon. Mănh lực đồng tiền quả là vô địch,
thảo nào hồi cuối năm 1979, Tôi c̣n bị giam tại K5 Trại Tân Lập
Vĩnh Phú Bắc Việt, bà Chị Vợ tốt bụng ở Hải Pḥng, không thuộc
diện được thăm nuôi theo quy định của Nhà Nước, nhưng vẫn được
đến thăm nuôi Tôi, đă nói : “-Chú đừng ngạc nhiên, ở ngoài này
Chị đă có kinh nghiệm từ mấy chục năm nay rồi. Ḿnh muốn ǵ, cứ
kín đáo đưa nộp một xấp “Bác” dẫn đường, là mọi việc xong hết
chẳng vướng mắc ǵ.”
Có được Hộ Chiếu, mới chỉ yên tâm về phía Thẩm quyền Việt Nam
thôi, c̣n phải kiên tâm chờ đợi phía Hoa Kỳ cứu xét hồ sơ, lên
danh sách gọi phỏng vấn. Thời gian chờ đợi cũng không nhanh
chóng ǵ, sớm lắm cũng phải 5, 6 tháng, có khi lâu tới 1, 2 năm
không chừng. Đến khi nào qua được cuộc phỏng vấn, đi làm thủ tục
tiêm ngừa đủ thứ và khám sức khoẻ kết quả tốt rồi, cũng chưa
chắc ăn. C̣n giai đoạn chạy đến các Cơ quan từ Phường qua Quận
lên đến Thành phố, lo giải quyết đủ thứ giấy tờ : Thuế vụ, Toà
án, giao nộp nhà của ḿnh cho Nhà Nước quản lư. Tất cả hợp lệ,
c̣n phải lo tới việc đổi tiền, thuê dịch vụ chuyên chở và soát
hành lư tại Phi trường cho chót lọt nhanh chóng, thuê xe chở ra
Phi trường...
CANH NGỌ TỰ TRÀO
Mỗi năm Xuân đến mắt thêm ḷa,
Sương gió cuộc đời khắc nếp da.
Thời tiết tới kỳ chồi vẫn nẩy,
Thiên nhiên biến hoá lá c̣n ra.
Ṿng xoay năm tháng, mơ dang dở,
Luân chuyển đêm ngày, mộng lướt qua.
Thế giới chuyển ḿnh hừng khí thế,
Sáu mươi mốt tuổi hẳn chưa già ?
Phường 10, Quận Phú Nhuận, Saigon.
Giao thừa năm Canh Ngọ, 21-1-1990.
.