| Chương 28
NHỮNG NGÀY THÁNG CUỐI, LƯU ĐẦY CẢI TẠO TẠI MIỀN BẮC
VĨ TUYẾN 17
(Hồi
Ức Tù Cải Tạo Việt Nam)
Nguyễn Huy Hùng
Kiếp sống Tù Cải tạo lao động khổ sai buồn thảm, cứ vất vưởng lặng
lẽ trôi theo thời gian, giữa rừng già trong dải Trường Sơn. Nhưng
các bà Vợ Tù, lại hăng hái gan dạ không ngại gian lao khổ cực, đường
xa khe suối gập ghềnh, t́m đến thăm nuôi chồng tấp nập tại K2 Trại
Thanh Phong. Hầu như ngày nào cũng có bốn năm Bà, thay phiên nhau
chiếm ngụ Khu Nhà Thăm Nuôi đợi gặp chồng.
Riêng phần Tôi, đă biết rơ hoàn cảnh và sức khoẻ của Vợ Con, nên
luôn luôn b́nh tâm chờ đợi những gói Bưu kiện hàng tháng, và ngày
hết cơn đại nạn ra khỏi Trại Tập Trung, cùng Vợ Con đi định cư lập
lại cuộc đời, ngoài cái nhà tù khổng lồ Cộng hoà Xă hội Chủ nghĩa
Việt Nam, dưới quyền thống trị bạo tàn của Đảng Việt Cộng.
Mỗi buổi chiều đi lao động về, trong khi các Đội đứng xếp hàng trước
cổng đợi đến lượt vào khu giam, không ai bảo ai, hầu như mọi người
đều hướng mắt về Khu Nhà Thăm Nuôi, quan sát chờ trông một phép lạ
sắp xẩy ra. Khi thấy bóng chiếc xe tải của K1 chạy tới, mọi người
reo ồ lên : “Tới rồi! Tới rồi!”, làm Cán bộ Trực Trại phải giật ḿnh
xửng sốt hỏi : “-Cái ǵ, cái ǵ mà ồn ào vậy?” Sau khi được anh
Trưởng Ban Thi Đua giải thích lư do, Cán bộ nhe răng cười, không nói
ǵ.
Các Tuyên Úy Phật giáo, lẻ tẻ cũng có người được thăm nuôi. Có Vị
được thân nhân thăm nuôi. Có Vị được Phật tử, nơi Chùa ḿnh trụ tŕ
hồi trước khi đi tŕnh diện học tập, đến thăm nuôi. Riêng đối với
Thượng Tọa Thích Thanh Long, Giám đốc Nha Tuyên úy Phật giáo, được
Phật tử của Chùa Giác Ngạn nơi Ngài Trụ Tŕ trước 30-4-1975, đến
thăm nuôi cũng như gửi Bưu kiện tiếp tế rất đều hoà.
Mỗi lần Thượng Tọa Thanh Long nhận được tiếp tế, các Đại Đức lần
lượt lén tới thăm. Mỗi người tùy nhu cầu, được tự do chia nhau lấy
những món quà của Thầy. Ngoại trừ thuốc lào, không ai dám động tới,
v́ biết đó là nhu cầu duy nhất mà Thầy cần. Rút cuộc, Thầy chẳng c̣n
ǵ, y như chưa hề được thăm nuôi hay nhận Bưu kiện.
Mỗi khi có dịp cho các đệ tử đến chia nhau “xỉa” quà như vậy, Tôi
quan sát thấy nét mặt của Thượng Tọa Thanh Long rạng rỡ hẳn ra. Chắc
là trong tâm Ngài đang rộn rực hoan hỉ, v́ đă đem lại niềm vui cho
những người khác. Thật là một gương sáng về ḷng Từ bi Hỉ xả, của
một nhà Tu hành chân chính, làm Tôi thán phục vô cùng.
Những năm 1965, 66 và 67, Tôi làm Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy Trung
Ương Địa Phương Quân và Nghĩa Quân (ĐPQ & NQ) tại Saigon, Thượng Tọa
Thanh Long là Tuyên Úy trưởng của các Tuyên úy ĐPQ & NQ trên toàn 4
Vùng Chiến Thuật. Trong giai đoạn Phật Giáo xuống đường đấu tranh,
thời Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ Tịch Ủy ban Hành pháp Trung Ương,
Thượng Tọa Thanh Long đă giúp Tôi hoàn thành một công tác vô cùng
khó khăn lúc bấy giờ, ngay tại Viện Hoá Đạo ở đường Trần Quốc Toản
Saigon. Từ đó về sau, Thượng Tọa và Tôi càng thêm thân thiết, y như
Ngài là Thầy đỡ đầu cho Tôi Quy Y Tam Bảo vậy. Đầu đuôi câu chuyện
như thế này :
“Khắp trên toàn miền Nam Việt Nam, Phật tử dưới sự lănh đạo của một
số Tăng Ni tranh đấu chống Chính phủ, xuống đường thường xuyên ngày
đêm. Đặc biệt tại Saigon, Viện Hoá Đạo được coi là trụ sở Trung ương,
đại diện của Phong trào. Các Đại Lăo Hoà Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức,
Tăng Ni, Phật tử, và quần chúng hiếu kỳ, ra vào tấp nập suốt ngày
đêm.
Một buổi sáng, đúng vào lúc cao điểm, người và xe cộ đang vội vă
chen nhau đi làm, đi học, đi chợ búa cho kịp giờ. Bỗng dưng, có một
xe vận tải của Quân lực Hoa Kỳ chạy ngang trên đường Trần Quốc Toản.
Tới gần trước cổng Viện Hoá Đạo, đồng bào Phật tử tụ tập di chuyển
hỗn độn, đầy cả mặt đường và bu quanh chiếc xe. Người lính Đồng Minh
Hoa Kỳ ngồi bên tài xế trên xe sợ hăi, nổ súng chỉ thiên hướng ra
phía trước, với hy vọng làm cho mọi người giật ḿnh tránh sang 2 bên
đường cho xe chạy qua. Nhưng không may, một viên đạn lạc trúng nhằm
người đàn ông cưỡi xe gán máy. Ông ta gục ngă ngay bên lề đường phía
gần Chợ Cá. Mọi người giạt sang bên cho chiếc xe chạy qua, rồi xúm
nhau khiêng người bị nạn vào bên trong Viện Hoá Đạo để cấp cứu.
Nhưng không kịp, ông ta đă chết.
Một lúc sau, tin t́nh báo cho biết, người đàn ông ấy là một Chiến sĩ
Địa Phương Quân thuộc Tỉnh Biên Hoà, mặc thường phục đi ngang gặp
nạn. Bộ Tổng Tham mưu ra lệnh cho Bộ Chỉ huy Trung Ương ĐPQ và NQ
đóng tại đường Hùng Vương Chợ Lớn, phải nhờ Tuyên Úy Phật Giáo của
Bộ Chỉ Huy là Thượng Tọa Thích Thanh Long, giúp can thiệp đem xác
Chiến hữu này ra khỏi Viện Hoá Đạo, để tránh việc Ban tranh đấu lợi
dụng xác chết làm rùm beng, gây thêm chuyện khó khăn cho Chính Phủ
Nguyễn Cao Kỳ. Lệnh ra, phải tức tốc thi hành và báo cáo kết quả lên
Bộ Tổng Tham Mưu, trong thời gian sớm nhất.
