Chương 10LAO
ĐỘNG LÀ VINH QUANG !
Sau khi ở tạm tại K Ḷ Gạch (Phân trại Ḷ Gạch) được 2
đêm 1 ngày, th́ có lệnh thu gọn hành trang di chuyển tới Khu Nhà
Ngói (K1), vào một buổi trưa trời quang nắng ấm. K1 tức là Phân
trại 1, ở tận phía rià bên kia của thung lũng xă Việt Cường.
Gọi là Khu Nhà Ngói v́, đây là dẫy nhà tường gạch có mái lợp
bằng ngói đỏ duy nhất, nổi bật trong thung lũng. Nó lớn hơn cả
khu nhà kho của Hợp tác xă, tường gạch, nhưng mái chỉ được lợp
bằng tôn. C̣n tất cả các nhà của dân chúng nằm bên ven rừng sát
rià thung lũng, mái đều lợp bằng rạ (đoạn thân cây lúa già c̣n
lại, sau khi đă gặt các bông lúa chín). Nhà của Cán bộ canh Tù,
cũng chỉ có vách kết bằng “chổm” chẻ nhỏ, chát đất chộn rơm, rồi
dùng bay gỗ xoa cát lên cho phẳng mặt coi như tường, mái lợp
bằng các vỉ tranh “chổm”, hoặc bằng tôn mỏng gợn sóng.
Lúc lên đường rời K Ḷ Gạch sang K1, đồ đạc của Tù được chất lên
2 chiếc xe Molotova chở đi trước. Người xếp hàng đôi, nối đuôi
nhau cuốc bộ theo sau, dưới sự áp tải của Cảnh vệ. Từ rià Tây
thung lũng nơi có K Ḷ Gạch gần Ban Chỉ huy Liên trại 1, sang
rià Đông thung lũng nơi có K1 (khu nhà ngói), chỉ có một con
đường đất trộn đá duy nhất thẳng tắp, dài chừng 3 cây số băng
ngang khu đồng ruộng của Hợp tác xă.
Đi đến khoảng giữa đoạn đường, nh́n về hướng Nam thấy một đồi
trồng trà. Bên sườn đồi có 1 dẫy nhà chổm nhỏ trông rất nên thơ,
cách phiá sau cơ sở Ban Chỉ huy Liên trại 1 khoảng độ năm trăm
mét. Sau này mới biết là nơi giam các sĩ quan cấp Tướng QLVNCH.
Chừng hơn 20 ông th́ phải, Tôi không biết rơ con số.
Vừa đến khu vực K1, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên, khi thấy số
anh em Đại tá ở lại trại Suối Máu ngày chúng tôi ra đi, cũng
đang có mặt tại đây. Không biết anh em được đưa đến đây từ lúc
nào. Thật là mừng vô kể. Hơn 300 Đại tá bị đưa ra miền Bắc Xă
hội Chủ nghĩa, được tập trung học lao động cải tạo bên nhau,
trong cùng 1 trại th́ đỡ lo. Ở chung với các bạn sĩ quan cấp nhỏ
trẻ khỏe hơn, chắc chắn không thể “thi đua lao động đạt thành
tích cao” như họ, sẽ khó ḷng được coi là “tiến bộ” mà hy vọng
được tha về với vợ con.
Tuy chúng tôi chỉ là bạn Tù đồng cảnh với nhau, không phải là
quyến thuộc, thế mà mới xa nhau có 2 ngày 2 đêm, nay được gặp
lại tay bắt mặt mừng quấn quưt, tưởng như đă xa nhau hàng năm
vậy. Thật là một cảm giác lạ lùng.
Qua câu chuyện trao đổi tin tức, được biết là các Đại tá Bác sĩ
Quân Y và một vài Đại tá Bộ binh khác, được ở lại trong Nam,
không ai biết nguyên do v́ sao. Có tin cho rằng, các Bác sĩ v́
nhu cầu chuyên viên nên được ở lại, nghe cũng hữu lư. Nhưng c̣n
mấy Đại tá Bộ binh đâu phải v́ nhu cầu chuyên môn? Có người cho
rằng v́ mấy bạn đó có thân nhân theo Cách mạng lâu năm, nay có
căn cội lớn nên xin cho được ở lại.
Toàn là ư kiến đoán ṃ. Thật ra chẳng ai biết được chính sách
đối xử thật sự của Cộng sản, đối với người dân tại miền Nam ra
sao. Nói chi là quân nhân Quân lực và nhân viên Hành chánh Việt
Nam Cộng ḥa, đă bị chúng đặt cho cái tên “Ngụy quân, Ngụy quyền”.
