| Chương 20
ỐC ĐẢO TÂN LẬP (VĨNH PHÚ) ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN
Kẻng báo thức sáng, Cán bộ Trực Trại dẫn “Thi Đua” đi mở cửa các nhà
giam. Họ đi ṿng hết nhà này đến nhà kia, măi 30 phút sau mới đến
lượt Đội Đại tá chúng tôi được mở cửa cho ra sau cùng. Anh Trực Nhà
và 2 anh trực phụ (thay phiên hàng ngày), tất tưởi dắt nhau chạy đi
lănh phần ăn sáng và nước uống chín về chia cho anh em.
Chia vội vă vừa xong, kẻng tập họp đi lao động cũng bắt đầu gióng
lên. Ai nấy cầm phần ăn của ḿnh, vừa đi ra sân tập họp vừa ăn.
Người nào ăn chưa kịp hết, phải bỏ vào túi, chờ lúc ra khỏi cổng
trại vừa đi vừa ăn tiếp. Nếu không ăn như vậy, ra tới hiện trường
phải lao động ngay, đói không làm việc được “năng nổ”, tối về sẽ bị
“phê b́nh xây dựng”. Nếu bị anh em góp ư kiến “xây dựng” hoài, hậu
quả tai hại sẽ đến với bản thân.
Phần “sắn duôi” ăn sáng chẳng được bao nhiêu, ém gọn lại được vừa
bằng một nắm tay. Chỉ đôi người có dạ dầy yếu, phải nhai chậm răi
như Tôi mới gặp trở ngại. C̣n nhiều bạn khác bụng dạ khoẻ, ăn uống
nhậm lẹ th́ chả thấm tháp ǵ.
Sáng nào cũng vậy, trong thời gian ngồi chờ Cán bộ Trực Trại, đến
đọc lệnh gọi các Đội lần lượt xuất trại, mấy người “Thi Đua” đi ṿng
“kiểm tra” xem áo quần của ai chưa đóng dấu sơn “ám số Trại”. Họ đem
con dấu bằng gỗ to dài hơn bàn tay, tẩm sơn đen pha lẫn dầu, đến
đóng lên lưng áo và 2 bên ống quần. Người nào quầo áo đă đóng dấu,
nhưng lâu ngày sơn bị phai bạc mờ đi, th́ đóng chồng lên cho được rơ
ràng. Đây là biện pháp phân biệt Tù với người thường ngoài trại, và
dễ lùng bắt nếu Tù trốn trại.
Đội chúng tôi và nhóm anh em mới tới, xuất trại lao động lần đầu
tiên, được “Thi Đua” “quan tâm” “chiếu cố” trước nhất. Họ đến đóng
dấu sơn “ám số trại” lên quần áo chúng tôi, ngay khi chúng tôi vừa
tới ngồi tại sân tập họp.
Sau này Trại phát cho mọi người, loại quần áo Tù bằng vải thô Nam
Định. Cả áo lẫn quần đều bị may ghép lẫn lộn, bằng những mảnh vải
nhuộm 2 mầu khác nhau. Nếu nửa thân và tay áo bên Phải mầu xanh nước
biển, th́ nửa thân và tay áo bên Trái mầu trắng. Quần cũng một ống
trắng, một ống xanh. Thật rơ ràng lồ lộ chẳng lẩn đi đâu lọt, thế mà
cả quần lẫn áo vẫn phải đóng dấu “ám số trại”. Cứ mỗi 6 tháng được
lănh 1 bộ. Nếu rách sớm hơn thời gian quy định, phải vá víu mà mặc.
Có thể dùng quần áo riêng của ḿnh, nhưng phải đóng dấu sơn “ám số
trại” lên trên.
Đội chúng tôi bắt đầu tham gia lao động tại K1, Trại Tân lập, bằng
công tác đi chặt cây xim và cây muông, đem về làm củi đun cho Nhà
Bếp. Xim được chặt trên những ngọn đồi cách trại 3 cây số, bó gánh
về chất đống dài sát tường phiá ngoài cổng trại giam. Nhà Bếp Tù ra
lấy vào dùng, đun nấu thực phẩm và nước uống chín phát cho Tù. Nhà
bếp của Cán bộ canh Tù, cũng lấy củi ở đây về dùng.
Trước khi lên đường, anh em phải ghé vào đống củi cao như núi bên
cạnh tường ngoài cổng trại, lấy mỗi người 1 cây dài 2 mét, đường
kính khoảng 10 phân, đem theo làm đ̣n gánh củi mang về.
Củi xim thân cây nhỏ, cỡ lớn nhất chỉ bằng ngón chân cái, xum xuê
cành con và nhiều lá, cao chừng 1 mét rưỡi. Chặt củi chẳng khó khăn
ǵ. Nhưng muốn có dây để cột củi thành từng bó, phải cắt cỏ tranh
dài, bện, nối lại với nhau. Không biết cách cột cho chắc, khi xốc
đ̣n vào đưa lên vai bó củi sẽ xổ tung ra, hoặc rơi văi từ từ dọc
đường rất phiền phức. Nhờ hồi c̣n nhỏ Tôi tham gia Đoàn Hướng Đạo
Sinh, đă có dịp học cách bện dây và cột bó củi, nên mọi việc hoàn
tất suông sẻ. Làm phần ḿnh xong, Tôi lén đến tiếp tay các bạn, đang
lúng túng v́ chưa làm bao giờ. Anh Trịnh Đ́nh Đăng (Tôi quen từ hồi
ở Trại Suối Máu, Tam Hiệp, Biên Hoà) cũng rất thạo việc này, cũng đă
giúp đỡ nhiều anh em khác hết ḿnh. Chúng tôi phải làm lén, v́ nếu
Cán bộ thấy được sẽ bị “kỷ luật”.
Gom xếp một gánh củi nặng độ 2 chục kí lô, với 2 bó nhỏ, vừa với sự
chịu đựng của bắp thịt vai ḿnh, th́ coi không được. Cán bộ nh́n
thấy chỉ trích là : “Bó củi ǵ mà chỉ bằng nắm tay, trẻ con nó c̣n
chê nhẹ”. Nếu gom bó đủ lớn coi cho vừa mắt, dọc đường về sẽ bị
chiếc đ̣n gánh, và sức nặng của 2 bó củi, hiệp nhau hành hạ bắp thịt
vai, cổ, cột xương sống lưng của ḿnh đau đớn chịu không nổi.
Không biết gánh, lúc nào cũng phải gồng vai, gân cổ lên chịu sức
nặng, cắn răng bước đi dồn dập như chạy. Mỗi bước chân đạp xuống
đường là một nhát dao cứa trên vai, đau buốt vào óc, dồn xương sống,
mỏi hông ngang thắt lưng. Ráng hết sức, cũng chỉ đi được khoảng trăm
mét, lại phải quăng gánh củi xuống đất để nghỉ. Sau mỗi lần nghỉ,
lúc đưa gánh củi lên vai đi tiếp cho kịp bạn bè, là một lần khổ nạn.