Là Tham Mưu trưởng của Bộ Chỉ huy Trung ương ĐPQ & NQ, Tôi phải cử
ngay người lên tận Biên Hoà, tiếp xúc với thân nhân của người Chiến
hữu bất hạnh để trấn an, và canh chừng không cho ai có cơ hội đến
mua chuộc lợi dụng. Đồng thời, Tôi phải đích thân chạy tới nơi cư
ngụ của Ban Tham mưu các Thầy lănh đạo Viện Hoá Đạo, t́m gặp Thượng
Tọa Thích Thanh Long, nhờ đạo đạt cho Tôi diện kiến Thượng Tọa Thích
Tâm Châu (người lănh đạo tối cao của Phong trào tranh đấu lúc bấy
giờ), tŕnh bầy xin giúp đỡ, tránh trường hợp những phần tử quá
khích lợi dụng xác chết làm lớn chuyện. Thượng Tọa Tâm Châu không có
mặt tại đó. Thượng Tọa Thanh Long phải lên xe mở đường dẫn Tôi vào
Viện Hoá Đạo, để t́m Thượng Tọa Tâm Châu xin diện kiến.
Thoạt đầu, chúng tôi cũng gặp nhiều khó khăn. Thượng Tọa Thanh Long
phải đích thân đi gặp hết Thầy này đến Thầy kia, qua lại cả giờ đồng
hồ sau mới được diện kiến Thượng Tọa Tâm Châu. Sau khi nghe tŕnh
bầy cặn kẽ mọi khía cạnh của sự việc, Ngài suy nghĩ hồi lâu rồi gật
đầu thông cảm, hoan hỉ giúp đỡ chúng tôi. Nhờ thế vào lúc nửa đêm
ngày hôm đó, chúng tôi đă dùng xe Quàn Mai Táng của ĐPQ & NQ, có anh
em Nhẩy dù đi theo hộ tống, không mở đèn, chạy lén vào đường cổng
hậu của Viện Hoá Đạo, đem xác Chiến hữu xấu số ra khỏi ṿng vây của
hàng ngàn người đấu tranh, lúc nào cũng tấp nập ra vào tràn ngập
Viện Hoá Đạo.”
Cuối tháng 4 năm 1982, Tôi được rời Trại Thanh Phong chuyển về Nam,
Thượng Tọa Thanh Long bị đưa trở ra vùng đồng bằng Bắc Việt. Ngài
được tha ra khỏi trại tập trung trước Tôi, trở về tiếp tục tu tại
Chùa Giác Ngạn ở Phường 10 Quận Phú Nhuận Saigon. Ngài đă qua đời
ngày 22 tháng 10 năm 1991 (Tân Mùi) v́ bệnh hoạn, hậu quả của mười
mấy năm chịu đọa đầy trong các Trại Tập trung của Cộng sản Việt Nam.
Phần các Tuyên Úy Công giáo, việc thăm nuôi tiếp tế được các Toà
Giám Mục và Tổng Giám Mục tổ chức quy củ hơn. Ngoài những Bưu kiện
nhận được hàng tháng, các Ngài c̣n được Toà Tổng Giám Mục cử các D́
Phước đến thăm nuôi Vị Linh Mục cao niên để trao vật phẩm tiếp tế.
Vị này nhận lănh đem vào Trại chia lại cho các Linh Mục khác cùng
hưởng. Các D́ Phước được tổ chức xin đi thăm nuôi dưới danh nghĩa
thân nhân, chớ không nhân danh đại diện Toà Tổng Giám Mục. Do đó Cán
bộ Cộng sản ác tâm xấu miệng phê phán rằng : “-Thầy Chùa, Cha Cố đi
tu, mà cũng có vợ có con như mọi người thường?”
Việc thăm nuôi Tù càng tấp nập, tin tức về Chương tŕnh Hoa Kỳ vận
động giải thoát Tù Chính trị miền Nam càng được cập nhật hoá, đem
lại niềm tin và tinh thần cho anh em tiếp tục chịu đựng, đợi chờ
ngày được giải phóng. Mọi nét ưu tư bi quan, xưa nay hằn trên khuôn
mặt mọi người tiêu tan hết, và h́nh như trong những giờ lao động cực
nhọc, không c̣n ai cảm thấy là đang bị hành hạ vất vả nữa.
Cán bộ không c̣n kiểm soát gắt gao như những năm trước 1980. Hệ
thống “ăng ten” của Trại h́nh như cũng được chỉ thị giảm cường độ
hoạt động. Có lẽ Việt Cộng muốn tránh trường hợp sau này, các “ăng
ten” của họ bị vạch mặt chỉ tên hoặc bị trả thù, bởi các Cựu Tù nhân
Chính trị đi định cư lưu vong nơi hải ngoại.
Vào giờ thứ 25 này, anh em cũng chẳng c̣n e ngại bao nhiêu, nên
trong giờ nghỉ thường lén qua lại giữa các Láng, để thăm nhau, tṛ
chuyện, ăn uống, trao đổi tin tức. Đặc biệt vào những ngày Chủ Nhật
và nghỉ Lễ, những Bạn dư giả đồ tiếp tế của gia đ́nh, thường bầy vẽ
tổ chức nấu nướng biến chế các món ăn theo sở thích, mời dăm bẩy Bạn
thân tới cùng đánh chén chuyện tṛ vui vẻ. Lần nào cũng không quên
mời một Bạn có trí nhớ tốt tham dự, để sau khi ăn bạn ấy kể những
truyện kiếm hiệp của Kim Dung, hoặc truyện Đông Châu Liệt quốc, Tam
quốc chí, Tây du kư... cho mọi người nghe giải trí, giết th́ giờ
rảnh rỗi.
Thông cảm nỗi khó khăn của các Vị Đại Đức trẻ không có quà cáp, Tôi
thường lấy các thực phẩm khô do gia đ́nh tiếp tế như : tôm khô, nước
mắm khô, mứt cà chua, ḿ ăn liền, miến, sữa bột, bột đậu xanh và
đường, góp cùng các Vị trồng được rau “cải thiện”, hoặc có sắn tươi
do Cán bộ “bồi dưỡng” nhờ “lao động năng nổ”, để biến chế các món ăn
đặc biệt cùng nhau thưởng thức. Những lần như vậy, chúng tôi không
quên nấu miến chay có rau và mộc nhĩ nêm bột ngọt, để biếu Thầy
Thanh Long chia sẻ niềm vui “bồi dưỡng”.
Thầy Thanh Long không bao giờ ăn mặn, phần thịt, cá, hoặc mắm được
Nhà Nước tăng cường cho các bữa ăn trong những ngày Đại Lễ và Tết,
Thầy đều cho người khác lănh mà dùng. Nhưng đối với các Đại Đức trẻ,
Thầy rộng lượng răn rằng : “-Giữ ǵn ư chí cao để tiếp tục Tu hành,
ngay cả trong những lúc khó khăn như thế này, mới là điều quan trọng.