Chẳng hạn như hồi gần cuối năm 1975, Đài phát thanh chính thức
của Nhà Nước, ra rả cải chính tin đồn việc đổi tiền miền Nam ra
tiền Cụ Hồ là thất thiệt. Thế rồi đùng một cái, vào một buổi
sáng tinh mơ, cũng lại chính cái Đài phát thanh đó, loan báo
lệnh Nhà Nước buộc nhân dân không được di chuyển ra khỏi địa
phương ḿnh cư ngụ, để thực hiện việc đổi tiền theo hộ khẩu.
Thời hạn đổi phải hoàn tất trong ngày. Mỗi người chỉ được phép
đổi một số lượng theo quy định. Số tiền ai có nhiều hơn mức quy
định, phải nộp cho Nhà Nước lưu giữ cứu xét giải quyết sau. Của
đă vào tay Nhà Nước th́ c̣n khuya mới lấy lại được. Ngoài ra c̣n
bị gọi tới gọi lui, tra vấn khai báo về nguồn gốc tiền từ đâu mà
có nhiều thế, lại là cái họa chẳng biết đâu mà gỡ. Thật là một
chính sách bần cùng hoá nhân dân, san bằng giai cấp một cách tàn
bạo vô nhân đạo. Chỉ có chế độ Cộng sản man rợ dă tâm mới ĺ lợm
thực hiện công khai như vậy.
Chính sách khoan hồng nhân đạo của Cách mạng quy định, “Ngụy
quân Ngụy quyền” đáng tội chết, nhưng Cách mạng tha không giết,
và tạo cơ hội cho đi “học tập lao động để cải tạo tư tưởng”.
Biết được giá trị “lao động là vinh quang”, phải “tay làm hàm
nhai, không ăn bám vào Xă hội” như từ trước tới nay. Biết “yêu
lao động là yêu Xă hội chủ nghĩa”, “yêu xă hội chủ nghĩa là yêu
nước”… Do đó phải cố gắng lao động cho tốt, ngày ngày “thi đua
nâng cao năng xuất cho mau tiến bộ”, có “tiến bộ nhanh, đạt tiêu
chuẩn” mới được xét cho về hội nhập vào “xă hội mới Xă hội Chủ
nghĩa”.
K1 nằm ngay bên đường huyết mạch của thung lũng, trên mỏm đồi
lài lài xuống một khe suối nhỏ. Từ cổng vào phải qua khoảng sân
trống chừng 100 mét, rồi tới 3 dẫy nhà “chổm” và một nhà bếp
cũng bằng “chổm”. Băng qua các dẫy nhà “chổm” là một dẫy nhà
ngói mới xây xong, theo kiến trúc khám giam Tù rất kiên cố, dài
khoảng 3 chục mét, rộng 4 mét, tường chung quanh cao 3 mét xây
bằng gạch thẻ.
Phiá trước dẫy nhà ngói có 1 hàng hiên rộng 2 mét, có mái che
bằng phên “chổm” đập dẹp. Dẫy nhà chỉ có một cửa ra vào duy nhất
bằng sắt, ở khoảng chính giữa hàng tường mặt trước. Hai bên cửa
chính, có một dẫy cửa sổ cỡ gần 1 mét vuông bịt song sắt, cao
hơn mặt đất chừng 1 mét. Tường phía sau, có một dẫy lỗ thông hơi
cao 20 phân, dài 40 phân, cũng bịt các song sắt dọc cách nhau 10
phân, nơi gần sát mái nhà.
Bên trong, phiá cuối nhà, có 1 pḥng nhỏ tường xây kín lên tới
mái, có cửa sắt khóa, không biết để làm ǵ. Khoảng rộng c̣n lại,
có một dẫy bệ nằm dài suốt bề dọc căn nhà, xây bằng gạch láng xi
măng sát vào tường phiá sau, cao 1 mét, rộng 2 mét. Phiá trước
dẫy bệ nằm là lối đi rộng 1 mét rưỡi, suốt từ đầu này đến đầu
kia của căn nhà. Xi măng láng trong nhà chưa khô hẳn, c̣n xông
mùi hôi nồng nặc, làm cho bầu không khí ngột ngạt hăng hắc khó
chịu.