Cảm thấy h́nh như gánh củi nặng gấp đôi trước, bắp vai nóng rát đau
chẳng khác nào bị vọp bẻ (chuột rút), chịu hết muốn nổi. Bị bắt buộc
phải làm măi, rút kinh nghiệm lần rồi cũng “giác ngộ” biết được, khi
gánh phải hơi cúi đầu kḥm lưng về phiá trước, để cho đ̣n gánh đè
tréo từ giữa bả vai bên này, qua u thịt sau cổ, sang gần bả vai bên
kia, bắp thịt vai sẽ không bị đau. Bước đi phải nhịp nhàng, theo đà
nhún nhẩy lên xuống của 2 bó củi, ở 2 đầu đ̣n gánh.
Nhiều bạn cả đời chưa có dịp phải gồng gánh, thấy những người buôn
thúng bán bưng làm hàng ngày, cứ tưởng dễ dàng như ḿnh ngồi lái xe
hơi. Nay phải làm mới thấm thiá, và thán phục cái tài xốc vác chịu
đựng của những người “lao động chân tay” trần ai cực nhọc đến mức
nào.
Đi cắt củi được hơn một tuần lễ, Trại phát động Kế hoạch “Thi đua
làm Cách mạng xanh”. “Mục đích yêu cầu” là làm cho tất cả những
khoảng đồi núi trong phạm vi đất dành cho Trại, đang trơ trụi không
cây cối, phải được phủ kín bằng một mầu xanh của các ruộng sắn (khoai
ḿ gồm 2 loại khác nhau : 1.-công nghiệp, 2.-để ăn), và miá re (thân
nhỏ, vỏ cứng, nhưng rất ngọt, ép lấy nước cô thành “mật đường” để
cất rượu trắng). Đây là “kế hoạch làm kinh tế” để Trại tự túc, có
tiền nuôi Tù và Cán bộ canh Tù, theo lệnh Nhà nước ban hành từ hồi
đầu năm 1977.
Đội chúng tôi phải đi đào hố trồng sắn, ngay trên những ngọn đồi đă
chặt củi xim. Mỗi buổi lao động, sáng cũng như chiều, mỗi người phải
đào 15 hố, vuông cạnh 70 phân, sâu 80 phân. Các hố phải đào cách
nhau một mét. Trên mặt đồi, cỏ dại cỏ tranh dầy đặc cao cả thước,
phải phát sạch trước khi đào hố. Đất đỉnh đồi cứng chắc nịch, lẫn đá
lổn nhổn. Không có xẻng, mỗi người phải múc đất từ dưới ḷng hố lên
bằng cuốc của ḿnh. Vất vả vô cùng cho những người lănh phải cây
cuốc cũ, lưỡi bị ṃn nhỏ, cùn hoặc xứt mẻ. Chỉ có 3 anh bạn Tù cấp
úy tăng cường nhân số Đội, và vài người khác khoẻ như anh Đội trưởng
Lê Đ́nh Luân, Mục sư Dương Kỳ, Tôn Thất Hùng... là đạt chỉ tiêu quy
định. Buổi lao động nào họ cũng dư ít phút ngồi nghỉ ngơi. C̣n đa số
anh em, chẳng bao giờ hoàn tất đủ “chỉ tiêu” trước lúc măn giờ lao
động.
Mỗi người tham gia lao động, được Quản giáo Đội “ghi điểm tính công”
hàng ngày. Ai đau ốm nghỉ bệnh nhiều, không tham gia đủ số ngày công,
hay lao động hàng ngày không “đạt chỉ tiêu”, sẽ bị phạt giảm mức ăn
quy định hàng tháng xuống. Những người lao động “năng nổ vượt chỉ
tiêu”, hàng đêm được anh em trong Đội “b́nh bầu” là “gương mẫu”
nhiều lần, sẽ được Quản giáo quyết định thưởng tăng phần ăn. Người
được thưởng sẽ được ăn tăng thêm 2 kí lô một tháng. Người bị phạt,
phải giảm mức ăn xuống c̣n 11 kí lô, tức là bớt đi 1 kí lô. Mức ăn
quy định cho mỗi người b́nh thường, hàng tháng là 12 kí lô ngũ cốc (gạo,
hoặc các loại khác như : bột ḿ, hột bo bo, sắn, bắp, khoai).
Thời gian chúng tôi tới trại này, phần gạo được thay thế bằng “sắn
duôi”, theo tiêu chuẩn một đổi một, tức là 1 kí lô “sắn duôi” khô,
tính bằng trị giá 1 kí lô gạo. “Sắn duôi” là sắn tươi bào thành sợi
nhỏ như sợi bánh phở, sấy hoặc phơi khô cho bốc hết hơi nước. Tôi
không biết tại sao gọi là “sắn duôi”, nghe anh em Tù cũ tại đây gọi
vậy, th́ nhận biết như vậy. Để làm cho “sắn duôi” chín, người ta để
vào các vỉ tre đan, hấp từng trồng nhiều vỉ một lượt, trên những vạc
nước đun sôi. Lúc c̣n sống “sắn duôi” mầu trắng đục rời rạc như gạo.
Khi chín, trở thành trong và dính quện với nhau như cơm nếp. Những
sợi sắn không chín, vẫn giữ nguyên mầu trắng đục. Không biết tại sao,
lúc nào “sắn duôi” hấp cũng bị nửa chín nửa sống.
Phần “sắn duôi” ăn sáng, được nấu cùng lúc với phần ăn chiều, đong
riêng ra để qua đêm đến sáng mới phát. Gặp mùa lạnh th́ không sao.
Đến mùa nắng thời tiết oi nồng qua đêm, “sắn duôi” bị thiu nhơn nhớt
và có mùi chua, ăn vào nhiều người yếu dạ bị đau bụng tiêu chẩy. Tù
vẫn phải lănh về ăn, v́ chẳng có ǵ khác để nhồi vào bao tử, cho có
sức chịu đựng mà lao động.
Việc hớt tóc cho Tù ở K1 trại Tân Lập này, khác hẳn với bên các Trại
do Quân đội quản lư. Ở đây, Trại mua 1 bộ đồ hớt tóc, gồm Tông-đơ,
kéo và lược, trao cho Ban “Thi Đua” cất giữ. Hàng ngày, theo lịch
tŕnh quy định luân phiên cho các Đội mượn, đem ra “hiện trường lao
động” hớt tóc cho nhau. Hồi c̣n ở K2 - Liên trại 1 – Việt Cường Yên
Bái, sau khi bị sốt vàng da hành không chết, Tôi mất sức nhiều không
ra ngoài lao động nặng được. Quản giáo Đội đă tŕnh Phân trại trưởng,
cho Tôi ở trong trại phụ trách pḥng hớt tóc một thời gian. Anh em
trong cùng Đội hiện nay, ai cũng biết. Do đó, ngày nào đến phiên Đội
được xử dụng bộ đồ hớt tóc, anh Đội trưởng cũng tŕnh Quản giáo Đội
cho Tôi miễn lao động, để hớt tóc cho anh em.