Nhưng trong giai đoạn hiện tại, tùy theo cái nghiệp của mỗi người,
việc Trai Giới có thể tùng biến.”
Tháng 6 bắt đầu mùa mưa lũ hàng năm. Có khi mưa suốt đêm đến sáng
th́ tạnh. Có khi mưa kéo dài từng cơn, ṛng ră 2, 3 ngày mới dứt.
Con sông và các suối nhỏ hồi chiều tối c̣n cạn queo, qua một đêm mưa
đến sáng đă tràn trề mênh mông nước lũ cuồn cuộn chảy, cuốn theo
những cây rừng bật gốc, những bụi chuối rừng, những khóm khoai ḿ...
Diện tích trồng rau bên bờ sông bị ngập hơn phân nửa, nhiều luống
rau bị nước cuốn đi, chẳng c̣n vết tích ǵ.
Trong mùa mưa băo, đi lao động thật là một cực h́nh. Lúc phải dăi
nắng chói chang oi nồng muốn ngộp thở. Lúc lại dầm mưa xối xả như
thác đổ lên người, ướt sũng từ đầu đến chân lạnh cóng.
Khoảng giữa tháng 7 năm 1981, bỗng dưng Trời âm u mấy ngày liền,
tiếp theo là những cơn mưa rừng tầm tả đổ xuống, nước sông dâng cao
nhưng vẫn phải đi lao động. Đến nửa đêm 14 tháng 7, cơn băo nhiệt
đới đầu tiên trong năm ập tới tàn phá toàn vùng. Từng đợt gió thét ù
ù xé không gian, làm náo động như có những đoàn phản lực cơ đang bay
ngang, khiến mọi người tỉnh giấc bàng hoàng sợ hăi.
Tôi nằm trên xạp ngủ tầng cao sát mái nhà, cảm thấy sợ hơn những
người nằm ở xạp dưới gần mặt đất. Mỗi lần nghe tiếng gió gầm, ù ù
nho nhỏ từ đàng xa rồi lớn dần, dẫy nhà bị xô nghiêng đi kêu răng
rắc. Khi những miếng tôn trên mái nhà, bị giật kêu rầm rầm xoảng
xoảng, là lúc đợt gió đang thổi qua đầu. Lúc tiếng ầm ầm ào ào xa
dần và im bặt, dẫy nhà bị đẩy ngược lại, đu đưa kêu cót két như muốn
xập đổ. Thật khủng khiếp.
Đợt gió đầu tiên đi qua, Láng của chúng tôi có miếng tôn trên mái bị
bứt đanh bay đi mất. Đợt gió tiếp theo bóc thêm mấy miếng nữa, tạo
thành một lỗ hổng khá lớn ở khúc giữa nhà. Mưa gió lùa vào trong nhà
xối xả, làm ướt hết mùng mền chiếu đồ đạc. Người cũng bị ướt lạnh,
lo sợ run như cầy sấy. Một số anh em gan dạ phải hiệp sức, gỡ dây
kẽm cột màn dọc kệ nằm tầng trên, leo lên giàn nóc nhà t́m cách cột
giữ những miếng tôn chung quanh lỗ hổng, cho những đợt gió sau không
bóc thêm. Những người gan dạ tự nguyện xông xáo làm cái việc vô cùng
nguy hiểm này, là các bạn Đại tá Dương Hiếu Nghĩa, Trịnh Đ́nh Đăng,
và Hoàng Trọng Trị.
Hoàn cảnh lo âu sợ xệt này, làm Tôi hồi tưởng nhớ những năm đầu Thập
niên 1940. Phi cơ chiến đấu của Hoa Kỳ từ Trung Hoa lục địa bay sang
Lạng Sơn, oanh kích thả bom phá các trụ sở Quân Phiệt Nhật, ở lẫn
lộn trong các khu cư ngụ của dân chúng trong thành phố. Lúc đó Tôi
là Hướng Đạo Sinh, đă từng đeo khăn quàng Hướng Đạo vào cổ, chạy
trên đường phố băng qua các hầm trú ẩn, để băng bó tiếp cứu di tản
các nạn nhân bị thương máu me bê bết đầy người. Nhưng chưa bao giờ
cảm thấy sợ hăi, như trong những giây phút thịnh nộ của Thiên nhiên
tại K2 Thanh Phong, trong cái đêm “cát tó duy dê (14 tháng 7) năm
1982 này”. Thật kinh hoàng, chẳng bao giờ Tôi quên được.
Chừng 3 giờ sáng, cơn băo dứt. Dưới ánh sáng tù mù của chiếc đèn
chai dầu hôi, treo lửng lơ dưới khung cửa pḥng vệ sinh nơi cuối
Láng, anh em chúng tôi thu vén lại chỗ nằm và ngủ thiếp đi v́ mệt
mỏi. Sáng hôm sau được mở cửa ra đi lao động, mới thấy rơ sức mạnh
tàn phá hung tàn của trận băo.
Trong khu giam Tù, những Láng nằm về phía Tây và Tây Nam, thế đất
thấp, bị nước dâng ngập ngang bụng. Những người nằm xạp ngủ sát đất,
phải leo lên tá túc trên xạp cao. Đồ đạc thực phẩm khô do nhà tiếp
tế, chuyển lên không kịp bị ướt sũng, thấm nước phân từ các thùng
chứa trong pḥng vệ sinh nổi lên trôi ra, coi như hư hỏng trăm phần
trăm. Cũng có đôi người tiếc, của mồ hôi nước mắt do Vợ Con chắt
chiu tần tiện từng đồng mua gửi cho, nên đem phơi khô để dùng, bỏ đi
sợ “phí của Trời, mười đời không có mà ăn”. Thật tội nghiệp!
Gần nhà Bếp khu giam, một cây lim cao bị bật gốc đổ nằm dài giữa 2
Láng, ngọn với cành lá um tùm choáng hết khoảng đất trống bên Hội
trường, không gây thiệt hại ǵ cho người và của. Thật may cho Đội
nhà Bếp. Hội trường, chung quanh vách trống trải, gió luồn vào bóc
cuốn đi nhiều miếng tôn làm mái hư hại nặng. Có miếng bị gió cuốn
băng ra ngoài hàng rào Khu giam, rớt rải rác trên đường, mắc trên
các tàn cây cao. Cũng có miếng rớt ngay trong sân hoặc xuyên kẹt
trên hàng rào quanh khu giam. Cách cổng khu giam Tù chừng 500 mét,
khoảng giữa con đường đi tới Khu Cán bộ ở, có một cây cổ thụ gốc to
cỡ 7 người dang tay ôm, cao trên 50 mét, thân chia ra 2 nhánh bị bẻ
gẫy một, dính đùng đưa trên cao, ngọn gục là là mặt đất. Ai cũng sợ
chẳng dám đến gần, thế mà anh em Đội Lâm Sản phải làm đủ mọi cách
trèo lên, đốn cho rơi xuống. Trên suốt dọc đường ra “hiện trường lao
động” của các Đội, cây đổ ngổn ngang, nhà lô tốc mái xiêu vẹo. Nước
sông nước suối đục ngầu, tràn bờ cuồn cuộn chảy.