Những anh em được đưa từ trại Suối Máu ra sau chúng tôi, nhưng
đến K1 trước chúng tôi, được chia nằm trong các dẫy nhà “chổm”
phiá trước sân dẫy nhà ngói, và gần bếp bên cạnh suối. Thoáng
khí và tương đối rộng, mỗi người được một chỗ nằm bằng chiếc
chiếu cá nhân, khoảng 70 phân.
Chúng tôi ra Bắc trước, nhưng chuyển đến K1 sau, nên bị giam
trong dẫy nhà ngói đang c̣n trống. Khoảng 100 người trong nhóm
chúng tôi, được chỉ định nằm trong dẫy nhà ngói. Chen nhau chặt
ních, mỗi người được chia 1 khoảng nằm rộng 2 gang tay. Tôi phải
nằm trong nhà này. Số c̣n lại khoảng 50 người, được nằm dọc dưới
mái hiên bên ngoài nhà. Nằm ngoài hiên tuy thoáng khí, nhưng đêm
sương gió lạnh cóng. C̣n nằm trong nhà th́ ngộp thở, thiếu dưỡng
khí, nóng nực mồ hôi đầm đià như tắm hơi.
Ngay đêm mới được chuyển đến K1, sau khi ăn bữa chiều vừa xong,
có lệnh tập họp nơi mảnh sân chật hẹp ngay trước dẫy nhà ngói.
Hơn 300 người ngồi chồm hổm dưới đất, sát bên nhau chặt cứng,
ngửa mặt nh́n lên chiếc ghế và bàn nhỏ để trên mặt chiếc rờ-mọc,
nghe Cán bộ Trưởng K1 đến “làm việc”. Đại khái ông ta nói :
“-V́ khẩn trương quá, nên chưa có đủ chỗ nằm thoải mái cho mọi
người, anh em cố gắng khắc phục, kể từ mai chúng ta sẽ tự túc
xây dựng thêm nhà để ở cho được thong thả. Mọi người hăy cố gắng
học tập cho nó tốt. Có điều ǵ thắc mắc th́ cứ thành khẩn báo
cáo, cán bộ quản giáo sẽ chỉ dậy cho.”
Ông ta c̣n nói nhiều nữa, lâu cả tiếng đồng hồ. Tôi không quan
tâm cho lắm, nên chẳng biết ông ấy đă nói những ǵ. Nhưng các
Đội trưởng chắc chắn phải lắng nghe, để “nắm vững” mà nhắc nhở
anh em. Nhiều người ngủ gục. Tôi cũng mệt mỏi ngáp ngắn ngáp dài
sái cả quai hàm, trông cho mau xong để đi ngủ cho khoẻ, sau một
ngày bận bịu vất vả.
Thời tiết đang vào Đông, ngoài trời luôn ngăm ngăm lạnh, thế mà
nằm trong nhà giam nóng như nung. Đi ngủ, ai cũng chỉ mặc quần
ngắn áo thun, mồ hôi vẫn vă ra như tắm hơi. Chặt cứng như nêm,
không đủ chỗ để nằm ngửa phải nằm nghiêng kiểu úp thià. Mỗi lần
muốn trở ḿnh cho khỏi mỏi, phải ngồi dậy xoay người rồi mới nằm
xuống lại, để khỏi làm phiền 2 bạn nằm kế 2 bên.
Không ngủ được, thường sinh ra cái chứng mót tiểu hoài. Trong
nhà nóng, bên ngoài lạnh cóng, mỗi lần đi ra phải mặc quần áo,
chụp mũ lên đầu cho ấm. Khi trở vào, lại phải cởi ra, thật phiền
phức trần ai hết mức.
Đi tiểu c̣n đỡ, địa điểm đặt các thùng đựng nước tiểu ở ngay bên
chuồng gà, giữa Nhà ngói và Nhà bếp, khoảng cách gần chỉ độ vài
chục mét. C̣n muốn đi đại tiện, phải băng qua sân dài cả trăm
mét, ra tới gần cổng trại, mới rẽ trái theo con đường ṃn nhỏ
xuống bên bờ suối, cả mấy chục mét mới tới Nhà vệ sinh. Sương
đêm dầy đặc mù mịt trơn trượt, không đèn không đuốc, ṃ mẫm đi
lại rất khó khăn nguy hiểm. Ngoài ra c̣n sợ nạn bị cọp ŕnh vồ
thịt, hoặc đạp lên ḿnh trăn rắn đang trườn ngang lối đi, sẽ bị
chúng mổ cuộn th́ toi mạng. Thật là trần ai bể khổ.