Quản giáo bằng ḷng, nhưng buộc anh em trong Đội, phải gồng ḿnh làm
bù đắp phần của Tôi, nhằm “bảo đảm chỉ tiêu chung” của Đội phải
“đạt” trong ngày. Giống hệt trường hợp anh phụ trách nấu nước chín
tại “hiện trường lao động”, anh em cũng phải làm nhiều hơn để bao
phần “chỉ tiêu” hàng ngày của anh ấy.
Việc hớt tóc giữa trời, có nhiều kỷ niệm khó quên, cho cả thợ hớt và
người được hớt. Không có ghế cho khách ngồi, nên cả thợ lẫn khách
đều phải đứng. Hai người cao xấp xỉ ngang nhau, do đó khách buộc
phải đứng dưới ruộng hoặc rănh bên luống, chịu đựng ướt chân và quần,
nhường cho thợ đứng trên bờ đất cao, không phải vói tay nghển cổ mới
hớt được dễ dàng.
Thời tiết dù mưa hay nắng, cả 2 người cùng phải đứng giữa đồng mà
hớt cho nhau, không có một tán cây bóng mát nào để núp. Lúc nắng c̣n
đỡ, gặp trời mưa th́ thật là một cực h́nh cho cả 2 người, mặc dù ai
cũng có khoác áo mưa. Khách phải để đầu trần, nước mưa xối xả trôi
qua cổ áo vào trong người, làm ướt hết cả áo trong lẫn áo ngoài lạnh
cóng. Thợ luôn luôn phải giơ 2 tay cao ngang vai, nước mưa cũng tự
do theo 2 cổ tay áo trôi vào nách, làm ướt mọi lớp áo và ḿnh, lạnh
chẳng thua ǵ khách.
Chúng tôi đến đây được hơn một tháng, bắt đầu có dịch kiết lỵ lan
tràn trong trại. Các khu vệ sinh công cộng dùng thùng đựng phân lộ
thiên, ruồi nhặng sinh sôi nẩy nở nhanh chóng, bay đi khắp trại,
nhất là khu nhà bếp. Có thể trăm phần trăm nhân số Tù mắc bệnh.
Những người khoẻ sức đề kháng trong cơ thể c̣n mạnh, chỉ bị sơ sơ
vài 3 ngày rồi hết. Những người suy nhược nhiều sức đề kháng yếu,
bệnh ngày một tăng, từ đi đại tiện có phân, lần lần chỉ c̣n nước
nhờn và máu. Ngày đêm đi liên tục cả 2, 3, 4 chục lần, mệt mỏi hốc
hác tiều tụy mà vẫn phải đi lao động như thường. Chỉ những ai ngày
đêm đi từ trên năm mươi lần ra toàn máu, và thêm sốt nóng lết đi
không nổi nữa, Đội trưởng mới ghi danh cho đi khám bệnh.
Khi nộp sổ khám bệnh, Tù “Thi đua” làm Y tá tại Bệnh xá buộc
phải ra góc sân, rặn ra mũi và máu c̣n nóng hổi tŕnh cho Cán bộ Y
tế thấy rơ ràng, mới được cho vào Bệnh xá nằm chữa trị. Rất nhiều
anh em khai bệnh, nhưng không được Cán bộ Y tế cho vào điều trị tại
Bệnh Xá, chỉ được cấp thuốc uống tại chỗ, rồi theo Đội tiếp tục đi
lao động, mặc dù họ rất mệt mỏi đuối sức.
Những người bị kiết lỵ nặng, nhưng không bị phù thũng th́ có hy vọng
sống. C̣n những ai vừa kiết lỵ vừa phù thũng, th́ chỉ ít ngày sau là
đi về với Tổ tiên. Cũng có người chỉ bị phù thũng v́ thiếu dinh
dưỡng chớ không bị kiết lỵ. Tôi đă bị ở trong trường hợp kiết lỵ và
sốt nặng, đến nỗi bị ngất xỉu bên thùng phân trong pḥng giam ban
đêm, phải kêu cấp cứu mới được đưa vào Bệnh xá nằm điều trị.
Bệnh xá có 2 pḥng, mỗi pḥng rộng khoảng 16 mét vuông. Mỗi pḥng có
5 giường nhỏ loại 1 người nằm. Tôi và những người kiết lỵ nằm trong
pḥng “bệnh truyền nhiễm”. Lúc cấp cứu đưa vào, Tôi phải nằm tạm
dưới đất, v́ tất cả 5 giường đều đă có 2 người nằm chung. Gần sáng
có người chết, sau khi bệnh nhân khiêng anh ấy ra túp lều chứa xác
chết, nơi giữa băi đất trống phiá sau Bệnh xá, Tôi được lên giường
nằm thế vào đó.
Thuốc chữa trị hàng ngày, chỉ là 1 bát nước đủ loại lá thuốc Nam do
nhân viên bệnh xá lên rừng kiếm về, băm nhỏ, phơi khô, bỏ vào vạc
ninh nhừ để qua đêm, đến sáng phát cho bệnh nhân. Đây là loại thuốc
trị Bá Bệnh. Ai đau ốm ra sao không cần biết, hễ cứ đến xin khám
bệnh là được cho uống 1 bát. Nếu ai có sốt th́ được thêm dăm chục
viên Xuyên Tâm Liên, mầu vàng xậm như nghệ trộn với ǵ không biết,
vê viên tṛn nhỏ bằng hột đậu xanh, mùi vị hắc hắc the the lưỡi.
Ban ngày, mưa cũng như nắng, ở góc sân Bệnh xá phiá sau gần bếp có
một thùng gỗ, để cho bệnh nhân ra xếp hàng thay phiên nhau ngồi rặn
è è, ôm bụng rên đau quằn quại. C̣n ban đêm, cửa các pḥng bệnh bị
khoá trái bên ngoài y như các láng giam, nên có một thùng gỗ để nơi
góc pḥng. Lúc nào cũng có 4, 5 người ngồi chồm hổm ôm bụng, chụm
đít quanh thùng nhăn nhó rặn, cổ bạnh ra mặt mũi đỏ gay.
Tại Bệnh xá, có anh Tù H́nh Sự được Cán bộ Y tế dùng làm “Thi Đua”,
cho ở thường xuyên ngày đêm trong Bệnh xá kiểm soát bệnh nhân thay
Cán bộ. Nếu bệnh nhân nào không gọi anh ta là Bác sĩ, hoặc không
khéo lời tâng bốc anh ta, th́ dù bệnh t́nh chưa thuyên giảm, cũng sẽ
bị đề nghị cho xuất viện ngay để nhường chỗ cho người khác. Ai biết
điều và nịnh bợ anh ấy, th́ dù đă hết bệnh rồi cũng vẫn được ở nghỉ
thêm vài 3 ngày mới phải rời Bệnh Xá.