Trại làm báo cáo lên Nhà Nước, tài sản hoa mầu thiệt hại 100 phần
trăm. Một đợt “thi đua khắc phục Thiên tai, đón mừng ngày Đại lễ 2
tháng 9”, lập tức được tung ra. Mọi người phải “khẩn trương” dọn dẹp
tu sửa, những đổ nát hoang tàn do cơn băo để lại, và tích cực gia
tăng trồng hoa mầu gấp rút trong suốt 2 tháng trời.
“Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí”, vừa mừng Lễ Độc Lập xong, một
Thiên tai thứ 2 lại ập tới vào ngày 19 tháng 9. Lần này mưa tàn bạo
hơn gió, mới chỉ có một ngày một đêm mà nước lũ đổ về mênh mông.
Trong khu giam Tù, những Láng ở vùng thấp nước ngập lưng chừng nhà,
mấp mé ngang xạp nằm tầng trên. Chỉ c̣n mấy dẫy gần sát cổng và Nhà
Bếp th́ nước chưa dâng tới. Mọi Tù bị giam trong các Láng bị ngập,
được lệnh quăng đồ đạc lên xạp tầng cao, và tản cư tới các dẫy nhà
chưa bị ngập sát bên cổng khu, cạnh sân tập họp để tá túc. Nhóm Tù
H́nh Sự di tản tập trung trong Hội trường.
Nước dâng thật nhanh. Lúc đó là sau giờ điểm danh tối, mọi người bị
giam trong các Láng, cửa khoá trái bên ngoài. Chúng tôi nh́n qua cửa
sổ và khe vách liếp, quan sát các Bạn cư ngụ tại các Láng phía Tây
bị ngập tản cư ngang. Cuộc tản cư vừa dứt, nước đă theo chân họ dâng
đến tận nền Láng ở của chúng tôi, và chỉ khoảng 10 phút sau tràn vào
trong nhà dâng cao đến đầu gối chân. Các thùng chứa phân trong pḥng
vệ sinh nổi lên lềnh bềnh, trôi sang khu ngủ trong Láng.
Chúng tôi tự động tiếp tay nhau, chuyển đồ đạc của các Bạn ở xạp
dưới lên xạp trên. Cán bộ Trực Trại vào mở cửa, hối “khẩn trương”
quăng hết đồ đạc lên xạp ngủ tầng trên, di tản qua dẫy nhà ngay bên
kia sân tập họp, khu cao nhất trong trại giam. Trời vẫn mưa tầm tă
không ngớt. Láng chúng tôi gồm gần 100 người, được dồn vào tá túc
trong một Láng cũng đang chứa khoảng gần 100 bạn Tù khác. Chen nhau
ngồi chặt cứng như nêm, đầy cả 2 tầng xạp ngủ sát đất và trên cao.
Khoảng nửa đêm, mọi người đang thiu thiu ngủ, có tiếng loạch xoạch
mở khoá cửa. Cán bộ Trực Trại, Quản Giáo Dội, và Thi Đua ập vào,
chiếu đèn pin lia lịa điểm danh từng Đội trong Láng. Lúc đó mới biết
là nước đă dâng ngập sân tập họp, và đang tràn vào nền nhà nơi chúng
tôi tá túc. Trong khi Cán bộ điểm danh, nước từ từ dâng cao, ngập
bàn chân rồi đến nửa ống quyển chân. Chúng tôi hoang mang suy nghĩ,
nhưng không giám nói ra : “-Cứ cái đà này, không biết nước sẽ c̣n
dâng lên đến đâu? Liệu có được di tản lên vùng đất cao khu Cán bộ ở
không? Cả K2 gồm khoảng 5, 6 trăm Tù, Hội trường Khu Cán bộ nhỏ xíu
làm sao đủ sức chứa?” May thay, nửa giờ rồi một giờ trôi qua, nước
lên gần xấp xỉ mặt xạp nằm tầng dưới, th́ ngưng lại không dâng tiếp.
Kiểm tra xong, Cán bộ đi ra, cửa Láng được khoá lại, tiếng mưa tiếp
tục gơ rào rào trên mái tôn. Khi ánh đèn của Cán bộ vừa khuất, từ
chỗ anh Đội trưởng nằm cạnh bên cửa, bắt đầu có những tiếng th́ thầm
truyền tai nhau, cho biết là có một anh thuộc Đội Nhà Bếp vắng mặt,
nên mới có cuộc đi các Láng kiểm tra nhân số từng Đội.
Đến giờ điểm danh sáng, Cán bộ mở khoá các Láng cho Tù ra. Nước lụt
đă rút ra khỏi ṿng rào Trại, để lại một lớp bùn sền sệt nâu xám
ngập cổ chân. Anh em không phải ra ngoài lao động, được ở trong trại
thu dọn sạch sẽ. Nhờ dấu bùn c̣n ghi lại trên vách phên, mới biết
Láng chúng tôi bị nước ngập cao khoảng 1 mét. Trong nền nhà và trên
mặt xạp ngủ tầng dưới, bị phủ một lớp bùn dầy nhăo nhoẹt. Anh em
tiếp tay nhau quét vét bùn khỏi mặt xạp, trên nền nhà, và sân chung
quanh nhà, cho trơ nền đất cứng ra để đi lại được dễ dàng.
Lúc gần hết giờ lao động sáng, anh em Đội Nhà Bếp khênh đồ ăn tới
phát, tin về anh bạn mất tích đêm qua mới được x́ xầm loan truyền
như sau :
“Nửa đêm, nước dâng ngập chuồng lợn (heo) “cải thiện” của Tù, ở sát
bờ rào gần Nhà Bếp. Cán bộ phải vào mở cửa Láng Đội Anh Nuôi, điều
động mấy người ra lội mưa di tản lợn. Làm xong việc, nhóm công tác
trở vào Láng, thiếu một người. Cán bộ gạn hỏi, các bạn trong toán
báo cáo, anh ta bị hụt chân nước cuốn trôi mất tích. Cán bộ bủa đi
t́m quanh bờ rào không thấy, liền trở lại kiểm tra tư trang của anh
mất tích, thấy thiếu một số vật dụng và thực phẩm khô cần cho nhu
cầu nhiều ngày. Cán bộ nghi là trốn trại, và sợ có thể nhiều người
khác cũng lợi dụng mưa lụt để đào ngạch xé vách trốn, do đó phải
“khẩn trương” đi kiểm tra tất cả các Láng trong đêm.”
Anh bạn Tù mất tích là một Sĩ quan cấp úy thuộc Binh Chủng Hải quân,
nên không ai nghĩ là anh ấy bị chết đuối. Nhiều ngày qua đi, Trại
giam không có tin tức ǵ về việc vớt được xác người chết đuối ở vùng
hạ lưu. Cũng không thấy có ai bị bắt đem trở lại Trại. Chúng tôi
nghĩ rằng anh ấy đă trốn trại. Mọi người đều nguyện cầu, mong cho
anh ấy thoát được ra khơi, và sớm có Tự do.