Trong căn lều che hố vệ sinh, tối đen như mực, và chỉ có 2 chỗ
cho 2 người. Muỗi rừng bay dầy đặc như ong vỡ tổ, đuổi không kịp,
đốt nhức buốt xưng u ngứa ngáy khó chịu. Nhiều bạn xấu tính, ích
kỷ, ngại đạp phải dơ, ngồi phóng đại bên đường, làm những người
đi sau không thấy dẫm lên bê bết. Chùi quẹt giầy lên cỏ bên
đường không sạch hết, khi trở vào pḥng giam mùi sông nồng nặc,
tưởng như có ai đau bụng đi không kịp, phóng ra quần tại chỗ nằm.
Suốt đêm nằm trăn trở không ngủ được. Mệt mỏi quá rồi cũng lả
thiếp đi lúc nào chẳng biết. Đang lơ mơ, bỗng một hồi Cồng bom
oang oang đổ dồn, chói tai nhức óc. Giật ḿnh thức giấc ngồi dậy,
nghe lẫn trong tiếng cồng, tiếng hú thảm thiết của con chó bên
khu Cán bộ vọng sang. Mọi người uể oải sửa soạn đón nhận thêm
một ngày mới, với những biến cố mới chưa đoán biết được, sẽ đến
trong cuộc sống tù biệt xứ đang gánh chịu.
Cán bộ Trực trại ra lệnh qua loa phóng thanh, giục mọi người
“khẩn trương” ra sân tập thể dục. Sau 15 phút, bài học thể dục
tập thể xong, lại phải “khẩn trương” đi lo phần vệ sinh cá nhân.
Trong khi đó, bạn Trực pḥng của Đội đi xuống Nhà bếp, lănh phần
khoai lang luộc điểm tâm về chia cho anh em. Mỗi phần chỉ có 1
củ khoai bằng nắm tay, hoặc 2 củ bằng 2 quả trứng gà. Ăn chưa
xong, cồng tập họp đi lao động đă vang dội cả thung lũng.
Mọi người vội vă kéo nhau ra sân tập họp. Từng Đội xếp 2 hàng
dọc, ngồi chôm hổm sát bên nhau đầy sân, quay mặt ra cổng chờ
lệnh Cán bộ Trực Trại. Nửa giờ sau, Cán bộ Giáo dục và các Quản
giáo xuất hiện nơi cổng. Bắt đầu đọc lệnh “biên chế” lại các Đội.
Sau khi Quản giáo nhận Đội, ông ta dẫn riêng ra một góc sân, chỉ
định Đội trưởng, các Tổ trưởng, Thư kư đội, anh phụ trách nấu
nước cho Đội ngoài hiện trường lao động, anh Trực nhà, và phân
chia anh em c̣n lại vào các Tổ.
Xong suôi, mọi người về thu xếp tư trang dọn đến nơi ở mới quy
định cho Đội. Tôi được chia vào Đội Nông Nghiệp, do anh Lê Minh
Luân (Đại tá Không quân) làm Đội trưởng. Láng ở của chúng tôi là
dẫy nhà “chổm” gần bên láng ở của Đội Anh Nuôi (hoả đầu vụ). Dẫy
nhà tuy cũ kỹ, vách “chổm” khô cong kẽ hở lớn, thu hút gió Đông
lạnh dễ dàng, nhưng khoảng nằm rộng răi hơn, thoáng khí không
ngột ngạt như trong nhà ngói. Mỗi người được khoảng nằm rộng 60
phân, chiếu cá nhân phải để chồng mí lên nhau.
Buổi lao động chiều, cả K được lệnh dồn nỗ lực chia nhau phát
quang dọn sạch sẽ các bụi cây cỏ dại chung quanh trại, để nới
rộng sân tập họp, sửa soạn chỗ cất thêm nhà mới, làm hàng rào
quanh trại, tu sửa bờ suối cạnh bếp và nơi tắm giặt công cộng...
Sau cuộc “biên chế” mới, nhóm bạn ăn chung cũng như nằm gần bên
Tôi, suốt từ Long Giao ra đến đây, gồm anh Vơ Quế và 2 anh Pháo
binh (không nhớ tên), bị tách biệt ra mỗi người mỗi Đội khác,
hơi buồn.
Ngày hôm sau, các Đội mới chính thức xuất trại đi lao động bên
ngoài trại.