Theo tin tức thâu lượm được qua những anh em nằm tại Bệnh xá trước
Tôi, và phối kiểm qua những lời ba hoa của anh ta trong thời gian
Tôi nằm tại Bệnh xá, biết được anh Tù H́nh Sự này bị án tù trung
thân, v́ tội “làm giấy bạc Cụ Hồ giả”. Hồi c̣n ở ngoài xă hội, anh
ta làm nghề Chăn Nuôi, chuyên trách về thiến Heo, thiến Gà trống,
nên anh ta tự coi ḿnh là Bác sĩ Thú Y.
Có một chuyện ly kỳ liên quan đến anh “Thi Đua” này, làm anh em Đội
chúng tôi hoảng sợ không bao giờ quên được. Số là, Đại tá Tô văn Vân
phụ trách nấu nước ngoài “hiện trường lao động” của Đội chúng tôi,
một đêm kia tự nhiên bị đau bụng giữ dội phiá bên Phải, nghi là sưng
ruột dư, phải kêu cấp cứu và được đưa vào Bệnh xá.
Sáng hôm sau, là ngày Chủ nhật nghỉ lao động, Đội chúng tôi bị tập
họp lên Hội trường, để nghe anh “Thi Đua” này cùng Cán bộ Y tế, nói
cho nghe về t́nh trạng nguy kịch của anh Vân, cần phải giải phẫu gấp
nếu không th́ chết. Họ đưa ra “phương án hành động khẩn trương, thực
hiện ca mổ ngay tại Phân trại”, v́ thời gian chuyển qua K5 (Trại
trung ương) làm thủ tục đưa ra Tỉnh e không c̣n kịp. Họ tỏ ra rất tự
tin, nhờø có rất nhiều kinh nghiệm về mổ sẻ súc vật (cũng chẳng khác
ǵ người ta), nên rất bảo đảm không có ǵ phải lo ngại.
Họ yêu cầu chúng tôi góp ư kiến quyết định, đồng thời hỏi ai có lưỡi
dao bào râu c̣n mới, th́ cung cấp cho họ xử dụng làm dao mổ. Chúng
tôi ngỡ ngàng, dứt khoát xin miễn góp ư kiến, v́ mạng sống của anh
Vân không thuộc phần trách nhiệm của chúng tôi quyết định. Đây là
việc thuộc quyền quyết định của Nhà nước và thân nhân của anh ấy.
Hơn nữa, trong chúng tôi không ai có lưỡi dao bào râu c̣n mới để
cung cấp.
Buổi trưa ngày hôm sau là Thứ Hai, khi anh em đi lao động về, anh
Trực Buồng cho biết, hồi sáng lúc đi ngang qua khu Bệnh Xá xuống bếp
lănh thực phẩm cho bữa trưa, đă gặp anh Vân đứng bên bờ rào Bệnh xá.
Anh Vân cho biết đă hết đau, nhờ hồi hôm mửa ra mấy nùi giun đũa,
trước khi mửa có con đă chui ra từ lỗ mũi. Thật khủng khiếp !!! Sau
khi hết đau bụng, không biết anh Vân làm cách nào, được “biên chế”
vào Bệnh xá phụ giúp anh “Thi đua” nấu thuốc, cháo, và nước uống
chín cho Tù nằm điều trị tại đây.
Trong thời gian nằm tại Bệnh xá, Tôi c̣n phải chứng kiến một anh
kiết lỵ nằm chung giường, chết rất thương tâm. Anh ấy được đưa vào
nằm cạnh Tôi sau giờ khám bệnh buổi chiều, đến nửa đêm th́ chết.
Ngay sau khi được vào Bệnh xá, anh ấy mở vali quần áo ra kiểm điểm
lại mọi thứ. Cầm những lá thư và ảnh của Vợ Con ra khoe Tôi, và chăm
chú đọc lại rất vui vẻ, yêu đời.
Tôi thấy anh ấy c̣n giữ 2 hộp sữa ḅ đặc hiệu con chim, và một hộp
bánh quy. Tôi nói chúng ta bị bệnh là do thiếu dinh dưỡng mà ra, sao
anh không dùng sữa và bánh mà “bồi dưỡng” cho nó khoẻ, để dành làm
ǵ. Lỡ chết v́ đói kiệt sức cơ thể không chống nổi bệnh hoạn, th́
chẳng phụ ḷng Vợ Con lắm sao? Anh ấy cười trả lời chưa cần, Tôi c̣n
đủ sức chịu đựng mà!
Đến khuya anh ấy lên cơn sốt nóng như lửa, rồi mê man. Tôi phải kêu
cứu và xuống đất nằm, để nhường nguyên chiếc giường cho anh ấy. Anh
“Thi Đua” nằm ở pḥng khám bệnh kế bên, nói vọng sang trả lời để
sáng sẽ tính. Đến gần sáng, anh Tù bệnh lịm dần, không nghe tiếng
rên rỉ nữa. Anh ấy đă ra đi vĩnh viễn. Anh ấy là một Sĩ quan cấp Úy
thuộc Công binh, Tôi không nhớ tên và đơn vị.
Phải đợi đến kẻng báo thức sáng, Cán bộ Trực Trại vào mở khoá cửa
pḥng giam bệnh, và Cán bộ Y tế đến lập biên bản xong, mới ra lệnh
cho chúng tôi, để anh chết nằm vào chiếc chăn dạ của anh ấy, khiêng
ra bỏ tại túp lều tranh chứa xác giữa băi cỏ hoang, cách Bệnh xá
khoảng một trăm mét. Người ta đem anh ấy đi chôn lúc nào không ai
thấy, chắc là ban đêm.
Tôi nằm Bệnh xá được một tuần lễ th́ bệnh kiết lỵ thuyên giảm. Không
biết nhờ 2 bát nước thuốc Nam và 60 viên Xuyên Tâm Liên mỗi ngày,
hay nhờ 2 bát cháo gạo lỏng nêm muối, Bệnh xá cho Tù bệnh ăn thay v́
“sắn duôi”, hay nhờ được nghỉ không phải lao động?
Theo quy định của trại, Tù bệnh nằm điều trị tại Bệnh xá, được phát
mỗi bữa 3 muổng đường để ăn với cháo. Nhưng anh “Thi Đua” chặn lấy
dùng riêng, và nói rằng kiết lỵ mà ăn đường bệnh sẽ tăng chữa không
được. Chẳng ai dám tố cáo, v́ sợ bị anh “Thi Đua” hại ngầm th́ thiệt
thân. Tôi biết được là nhờ anh Tô văn Vân, nói nhỏ lúc anh em gặp
nhau tại bếp của Bệnh xá. (Anh Vân và Tôi biết nhau từ năm 1967, khi
anh ấy c̣n là Thiếu tá được đưa về làm Chánh văn pḥng cho Đại tá
Hoàng Gia Cầu Tổng cục Trưởng Địa phương quân và Nghĩa quân tại Bộ
Tổng Tham mưu, thay thế Đại tá Trương văn Xương thuyên chuyển đi
Vùng 4 Chiến thuật ở Cần Thơ. Lúc đó Tôi đang giữ chức vụ Tổng cục
Phó.)