Trận lụt này làm dẫy nhà 3 gian Khu Thăm Nuôi bị xập. Đội chúng tôi
được chỉ định đến dỡ bỏ, để Đội Xây Dựng cất lại nhà mới 5 gian, có
nhiều chỗ hơn tiếp đón khách “thăm nuôi”.
Xong công tác này, Đội chúng tôi được “biên chế” lại thành Đội Gạch.
Anh em được chia thành nhiều Tổ, để đảm trách nhiều Khâu khác nhau.
Những người khoẻ vào các Khâu : Thái đất, Quần trâu, Lên quả, Vận
chuyển đất, và Đóng gạch. C̣n những người yếu như Tôi, làm trong các
Khâu : Đóng than đá cám thành bánh phơi khô, hoặc Chuyển gạch mộc
mới đóng xong ra phơi ở giữa sân cho khô, rồi đem xếp vào nhà chứa
chờ đủ mẻ sẽ Vào Ḷ nung.
K2 Thanh Phong có 2 Đội Gạch, một Đội gồm toàn Tù H́nh Sự, phụ trách
ḷ nhỏ cỡ mỗi mẻ 5 ngàn viên. Đội chúng tôi toàn là dân Tù Chính trị
miền Nam, gồm một số Đại tá, và Linh Mục, Đại Đức, Mục sư Tuyên úy
Quân đội, phụ trách ḷ lớn cỡ hơn 7 ngàn viên một mẻ.
Các Vị Tuyên úy tương đối tuổi c̣n trẻ, khoẻ nên được chia vào các
Khâu nặng. C̣n nhóm Đại tá chúng tôi già yếu, được chia vào 2 Khâu
nhẹ. Đến giai đoạn “Vào ḷ”, tức là xếp gạch mộc vào ḷ để nung, tất
cả các Khâu phải “hợp đồng” cùng làm theo dây chuyền.
Thoạt đầu Tôi và 3 Bạn nữa được giao phó công tác đóng than đá cám,
thành bánh h́nh chữ nhật to dầy cỡ viên gạch. Công việc tương đối
không nặng nhọc nhưng vất vả, v́ phải làm theo “chỉ tiêu” quy định
hàng ngày hơi cao. Chúng tôi phải “hợp đồng” làm liên tục không ngơi
nghỉ, thực hiện lần lượt từng công đoạn một. Trước tiên, cùng đi
“thái đất” sét ở hầm, xúc lên xe chuyển về đổ bên đống than đá cám.
Sau đó đập bằm cho đất nhỏ tơi, trộn đều với than đá. Phải tính sao
cho mỗi mẻ, đủ đóng 10 khuôn 6 miếng than, to dầy bằng cỡ viên gạch.
Rồi ban mỏng mẻ than trộn đất thành một mặt tṛn đường kính cỡ 2 mét.
Gánh nước đổ vào trộn đều liên tục, cho đất và than quện với nhau
thành một loại hồ mầu đen, vừa sền sệt không khô mà cũng không lỏng
quá. Tiếp theo là xúc vào “ky tôn” khiêng ra sân, đổ vào từng mảng
khuôn 6 miếng một để phơi, và xoay trở mặt hàng ngày cho mau khô.
Sau cùng đem xếp vào lô tồn trữ, chờ ngày nung gạch sẽ chuyển về xếp
xen kẽ với gạch trong ḷ.
Hiện trường làm than của chúng tôi ở phía bên kia hồ nước, đối diện
với hiện trường lao động của Đội ngay bên ḷ gạch. Hai tuần lễ sau,
đóng xong đủ số than cần cho một ḷ gạch, chúng tôi được điều động
về lao động chung bên Đội, phụ trách Khâu chuyển phơi gạch mộc mới
đóng, xoay trở hàng ngày cho khô rồi đem xếp vào lô.
Được về làm bên anh em phụ trách các Khâu khác, Tôi mới có dịp quan
sát để hiểu được thế nào là Thái đất, Quần trâu, Lên quả.
“Thái đất” là sắn đất chung quanh hầm đất sét, hất mạnh cho đất tơi
rải đều trên mặt nền giữa hầm, thành một lớp dầy bằng phẳng. Hầm đất,
thoạt đầu nông hẹp, lần lần rộng ra và sâu xuống thêm, sau mỗi đợt
“thái đất”.
“Quần trâu” là dắt trâu đi ṿng tṛn trong hầm, đạp cho đất nhuyễn
thành một loại bùn xệt đặc, y như chúng ta thường được xem các phim
chuyện thời Phong kiến bên Âu Châu, bắt nô lệ đứng trong các bồn gỗ
lớn đạp nho, cho nát nhuyễn ra để đem cất rượu vang vậy. Trước khi
Quần trâu, cũng như trong khi Quần trâu, phải có những người gánh
nước đổ vào đều đều đủ lượng cần thiết, sao cho đất quện vào nhau
sệt quánh lại như hồ, không khô và cũng không nhăo.
Khi đất đă thật nhuyễn sệt quánh vào nhau, gọi là “đất chín”. Đến
phiên Khâu Lên Quả xuống, sắn, xúc “đất chín” gom thành một đống
tṛn, cao vồng lên như nửa quả cầu ở giữa hầm đất.
Tiếp theo là nhiệm vụ của Khâu Chuyển Vận, xén “quả đất chín” đem
lần lần từ hầm đất lên giữa sân, cho Khâu Đóng Gạch làm nhiện vụ của
họ. “Đất chín” được xúc đổ thành đống tṛn, trên một mảnh ván dầy để
trên xe cải tiến, kéo đến bên bàn đóng gạch. Khâu Chuyển Vận Đất
Chín phải thường xuyên theo dơi công việc đóng gạch, để lúc nào cũng
có đất tiếp tế đều hoà liên tục, cho những anh đóng gạch không phải
chờ. Hai công tác Chuyển Vận Đất Chín và Đóng Gạch phải được phối
hợp, làm “khẩn trương” liên tục cho mau xong, nếu không “quả đất” sẽ
bị khô không dùng được, sẽ phải phá ra làm lại từ đầu.
Mỗi người đóng gạch có một bàn riêng, với 3, 4 chiếc khuôn gỗ, 1 dao
cắt đất, và một thùng tro. Mỗi khuôn đúc ra 2 viên gạch một lượt.
Người đóng gạch phải có đôi cánh tay rất mạnh, và sức khoẻ dồi dào
dẻo dai mới cáng đáng nổi. Công việc đóng gạch coi thấy chẳng khó
khăn ǵ, nhưng rất vất vả mệt mỏi, yếu sức không thể làm nổi. Tôi đă
tập đóng thử một khuôn, kết quả là đất không nhồi được đầy ḷng
khuôn, 2 viên gạch lấy ra đều bị vẹt góc và cạnh dưới phía chạm mặt
bàn, không đầy đặn phẳng nhẵn như mặt trên cắt bằng dao.