Khởi đầu “lao động vinh quang”,
Cồng bom (1) giục giă, xếp hàng giữa sân.
Từng đội theo lệnh “xuất quân”,
Vào rừng chặt chổm, vác dần về K (ca).
Đóng rào, dựng cổng, cất nhà,
Để mà có chốn đi ra đi vào.
Đắp nền Láng ở cho cao,
Kẻo mùa mưa lũ, nước trào vô trong.
Sàn nằm hai dẫy thong dong,
Đầu quay sát vách, khỏi trông thấy ngoài.
Nhà ba gian, phải phân đôi,
Nhốt chung hai đội, trăm người vào ra.
Cấm không túm bẩy tụm ba,
Chuyện tṛ bàn thảo việc nhà, việc chung.
Ngày lo lao động tính công,
Tối ngồi “kiểm thảo” để cùng “sửa sai”.
“Hoạch định phương án” tương lai,
“Thi đua” “phấn đấu” mỗi ngày tiến lên.
Ốm đau “khắc phục” cho quen,
Đội không được phép nghỉ trên một người.
“Khẩu phần” nhờ “đội anh nuôi”,
Lo cho cả trại kịp thời, đúng cân.
Dù ai lao động xa gần,
Đi về sớm muộn, có phần dành riêng.
Giống như Hợp tác xă viên,
Anh hùng lao động tại miền Bắc ta.
Thảm thương Đại tá Cộng hoà,
Đoạ đầy thể ấy, thành ma mấy hồí !
K1, LT1, Việt Cường, Yên Bái, tháng 7-1976.
(1) Theo lời giải thích của Quản giáo Đội chúng tôi, chiếc cồng
mà K1 đang dùng, là vỏ một quả bom do máy bay Mỹ thả xuống không
nổ. Người ta gỡ thuốc và ng̣i nổ bỏ đi, rồi treo lên dùng làm
cồng báo giờ cho cả thung lũng cùng nghe được. Chiếc cồng được
xử dụng đánh báo giờ giấc cho K1, mỗi ngày 8 lần : - báo dậy
buổi sáng, -tập họp đi lao động buổi sáng, -giờ nghỉ giải lao
giữa buổi sáng, -măn giờ lao động sáng, -tập họp đi lao động
buổi chiều, -giờ nghỉ giải lao giữa buổi lao động chiều, -măn
giờ lao động chiều, -báo điểm danh tối trước khi vào pḥng giam.
Ngoài ra c̣n dùng để đánh liên hồi 3 tiếng một, mỗi khi cần báo
động.
Chiếc cồng phát ra một loại âm thanh kim khí lanh lảnh trong,
với tần số rung rất cao, làm inh tai nhức óc người ta dễ sợ. Đến
nỗi con chó đặt tên là Pho của Quản giáo Đội chúng tôi nuôi, bị
tiếng cồng làm đau đớn nhức óc khiếp đảm, phải chu lên nghe rất
thảm thiết ghê lạnh cả người. Tiếng kêu y như tiếng hú của chó
sói trong rừng già hoang vu, diễn tả trong các phim chuyện của
Âu Mỹ.
Không ai hỏi, nhưng ông ta tự động giải thích v́ thù Đế quốc Mỹ
xâm lăng, bỏ bom miền Bắc Xă hội Chủ nghiă, nên lấy tên của Tổng
thống Ford đặt cho con chó, để hàng ngày gọi cho ăn, và lúc nào
không bằng ḷng th́ cột lại đánh cho bơ ghét.
Thật tội nghiệp cho những bộ óc thiển cận, ít học, lạc hậu. Ông
ta đâu có biết tâm t́nh của người Âu Châu hoàn toàn khác hẳn.
Chỉ nhân vật thân quen nào được qúy mến nhất, họ mới lấy tên của
người ấy đặt cho con vật họ thương qúy tŕu mến nhất như con.
Tại Hoa Kỳ, c̣n có Luật bảo vệ gia súc như chó, mèo… Ai hành hạ
súc vật bị tố cáo, sẽ bị làm biên bản đưa ra Ṭa án phán xét xử
phạt nghiêm khắc. Đâu như tại Việt Nam, chó được nuôi bằng cơm
thừa canh cặn, để dọn sạch sẽ những thứ do con người thải ra, để
coi giữ nhà, và đặc biệt để làm thịt ăn. “Sống ở trên đời ăn
miếng dồi chó. Chết xuống âm phủ biết có hay không?”