Những người nằm điều trị kiết lỵ trước Tôi, khi nào họ hết hẳn không
đi cầu ra máu nữa th́ mới phải ra viện. Nhưng phần Tôi, không biết
v́ sao bệnh chỉ mới thuyên giảm chưa dứt, ngày đêm vẫn c̣n đại tiện
ra mũi và máu khoảng 6, 7 lần, gầy ốm hốc hác, mệt đi bộ xa chưa nổi.
Thế mà Cán bộ Y tế nói là Cán bộ Quản giáo Đội đến yêu cầu, phải cho
Tôi ra khỏi Bệnh xá theo Đội đi lao động để bảo đảm ngày công quy
định.
Tôi ra theo Đội đi phát cỏ và vun gốc sắn. Trong thời gian này, các
anh Phạm Tài Điệt, Trần văn Thăng (An ninh quân đội), Nguyễn văn
Phúc (Chính huấn Tổng cục Chiến tranh Chính trị) v́ lao động lơ là
kém năng xuất, và Tôi (Phụ tá Tổng cục trưởng Chiến tranh Chính trị,
Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến) c̣n thêm cái tội nằm Bệnh xá lâu
không bảo đảm đủ ngày công, nên bị phạt giảm mức ăn hàng tháng xuống
c̣n 11 kí lô. Hai người khác trong Đội “lao động năng nổ”, được
thưởng tăng mức ăn lên 13 kí lô là Mục Sư Dương Kỳ và anh Tôn Thất
Hùng.
Bốn người bị phạt giảm mức ăn, để tăng mức ăn cho 2 người lao động
giỏi được thưởng, thật là bất ngờ làm mọi người xửng sốt. Người bị
phạt buồn đă đành, người được thưởng cũng xốn xang áy náy.
Thoạt đầu các vị này chỉ muốn cố gắng “năng nổ lao động” để được coi
là “ cải tạo tiến bộ” sớm được tha. Đâu ngờ Cách Mạng lại thâm độc
áp dụng luật bù trừ, lấy của người bị phạt thưởng cho người “lao
động năng nổ”, để gây thù hận chia rẽ giữa anh em Tù với nhau.
Việc xẩy ra rồi, 2 người được thưởng mới tỏ ra hối hận, v́ biết đă
bị lừa mắc bẫy của “Vẹm” (chữ lóng dân chúng dùng để ám chỉ Việt
Minh từ hồi 1946). Anh Tôn Thất Hùng thỉnh thoảng đưa nguyên phần ăn
một bữa của anh ấy, tăng cường cho chúng tôi để tỏ ḷng hối hận. C̣n
Mục sư Kỳ th́ không dám. Ông nói qua trung gian cho anh em biết, sợ
làm như anh Hùng, Cán bộ bắt được sẽ buộc tội vi phạm Nội quy, Điều
lệ của Trại, nguy hiểm cho cả người nhận lẫn người cho.
Mới tới K1 Tân Lập được khoảng 2 tháng, ai nấy đă hốc hác, nhất là
sau dịch kiết lỵ phù thủng. Mọi người suy xụp rơ ràng, chỉ c̣n da
bọc xương, bơ phờ. Ai cũng sụt đi phân nửa cân nặng của ḿnh, trông
chẳng khác nào những h́nh “nộm bù nh́n” trong những bộ quần áo tế
thần lụng thụng. Ngày đi tŕnh diện tập trung Tôi cân nặng 67 Kí lô,
đến lúc này chỉ c̣n được 30 kí. Chiếc thắt lưng da mang theo, bây
giờ muốn dùng để giữ quần cho khỏi bị tụt xuống, phải đục thêm lỗ
cách lỗ cũ khoảng 20 phân. Biết chắc là ḿnh chỉ c̣n nặng đúng 30 kí
lô, v́ thời gian Đội chúng tôi phụ trách phơi đong cân thóc cất vào
kho, anh em đă lén đứng lên chiếc cân bàn để cân, trước khi cân các
bao thóc.
Lúc nào cũng đói, lại phải lao động vất vả với “chỉ tiêu” cao, thiếu
dinh dưỡng trầm trọng, nên trong khi lao động ở ngoài đồng, hễ thấy
sinh vật nào nhúc nhích ăn được là vồ ngay. Ngoé, nhái, ễnh ương,
chằng hiêu, cóc, thằn lằn, rắn, cào cào, châu chấu, rế cơm, rế mèn,
chuột nhắt, ǵ cũng chộp hết, ngoại trừ điả và giun. Mặc dù biết làm
như vậy là vi phạm Điều lệ, Nội quy Trại giam, mọi người đă phải học
thuộc ḷng, nhưng vẫn làm. Thà mưu sinh để sống c̣n cho tới ngày
được cứu thoát, c̣n hơn tôn trọng Nội quy để chết, trước khi thấy
“ánh sáng ló dạng nơi cuối đường hầm”.
Thoạt đầu, bắt được nhái ngoé c̣n bỏ túi chờ tới giờ giải lao, ṃ
đến chỗ nấu nước giả bộ hút thuốc lào, để bỏ vào đống than nướng
chín rồi mới ăn. Nhưng về sau, anh nấu nước sợ vạ lây không cho,
đành lột da ăn sống tại chỗ, hoặc nhét vào túi đem về ngâm nước muối
trại phát 3 thià canh mỗi bữa, ăn với “sắn duôi”. Ăn vào thấy cũng
rất ngon chẳng khác ǵ thịt gà cá gỏi.
Có lẽ trong số anh em mưu sinh linh tinh bất hợp pháp này, Tôi là
người “năng nổ” nhất. Nên thỉnh thoảng được anh Tổ trưởng (trước 30
tháng 4 năm 1975 làm Tỉnh trưởng B́nh Dương) thương, lo lắng cho sức
khoẻ của Tôi, chiếu cố xây dựng hoài trong các giờ họp “kiểm thảo,
phê và tự phê” trong Đội ban đêm, luôn luôn có sự ŕnh nghe của “Thi
Đua” và Quản giáo Đội từ phiá ngoài cửa sổ pḥng giam.
Anh ấy cũng thường xuyên bị anh em bắt gặp, lén mưu sinh như Tôi và
nhiều bạn khác, nhưng chẳng ai góp ư kiến “xây dựng” anh ấy bao giờ.
Có lẽ anh ấy làm như vậy, v́ phải thi hành trọn vẹn trách nhiệm do
Quản giáo giao phó cho các Tổ trưởng và Đội trưởng, là phải theo sát
anh em trong Đội để báo cáo th́ mới được coi là “cải tạo tiến bộ”.