Các công đoạn đóng gạch được thực hiện theo tự sau : 1,- Rắc một lớp
tro mỏng lên mặt bàn, đặt khuôn gỗ lên rồi tung một nắm tro khác vào
trong ḷng khuôn, để đất sét không dính khuôn khi đổ gạch mộc đóng
xong ra sân phơi. 2.- Lấy dao cắt một viên đất thật to, vừa đủ đóng
2 viên gạch một lần theo khuôn. Dùng 2 tay bê viên đất dơ cao lên,
ném xuống mặt bàn nhiều lần, để nhồi cho mịn và tṛn cạnh. Sau đó bê
viên đất đă nhồi lên cao, ném mạnh xuống khuôn, cho đất rập đầy ḷng
khuôn. Rồi dùng dao cắt sát một đường dài, từ đầu bên này sang đầu
bên kia khuôn, để hớt đám đất dư ngoài khuôn bỏ đi.
3.- Đẩy khuôn gạch đóng xong sang bên, để người phụ trách phơi bê đi,
đổ ra trên mặt sân thành từng hàng dài nối tiếp nhau.
Khuôn gạch đóng xong vừa được mang đi, người Đóng Gạch lấy một khuôn
khác, tiếp tục làm lại từ đầu những công đoạn thực hiện việc đóng
gạch của ḿnh.
“Dao cắt đất” không phải loại ta thường thấy dùng để cắt thịt hay
chặt cây. Nó là một khung gỗ h́nh chữ U, nơi hai đầu chữ U căng
ngang một sợi dây kẽm nhỏ thật thẳng. Sợi kẽm này chính là lưỡi dao
cắt đất.
Công việc làm của những người Đóng gạch, Quần trâu, Lên quả và
Chuyển vận đất, được coi là loại “lao động nặng” nên lănh phần “tiêu
chuẩn” ăn hàng ngày cao hơn mọi người trong Đội. Thỉnh thoảng Quản
giáo Đội c̣n cho lén đi lấy trộm, từng bao tải sắn của Trại về “bồi
dưỡng”. Dĩ nhiên, bao giờ Quản giáo và Cảnh vệ cũng có phần “bồi
dưỡng” thoả thê. Nếu chẳng may, người đi lấy trộm bị bắt, ráng mà
lănh chịu kỷ luật, không được khai là Quản giáo Đội cho phép đi.
Thấm thoát, cuộc đời Tù của chúng tôi, đếm thêm mùa Thu thứ Sáu. Mưa
Ngâu và nắng Hanh làm lá rừng đổi màu, từ xanh sang vàng, đỏ, nâu,
để đợi gió heo may về theo nhau lả tả trút xuống mặt đất, mặc cho
cây cành trơ trụi, chịu đựng mưa Phùn gió Bấc lạnh lùng suốt mùa
Đông. Tết Nhâm Tuất 1982, đến với nhiều tin dồn dập khác thường.
Theo niềm vui riêng của mỗi người, cả Tù lẫn Cán bộ K2 Trại Thanh
Phong đều hân hoan chuẩn bị đón Tết, nhộn nhịp khác hẳn mọi năm.
Anh bạn Đại tá Hồ Hồng Nam (gốc Chiến tranh Chính trị) nằm bên cạnh
Tôi, vẫn thuộc nhân số của Đội, được tăng phái làm việc trong Ban
Văn Hoá chuẩn bị Hội trường đón Tết, cho biết : “-Cán bộ Giáo dục
tiết lộ tin Trại Thanh Phong sẽ đóng cửa, trao lại cho Chánh quyền
địa phương quản lư tiếp tục khai khẩn, Tù Chính trị được đưa hết về
Nam chờ ngày tha, Tù H́nh Sự sẽ chuyển đi nơi khác.”
Anh bạn Đại tá Tô văn Vân cũng nằm bên cạnh Tôi, phụ trách nấu nước
tại nhà Lô của Đội cho biết, trong một lúc vui câu chuyện, Quản giáo
Đội hỏi ḍ : “-Thủ Đức và Hàm Tân thuộc tỉnh nào tại miền Nam?”
Thân nhân đến “thăm nuôi” đưa tin : “-Có nhiều đợt Tù Chính trị được
di chuyển về Nam bằng Tầu Hoả, và nhiều đợt tha lẻ tẻ dăm bẩy người
hoặc từng nhóm đông cả trăm người. Có người được tha từ miền Bắc, có
người được tha sau khi về các trại trong Nam.”
Để chuẩn bị ăn Tết, Anh Đội trưởng xin Quản Giáo Đội, cho Tôi nghỉ
công tác chuyển phơi gạch trong vài ngày, để thực hiện việc hớt tóc
cho anh em trong giờ lao động. Quản Giáo chấp thuận. Ông ta quan sát
thấy Tôi hớt được đủ kiểu cao, thấp, vừa vừa với tóc mai xanh...
theo ư muốn của khách hàng. Sau khi hớt cho anh em trong Đội xong,
ông ta yêu cầu Tôi đến sân sau nhà Lô, phía nh́n xuống ḍng sông nơi
ông ấy cư ngụ, hớt tóc cho ông ấy và mấy người Bạn Cán bộ khác từ xa
có dịp đi ngang ghé thăm. Quản Giáo Đội chúng tôi là Thượng sĩ Công
An, mới mua được chiếc xe đạp do Trung Cộng sản xuất. Bạn bè ai cũng
trầm trồ khen đồ tốt, và tỏ vẻ thèm muốn được làm chủ một chiếc như
vậy.
Trong lúc hớt tóc, ông ấy hỏi chuyện Tôi về t́nh trạng gia đ́nh, và
trước kia gia đ́nh Tôi sống ra sao? Đời sống của đồng bào lao động ở
trong Nam như thế nào?
Vào giờ thứ 25 này th́ chẳng c̣n e dè ǵ, Tôi thủng thẳng kể cho ông
ấy và các bạn của ông ấy nghe sự thật nếp sống của gia đ́nh Tôi, và
một ví dụ về nếp sống của người lao động tại Saigon trước 30-4-1975
như thế nào?
Đại để : “Dưới Chế độ cũ tại miền Nam, Vợ Con của Tôi được phép làm
“kinh tế” (buôn bán tự do) như mọi người dân thường khác, dĩ nhiên
là phải đóng thuế cho Chính phủ. Vợ của Tôi hùn hạp với bạn bè, lập
xưởng sản xuất quần áo trẻ con và người lớn, gửi bán cho các bạn
hàng trên khắp các tỉnh. Lợi nhuận kiếm được hàng tháng rất nhiều,
gấp 4, 5 lần lương Chính phủ phát cho Tôi. Do đó lương của Tôi chẳng
bao giờ phải dùng tới. Tôi mở cho mỗi người con một Trương mục Tiết
kiệm trong Ngân Hàng Việt Nam Thương Tín, để gửi tiền tích lũy và
lấy lời hàng tháng. Sau này khi chúng đến tuổi trưởng thành, có sẵn
một món tiền làm vốn vào đời, ngoài mớ khả năng văn hoá học được tại
nhà trường trong thời niên thiếu. Nhưng bây giờ th́ chẳng c̣n ǵ, v́
sau ngày Cách mạng giải phóng, Ban Quân quản tiếp thu Ngân hàng,
không ai trách nhiệm cứu xét hoàn trả cho chúng tôi. Tiền dành dụm
bao năm nay tiêu biến hết, đúng như các Cụ ta ngày xưa thường nói :
“mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Số Trời đă định như vậy, đành
phải chịu chớ biết sao?
Hai người con lớn của Tôi học Đại học Y khoa và 3 người học Trung
học, đều được Vợ Tôi mua cho mỗi người một xe máy dầu hiệu Honda,
làm phương tiện di chuyển hàng ngày. Loại xe này giống như chiếc
Side-Car mà Đại úy Giám thị Trưởng Phân trại K2 mới được cấp, nhưng
nhỏ hơn, và không có thùng ghế cho người ngồi bên cạnh. Sau ngày
giải phóng phải bán đi để mua xe đạp dùng, v́ tiền ăn c̣n không có,
lấy đâu dư mua săng chạy xe máy dầu.”
Về phần dân lao động trong Nam, Tôi kể chuyện gia đ́nh một bác đạp
xe xích lô tại Saigon. Tôi biết rơ v́ Tôi có hùn vốn kinh doanh, với
người bạn làm chủ công ty nhỏ cho mướn xe xích lô đạp.
“Gia đ́nh bác X. ở một thôn trong vùng xôi đậu thuộc Tỉnh Tây Ninh.
V́ chiến tranh giữa quân Cách mạng và quân Quốc gia xẩy ra thường
xuyên, sinh hoạt gặp khó khăn, mạng sống không được bảo đảm an toàn.
Bác X, đă giắt gia đ́nh gồm Vợ và 2 con nhỏ lên Saigon, tá túc tại
nhà người anh bà con bên Vợ để kiếm việc làm. Xưa nay sống nơi đồng
quê, chỉ biết làm ruộng vườn trồng tỉa, không thông thạo các nghề
của người công nhân, Bác X. đă phải nhờ người anh bà con giới thiệu,
và hướng dẫn cho làm nghề đạp xích lô đưa đón khách trong Thành phố,
vừa hợp khả năng, dễ kiếm tiền lại không cần vốn nhiều.
Anh bà con Vợ của Bác X. là quân nhân, tài xế lái xe cho Tôi. Anh ấy
nhờ Tôi giúp đỡ thân nhân trong cơn hoạn nạn. Tôi đă bảo lănh cho
Bác X. thuê xe tại công ty Tôi có hùn vốn, để chạy kiếm sống hàng
ngày không phải đóng tiền thế chân. Sáng đến kư nhận xe, đạp quanh
khắp các đường trong Thành phố kiếm khách chở lấy tiền. Tối đem xe
về hoàn trả công ty, và đóng tiền thuê xe cho ngày hôm đó. Chỉ vài
tháng sau, Bác X. đă dành dụm được món tiền kha khá, đủ cho Vợ Bác
làm vốn sắm đồ nghề mở một gánh cháo ḷng bán rong trong khu gia
binh, nơi gia đ́nh Bác X. cư ngụ chung với người anh bà con.
Đến dịp Tết, gia đ́nh Bác X. được người anh bà con dẫn đến nhà Tôi
để cám ơn, chúc Tết. Bác X. khoe mới mua được một căn phố lợp tôn để
ở riêng, cuộc sống gia đ́nh ổn định thoải mái, chờ khi nào t́nh h́nh
chiến sự yên ổn sẽ trở về quê làm ăn như trước. Trong lúc vui câu
chuyện, Bác X. c̣n cho biết, bây giờ đă có vốn đóng tiền thế chân
trước khi lấy xe đi. Hàng ngày, thức dậy từ lúc tờ mờ quăng 5 giờ,
ăn uống lót ḷng xong, đi lănh xe chạy chở các khách quen mang hàng
ra chợ. Sau đó tiếp tục chạy đón khách trên các đường phố đi chợ và
về, đến khoảng hơn 11 giờ, đă kiếm được gấp đôi số tiền cần đóng để
thuê xe. Bác ghé đậu xe bên lề đường, mua một phần cơm hàng gánh
rong. Ăn xong, Bác ngồi lên xe gác chân chữ ngũ hút điếu thuốc lá,
rồi chợp mắt khoảng nửa tiếng đồng hồ sau mới thức dậy, tiếp tục đạp
xe đi kiếm khách. Trong khi nghỉ, nếu có khách đánh thức cần thuê
chở một cuốc, nhưng lại mặc cả trả giá rẻ quá, Bác nhẹ nhàng xin lỗi
là đang mệt, cần nghỉ ngơi đôi chút chưa chạy được. Ngày nào Bác ấy
cũng kiếm được, nhiều gấp 3 lần số tiền cần để thuê xe. Vào những
ngày thứ Bẩy và Chủ Nhật đông khách đi dạo phố mua bán, bao giờ cũng
kiếm được nhiều hơn ngày thường.”
Trong khi kể truyện, Tôi luôn luôn đưa mắt quan sát, thấy các Cán bộ
im lặng lắng nghe một cách thích thú say sưa, y như nghe truyện kiếm
hiệp, không có sắc thái phản ứng khó chịu nào. Tôi yên tâm, hứng thú
vừa hớt tóc vừa kể truyện liên tục, bỏ cả giờ nghỉ giải lao giữa
buổi, thanh toán cả thẩy 5 cái đầu tóc cho Cán bộ chuẩn bị ăn Tết,
không mảy may mệt mỏi.
Thật là một dịp may an toàn hiếm có, Tù Chính trị được tự do làm
công tác Địch vận. Khai sáng cho Công An Nhân dân trẻ miền Bắc biết,
về sự thật tại miền Nam Việt Nam. Những điều mà từ nhỏ đến lớn, họ
chưa bao giờ được nghe nói, cũng như không có dịp thấy tận mắt.
Hớt xong cái tóc chót, vừa đúng giờ nghỉ lao động buổi sáng, Tôi thu
vén đồ nghề ra tập họp, cùng anh em trong Đội đi tắm trước khi trở
vào khu giam.
Đón mừng Tết Nhâm Tuất 1982 tại K2 Thanh Phong, có vài sự việc đặc
biệt đáng ghi nhớ. Nội quy trại giam, cấm Tù không được tồn trữ cũng
như uống rượu. Thế mà có vài bạn Tù thuộc Đội Vôi ở chung Láng với
chúng tôi, được Quản giáo Đội “chiếu cố” mua giúp rượu để đón giao
thừa trong Láng. Đội Rau Xanh kiêm Văn Nghệ, cũng có bạn Tù cấp
Trung tá gốc Chiến tranh Chính trị, trong đêm giao thừa được Cán bộ
cho phép sang Láng giam của bọn Tù H́nh Sự, vui nhậu đón Xuân với
chúng. Những Bạn có cơ may hưởng các đặc ân này, dĩ nhiên phải là
người được Cán bộ tin tưởng, ghi nhận kết quả “học tập cải tạo tiến
bộ” hơn những người khác về mọi mặt. Việc đối xử rộng răi này chỉ
dành cho các Tù “Tự giác” và “Thi đua” mà thôi. Tù “Tự giác” là
những Tù được Ban Giám Thị Trại tin tưởng, giao các công tác đi lao
động một ḿnh ngoài Trại giam, không cần Cán bộ theo sát canh pḥng.