Tuy nhiên, anh ấy cũng rất khôn. Mỗi lần “xây dựng” Tôi mưu sinh
linh tinh, anh ấy “tự phê” trước, nhận rằng bản thân cũng có vi phạm,
nhưng hứa sẽ “khắc phục” không tái phạm. Anh ấy cũng phân bua, sở dĩ
phải “xây dựng” anh em v́ thương, muốn anh em giữ được sức khoẻ tốt,
“cải tạo cho mau tiến bộ” để về với Vợ Con.
Qua đầu năm 1979, chúng tôi bị chuyển về K5 (nơi có Ban Chỉ huy
Trung ương Trại Tân Lập). Vài tháng sau th́ anh ấy bị cảm sốt nặng,
được vào Bệnh xá điều trị không hết, lại biến chứng ho sưng phổi,
rồi chết v́ ngộp không thở được. Người ta phải đâm kim vào ngực rút
nước ở buồng phổi ra để cứu nhưng vô hiệu.
Vấn đề vệ sinh cá nhân ở K1, mỗi tuần lễ Tù chỉ được đưa ra sông,
cách trại khoảng 2 cây số để tắm rửa giặt giũ quần áo có một lần,
vào sau giờ lao động chiều thứ bẩy. Ngày thường, sau buổi lao động
chiều, Tù được đưa tới hồ nước bên Đội Gạch cách trại 2 cây số để
tắm rửa. Đây là hầm lấy đất làm gạch, lâu ngày sâu dần xuống và rộng
ra thành hồ chứa nước mưa tù đọng, rong rêu cỏ rác đủ thứ xà bần dơ
bẩn hôi tanh. Thế mà vẫn phải nhào xuống tắm rửa, cho sạch mồ hôi
bụi bặm và bùn đất bám đầy chân tay mặt mũi, sau cả ngày lao động
vất vả. Cả ngàn con người chờ đợi nối đuôi nhau. Mỗi đợt chỉ cho 2
Đội cỡ 80 người xuống, trong ṿng 5 phút là phải lên. Những người
xuống sau bao giờ cũng phải tắm rửa nước bùn đục ngầu. V́ phải đứng
gần ven bờ, ra xa một chút là hụt chân ngập đầu không đứng được.
Làm xong các ruộng sắn, Đội chúng tôi đổi công tác. Đến kho phụ
trách việc đập, ṿ, đạp các bó luá cho thóc rơi ra, ban mỏng trên
sân gạch, phơi cho khô, dồn vào bao, cân và cất vô kho. Trước khi
dồn thóc vào bao, c̣n phải quạt bỏ thóc lép. Một người xúc thóc vào
thúng, nâng để lên một bên vai, từ từ nghiêng thúng cho thóc chẩy
xuống đất. Người khác đứng kế bên, 2 tay cầm chiếc mẹt quạt liên tục,
cho thóc lép bay ra khỏi ḍng thóc mẩy đang chẩy xuống. Công việc
phải làm giữa sân gạch nắng chang chang cả ngày, bụi bặm bám đầy
người, phải dùng khăn bịt mồm mũi để bảo vệ buồng phổi. Những bó rơm
đă rụng hết thóc, phải chất thành đống cao cả chục mét ở góc sân,
gọi là cây rơm, sau này dùng làm ǵ không biết.
Lúa thóc do Tù reo, cấy, trồng, gặt, đập, phơi khô, xay xát ra gạo,
cho Cán bộ canh Tù ăn hàng ngày. C̣n Tù th́ quanh năm ăn toàn sắn,
bắp. Trong mùa thâu hoạch ồ ạt sắn, bắp, th́ một phần cấp cho Tù ăn
tươi hàng ngày. Phần c̣n lại, bắp th́ phơi khô tách hạt ra khỏi cùi,
sắn th́ lột vỏ sắt lát mỏng hoặc chặt thành những khúc ngắn sấy khô,
xong xuôi đem cất kho, phát ra ăn dần về sau.
Sau khi hết lúa để đập, để phơi, Đội chúng tôi được chỉ định vào
quét dọn hót cám lẫn trấu, trong nhà máy cà xát lúa ra gạo, nhồi vào
bao tải. Cả ngày ch́m đắm trong bụi bậm mịt mù, vất vả hơn đập phơi
lúa ngoài sân rất nhiều. Nhưng được cái may, hàng ngày mỗi người
được “bồi dưỡng” một túi cám lẫn trấu, đem về sàng rây bỏ trấu đi,
c̣n lại cám lẫn tấm nấu chín mà ăn.
Quản giáo Đội cho phép anh đun nước, giúp anh em nấu chín trong giờ
lao động. Ai muốn nhờ th́ đổ tấm cám và nước vào Gô riêng, giao cho
anh nấu nước vào lúc đầu giờ lao động. Đến giờ nghỉ giải lao giữa
buổi, là có cháo bột tấm cám chín sền sệt để ăn. Mùi vị hơi đăng
đắng hôi hôi khó ăn, nhưng phải ráng mà nuốt, cho cơ thể có thêm
chất bổ của cám để chống phù thũng.
Một tai họa thảm thương đă xẩy ra, làm ai nấy đau đớn và lo sợ vô
cùng. Có anh ở một đội khác bị trướng bao tử, nghẽn ruột và chết v́
ăn cám. Trong khi anh em chúng tôi cũng ăn, mà chưa có người nào làm
sao cả. Sau này có tin từ Bệnh xá loan ra cho biết, anh bạn tử nạn
v́ không rây bỏ trấu vụn lẫn trong cám tấm, cứ để nguyên như vậy nấu
ăn cho được nhiều, trấu không tiêu làm nghẽn đường tiêu hoá bể ruột
chết. Cũng kể từ đấy, Tù không được mót cám về “bồi dưỡng” nữa.
Kho vừa hết “sắn duôi” cung cấp cho Nhà Bếp, th́ vừa đúng mùa thâu
hoạch sắn tươi. Mọi người được ăn sắn tươi luộc dài dài, ngày 3 bữa.
Sắn tươi dùng thay gạo theo tiêu chuẩn 4 kí lô sắn c̣n cả vỏ bằng 1
kí lô gạo. Ăn sắn tươi có một số người bị say. Nghe anh em nói, sắn
trồng trên đồi tranh, củ nào bị rễ tranh xuyên qua, ai chẳng may ăn
phải những củ này th́ khoảng 2 tiếng đồng hồ sau khi ăn là bị say.
Khi say sắn, cơ thể cảm thấy nao nao buồn tiểu đại tiện, nôn khan,
hoa mắt chóng mặt, người bải hoải như bị trúng gió. Say nặng có thể
ngất xỉu vài phút sau mới tỉnh lại. Tôi chẳng may bị say sắn tới 2
lần.
Lần đầu vào khoảng 9 giờ đêm, lúc mọi người chuẩn bị đi ngủ. Tôi mót
đại tiện, ṃ vào góc nhà, khu để thùng cho Tù đi vệ sinh ban đêm,
đứng xếp hàng chờ. Tự nhiên Tôi thấy ánh sáng ngọn đèn dầu đổi mầu,
từ vàng trong sang vàng đục, rồi đỏ và tối xầm đi, không biết ǵ nữa.