“Thi Đua” thuộc thành phần được lựa chọn, phụ lực cho Cán bộ Trực
Trại, ban ngày được phép ra vào tất cả các Láng giam Tù, thong thả
bất cứ giờ giấc nào, để thực hiện những lệnh riêng của Cán bộ Trực
trại và Cán bộ An ninh, trong khi những Tù khác bị cấm không được
qua lại các Láng tiếp xúc với người khác Đội.
Sau 6 cái Tết (một tại miền Nam, 5 tại miền Bắc) đau khổ tủi buồn
của kiếp sống Tù, đến cái Tết thứ 7 Nhâm Tuất “Con Chó”, h́nh như
mọi người quên hiện tại, lăng xa lăng xăng chuẩn bị đón Xuân một
cách hân hoan yêu đời. Vui Tết xong, như thường lệ, một chương tŕnh
“ra quân thi đua” mới lại được phát động rềnh rang, để mọi người
tiếp tục làm công cụ sản xuất ra thật nhiều của cải cho Xă hội Chủ
nghĩa.
Gần cuối tháng 4 năm 1982, một sự kiện lạ đă xẩy ra vào giờ xuất
Trại lao động buổi chiều. Các Đội Tù H́nh Sự được gọi xuất trại xong,
toàn thể Tù miền Nam ngồi tại chỗ nghe lệnh “biên chế “ lại các Đội.
Sau đó là lệnh “khẩn trương” chuyển đổi pḥng giam. Một vài bạn Đại
tá đang trong Đội Rau Xanh được chuyển trở về chung Đội với chúng
tôi. Ngược lại mấy Đại tá khác trong Đội chúng tôi được “biên chế”
qua Đội Rau Xanh kiêm Văn nghệ, và Đội Rau Xanh di chuyển ra khỏi
“khu cách ly” của chúng tôi.
Sáng hôm sau, toàn Khu cách ly của chúng tôi bị giữ lại trong Láng,
cho đến khi tất cả các Đội xuất Trại lao động hết, mới được mở cửa
Láng ra sân chờ Cán bộ “làm việc”. Đội trưởng phải lập danh sách anh
em trong Đội, với đầy đủ các loại tin tức lư lịch cá nhân, gia cảnh...
Loại danh sách ngang, thường phải thực hiện mỗi lần chuyển trại. Sự
việc cho phép chúng tôi mừng, tin tưởng chắc chắn là trong đêm sẽ
được rời khỏi cái nơi thâm sơn cùng cốc này.
Đúng như dự đoán, một lúc sau Cán bộ và anh em Ban Thi Đua vào đặt
một bàn “làm việc”, sát ngay bên ngoài cổng ra vào Khu Cách ly của
chúng tôi. Từng Đội một theo “biên chế” mới, lần lượt tập họp ra gặp
Cán bộ, nhận lại những qúy vật tư bị Trại thu giữ bấy lâu nay, rồi
vào chuẩn bị tư trang gọn ghẽ sẵn sàng “Hành quân” khi có lệnh.
Khoảng xế chiều, có mấy chiếc xe tải từ K1 vào. Chúng tôi được lệnh
từng Đội một, xếp toàn bộ tư trang lên đầy trên xe. Công việc hoàn
tất, xe chở đồ đi trước, người lội bộ theo sau, trực chỉ hướng K1,
nơi có cơ sở làm việc của Ban Chỉ huy Trại Thanh Phong. Suốt dọc
đường đi dài khoảng chục cây số, ai nấy hân hoan thoải mái, vừa đi
vừa tṛ chuyện nổ như bắp rang. Vừa sẩm tối, chúng tôi tới K1, được
hướng dẫn vào tập trung riêng từng Đội, quanh sân rộng bên Hội
trường lớn, gần bên khu cơ sở của Ban Chỉ huy Trại. Nhà Bếp và Khu
giam anh em Biệt Kích thuộc K1, nằm tập trung phía bên kia con đường
xe hơi chạy băng qua Trại.
Đêm xuống, một đống lửa lớn được đốt lên, bập bùng cháy ở giữa sân.
Anh em Biệt Kích khiêng phần ăn tối đến phát cho chúng tôi. Khuya
thêm chút nữa, lại đến phát phần ăn cho cả ngày hôm sau đi đường.
Nhân dịp này anh em tiết lộ cho biết : “-Đêm nay sẽ có xe đến chở ra
Ga Thanh Hoá, để lên tầu hỏa vào Nam.”
Đây là đêm sau cùng nghiệt ngă, tại Thanh Phong không bao giờ quên
được. Không có pḥng để giam, chúng tôi phải nằm trên đất ngoài trời
qua đêm, không mùng mền. Trại đốt một đống lửa lớn ở giữa sân, để
vừa soi sáng vừa có khói hun xua muỗi. Mọi đồ đạc đă gói ghém gọn
gàng không được mở ra. Quần áo giầy dép phải luôn luôn mặc đầy đủ
trên người, sẵn sàng “hành quân”. Anh em đành chùm áo mưa phủ kín
đầu và tay cho khỏi bị muỗi đốt, tựa lưng vào nhau hoặc vào đống tư
trang của ḿnh mà ngủ.
ĐÊM GIĂ BIỆT THANH PHONG.
Bâng khuâng nh́n lửa bập bùng,
Đắng cay gửi lại núi rừng Trường Sơn.
Chia tay khe thẳm, thác nguồn,
Xa ĺa muỗi vắt, chim muông, khỉ già.
Quên đi ḷ gạch, đồi trà,
Mặc bầy ve núi reo ca nắng hè.
Nhớ chi nấm mối, măng tre,
Tiếc ǵ mộc nhĩ nấu chè thả sương.
Kệ cây sung đứng ven đường,
Gió rung trái chín văi vương kiến ḅ.
Suối trong nương náu cá, cua,
Mặc t́nh sản xuất cho c̣ kiếm ăn.
Chẳng c̣n đụng rắn, gặp trăn,
Sói lang, chồn cú lăng xăng cạnh rào.
Từ mai giă biệt vùng cao,
Đồng bằng rộng mở đón chào cố nhân !
ĐÔI LỜI NHẮN NHỦ BẠN.
Thăm thẳm rừng khuya lửa bập bùng,
Màn Trời chiếu Đất, bạn đâu lưng.
Th́ thầm trao đổi niềm tâm sự,
Thoát nạn, đừng quên trách nhiệm chung.
Thanh Phong, Như Xuân, Thanh Hoá, Trung Việt.
Cuối tháng 4 năm 1982.
(Chiều ngày 24-4-1982 rời K2 di chuyển sang K1, ngủ đêm
tại đây để chờ xe di chuyển ra thị xă Thanh Hoá.
Hừng sáng ngày 25-4-1982 xe chở ra ga Thanh Hóa đợi đến
tối lên tầu hoả đi về miền Nam.
Tới trại Hàm Tân (Z30C) Thuận Hải vào khoảng giữa đêm 26
rạng ngày 27-4-1982.)
HOME
(C̣n tiếp..) |