Anh bạn đứng sau, thấy Tôi đang đứng bỗng dưng xỉu và ngă gục xuống
đất, phải xốc nách bế đặt đại lên một chỗ nằm kế đó, hô hoán kêu mọi
người xúm lại cạo gió cấp cứu, vài phút sau th́ tỉnh lại.
Lần thứ 2 nguy hiểm hơn, nó xẩy ra vào khoảng quá nửa đêm. Chỗ ngủ
của Tôi ở sàn gỗ trên cao cách mặt đất 2 mét, đang ngủ tự nhiên thấy
bụng quặn đau mót đại tiện.Tôi chui ra khỏi mùng, ḅ men theo bià
sạp, phiá chân của 3 bạn nằm bên, để tới cái cột có các cục gỗ nhỏ
làm thang, bấu chân vào tụt xuống đất. Sau khi đạp được đầu bàn chân
trái lên mẩu gỗ thứ nhất, bắt đầu xoay người tụt xuống để đặt đầu
bàn chân phải lên cục gỗ kế theo, th́ Tôi thấy choáng váng, chân tay
bủn rủn không kiểm soát được và rớt xuống đất cái rầm, rung động cả
nền nhà làm mọi người giật ḿnh thức giấc, tưởng có động đất.
Tai nạn này đă làm cổ chân phải của Tôi sưng vù, đau đớn không đứng
được bằng 2 chân, và cũng không leo lên chỗ ngủ ở tầng sạp trên cao
của Tôi được. Anh Đội trưởng đă phải nói khó với các bạn nằm ở sạp
dưới, vui ḷng đổi chỗ cho Tôi nằm tạm qua đêm.
Sau vài phút im lặng, có một bạn tốt bụng đă đáp ứng lời yêu cầu,
khiến Tôi vô cùng cảm kích, và nhớ ơn bạn ấy đến bây giờ vẫn chưa
quên. Ngày hôm sau, bạn ấy c̣n quyết định cho Tôi nằm tạm trên chiếc
nệm cao su bơm hơi của bạn ấy thêm mấy ngày, đến khi Tôi chống gậy
đi và leo lên sàn cao được mới thôi. Người tốt bụng này là Đại tá
Nguyễn văn Hăn (An ninh Quân đội). Tôi chưa có dịp quen trước
30-4-1975. Anh Hăn không những bị cận thị nặng hơn Tôi nhiều, mà lại
c̣n bị loạn thị nữa, thật vất vả, làm ǵ cũng phải sờ sờ ṃ ṃ gần
như người khiếm thị vậy.
Mỗi buổi sáng, ngay sau khi cửa pḥng giam được mở, Tôi phải 2 tay
vịn chiếc đ̣n gánh dư của anh trực nhà cho mượn, co chân phải lên,
cà nhắc nhẩy từng bước một với chân trái, để xuống Bệnh xá khám bệnh.
Khám xong lại vội vă cà nhắc nhẩy về sân tập họp, tŕnh sổ khám bệnh
cho anh Đội trưởng biết là ḿnh được nghỉ lao động ngày hôm đó.
Những Tù bệnh được nghỉ không phải theo Đội ra ngoài lao động. Nhưng
sau khi các Đội xuất trại hết, phải tập trung vào một nhà giam riêng
ở cuối sân bên khu H́nh Sự, cửa khóa trái bên ngoài, cho đến hết giờ
lao động các Đội trở về nghỉ mới được thả ra.
Khoảng 2 tuần lễ sau, t́nh trạng chân của Tôi hết sưng, có thể đi
lại với chiếc gậy nạng, Cán bộ Y tế coi là lành không cho nghỉ nữa,
phải theo Đội đi lao động. Cũng may, lúc này Đội không c̣n làm Nông
Nghiệp nữa, mà phụ trách Cưa xẻ và Ḷ rèn, ở sát ngay bên cạnh Đội
Mộc (đóng giường, tủ, bàn, ghế...) cách cổng Trại giam chừng 500 mét.
Chúng tôi xẻ những cây gỗ to tướng ra ván cung cấp cho Đội Mộc, và
nung sắt làm cuốc, xẻng, dao... theo “yêu cầu” của Trại. Tôi được cử
vào toán Rèn do anh Đại úy gốc Cảnh sát làm Toán trưởng. Anh Trịnh
Đ́nh Đăng phụ tá quai buá tạ. Tôi lo nhóm Ḷ, kéo Bễ thổi lửa cho
than đá lúc nào cũng hồng, đủ độ nóng để nung sắt.
Ít lâu sau, cổ chân của Tôi b́nh thường trở lại. Tổ Rèn không c̣n
nhiều việc để làm, Tôi được chuyển qua Tổ Cưa xẻ gỗ, cặp với anh
Phan Trọng Thiện. V́ anh Thiện đă làm lâu rành kỹ thuật kéo cưa xẻ
gỗ, nên đứng trên cao để giữ mực cưa đi được thẳng tắp, cho bề dầy
của ván đều đặn. C̣n Tôi mới vào nghề nên phải đứng phiá dưới, phụ
nâng cưa lên và kéo cưa xuống cho được nhịp nhàng, đều đặn. Cái khổ
của người đứng phiá dưới xúc gỗ đang xẻ là, từ lúc bắt đầu kéo cho
đến khi ngưng, lúc nào cũng bị mạt cưa rớt ra bay phủ đầy người từ
đầu xuống đến chân, miệng và mũi phải dùng khăn quàng bịt kín để lọc
cho bụi không lọt vào phổi, nên rất khó thở và mau mệt.
Từ ngày làm trong xưởng, không c̣n dịp mưu sinh linh tinh các sinh
vật ngó ngoáy ngoài đồng nữa, anh em chờ giờ giải lao chạy ra các
băi cỏ sát hàng rào quanh sân để mót rau má, rau tầu bay đem về ăn
độn với “sắn nút chai”. Đây là sắn nguyên củ, sau khi lột bỏ vỏ,
chặt thành từng khúc ngắn cỡ 2 đốt ngón tay, đem phơi hoặc sấy khô,
cất kho. Những mẩu sắn khô đổi mầu từ trắng sang nâu xám, trông như
những mẩu gỗ dùng để nút miệng chai. Muốn làm chín để ăn, người ta
dùng nước luộc như luộc khoai. Thấy ngoài mặt các cục “sắn nút chai”
luộc đổi mầu từ đục sang trong, tưởng là đă chín nhưng lúc ăn mới
thấy, trong lơi cục nào cũng c̣n sống nguyên.
Mùa Hè năm 1978, có lẽ là mùa tử vong cao nhất tại K1 trại Tân
Lập-Vĩnh Phú. Có hôm, trong khi các Đội ngồi phơi nắng cả tiếng đồng
hồ, chờ gọi xuất trại lao động buổi chiều, có đến 3, 4 người ngất
xỉu v́ say nắng giữa sân tập họp, được anh em xốc nách đem vào Bệnh
xá cấp cứu. Tối lao động về nghe tin 2 người đă chết. Một buổi khác,
một anh Đội trưởng Nông Nghiệp cũng cải thiện linh tinh, ăn thịt Cóc
và trứng Cóc vào bữa trưa, đến chiều ra tập họp đi lao động bị ngất
xỉu. Anh em cơng vào Bệnh xá cấp cứu không được, anh ấy đă vĩnh viễn
ra đi trước mọi người.
Đi lao động bị tai nạn chết tại K1, Tân Lập, Vĩnh Phú, có trường hợp
Trung tá Hưng (trước 30-4-1975 làm Tham mưu trưởng Trường Đại học
Chiến tranh Chính trị ĐàLạt). Nghe anh em bạn cùng đi với anh Hưng,
theo xe tải của Trại công tác ngoài lănh thổ trại giam trở về kể lại
: “-Xong công tác, lúc xe quay trở về trại trời đă tối mịt. Xe phải
lội qua khúc sông cạn đá lổn nhổn. Bánh xe bị kẹt ở giữa ḍng sông
nước chảy xiết, không nhúc nhích được. Anh em Tù phải xuống xúm
chung quanh đẩy cho xe tiến tới, anh Hưng chẳng may bị hụt chân ch́m
mất tích. Măi mấy ngày sau mới t́m được xác. Trại loan tin anh Hưng
không biết bơi nên bị chết đuối.”
Nữ Văn sĩ Bích Huyền là vợ Trung tá Hưng, hiện đang định cư tỵ nạn
tại Nam California, đă viết một tuyển tập “Lối cũ chẳng sao quên”.
Trong đó có đoạn kể lại chuyện đi thăm nuôi anh Hưng tại K1 Tân Lập-
Vĩnh Phú, phải lặn lội gian nan khổ cực như thế nào. Ít lâu sau có
người nhắn tin về nhà cho biết là anh Hưng đă chết, chị ấy lại phải
đi cùng 3 người anh ở Hà Nội (theo Cách mạng từ 1945) trở ra Tân Lập.
Khi đến Phân Trại gặp anh Hưng lần trước, người ta nói anh Hưng đă
chuyển trại, nhưng không cho biết tên trại mới. Mấy anh em phải chạy
ngược chạy xuôi qua hết các Phân trại, chẳng nơi nào nhận đang “quản
lư” anh Hưng. Sau cùng phải đến Ban chỉ huy Trại Tân Lập tại K5, mới
xin được phép bốc hài cốt anh Hưng đem về cải táng. Vào đêm thứ Sáu,
mồng 7 tháng 1 năm 1994, Bà Bích Huyền đă được Tổng Hội Ái hữu Chiến
tranh Chính trị Quân lực Việt Nam Cộng hoà Hải ngoại tại Nam
California, bảo trợ tổ chức Ra Mắt cuốn “Lối cũ chẳng sao quên” lần
đầu tiên tại Vũ trường Ritz ở Quận Orange. Lúc đó Trung tá Nguyễn
Ngọc Thông (c̣n sống) là Chủ tịch Tổng hội, Nhạc sĩ Nguyễn Hiền Phó
Chủ tịch Nội vụ, và Tôi là Phó Chủ tịch Ngoại vụ. Nhân dịp tổ chức
Dạ Vũ Ra Mắt sách này, Tôi đă cảm đề một bài Thơ tặng Bà Bích Huyền
như sau:
D̉NG KỶ NIỆM ĐẸP
Bích Huyền “Lối cũ chẳng sao quên”,
Lẻ bóng duổi dong một chiếc thuyền.
Xă hội nhiễu nhương ḷng sắt đá,
T́nh đời trao đảo dạ trung kiên.
Chồng đền nợ nước gương anh dũng,
Vợ giữ gia phong tiếng nữ hiền.
Trí sáng khéo ghi ḍng kỷ niệm,
Bút tài giỏi họa khúc chuân chiên.
Quận Cam, Nam Cali, 7-1-1994
Anh em Tù chết bệnh tại K1 th́ nhiều, nhưng cấp bậc Đại tá chỉ có
anh Phạm văn Sơn, tác giả cuốn “Việt Nam tranh đấu sử Cận đại”. Anh
Sơn chết v́ bệnh tiểu đường biến chứng. Trước 30-4-1975 anh Sơn là
một trong những người có công lớn trong việc nghiên cứu, biên soạn,
và ấn hành tập “Quân Sử Việt Nam Cộng hoà”, do Pḥng 5 Bộ Tổng tham
mưu Quân lực VNCH chủ trương. Hiện nay thấy mấy tập Quân sử này được
in lại và bầy bán tại các nhà sách trong Khu Little Saigon, Quận
Cam, Nam California.
Sau đợt Trung Cộng tấn công các Tỉnh biên giới Bắc Việt vào năm
1978, rất nhiều Tù bị giam tại các vùng Sơn La, Lào Kay, được chuyển
về K1. Nhờ thế Tôi có dịp gặp Trung úy Nguyễn Trung Hoà, bút hiệu
Huy Vân, Chủ bút tờ Nhật báo Tiền Tuyến thời Tôi làm Chủ nhiệm trước
30-4-1975. Khoảng 1 tháng sau khi chúng tôi gặp nhau th́ Huy Vân
phải chuyển sang Phân trại khác cũng thuộc trại Tân Lập. Đến đầu năm
1979, Đội các Đại tá chúng tôi bị chuyển về K5, gặp Tù quen thuộc
ngành Chiến tranh Chính trị cho biết, anh Huy Vân đă qua đời trong
mùa Hè chết chóc kinh khủng vừa qua, v́ bệnh không thuốc chữa.
NỖI L̉NG TÙ KHÔNG ÁN.
Hùng Vương Quốc Tổ thấy không ?
Đồng bào cùng giống Tiên Rồng diệt nhau.
V́ không thần phục Nga Tầu,
Không theo Bác Đảng làm trâu kéo cầy.
Sa cơ bắt nhốt vào đây,
Hoà ḿnh chịu nhục cùng bầy ác gian.
Đọa đầy cực khổ cơ hàn,
Sức ṃn lực tận tiêu tan xác phàm.
Người v́ Chính nghĩa chịu giam,
Bọn vô nhân đạo lên làm Chủ dân.
Giang sơn gấm vóc tiêu lần,
Nhân tài yêu nước chung thân ngục tù.
Đ́nh, Chùa, Lăng, Miếu, Nhà Thờ,
Hoang tàn v́ thuyết Tam Vô bạo tàn.
Nhân dân đói khổ lầm than,
Bởi bầy Cộng sản ác gian lọc lừa.
Nỡ nào Quốc Tổ làm ngơ,
Để cho lang sói ḍng Hồ hại dân ?
K1-Tân Lập-Vĩnh Phú, Mùa Đông 1978
.
HOME
(C̣n tiếp..) |