|
Nguyễn-Huy Hùng (K1 Trường Vơ bị Quốc gia Việt Nam)
Binh nghiệp của Tôi khởi từ ngày nhập ngũ 5 tháng 7 năm 1947 tại pḥng tuyển mộ Vệ Binh Bắc Kỳ thị xă Lạng Sơn. Sau ba tuần lễ học các động tác cơ bản chiến đấu, luyện tập bắn các loại súng cá nhân và tập thể của người lính xong, Tôi được cùng các bạn tân binh gốc sắc tộc Thổ (Tầy) di chuyển xuống Hà Nội bổ xung vào quân số Đại đội 2 Vệ Binh Bắc Kỳ gồm toàn lính thuộc các sắc tộc Thổ miền Lạng Sơn và sắc tộc Nùng miền Móng Cái Hải Ninh, đóng đồn tại vùng Ngă Tư Vọng, gần Bệnh viện Bạch Mai, Phi trường Bạch Mai và Chợ Mơ, ngay nơi cửa ngơ Hà Nội dẫn xuống miền Phủ Lư, Nam Định, Ninh B́nh… để vào miền Trung Việt Nam. Khoảng hơn tháng sau, Đại đội được lệnh di chuyển xuống trấn giữ ba đồn xây dựng cách nhau theo thế chân vạc (3 đồn ở 3 góc theo địa h́nh tam giác) tại khu vực quanh ga Văn Điển (trên đường đi Nam Định, ngay tại ngă ba dẫn vào Hà Đông). Trong khi đang tu sửa các ṿng rào pḥng thủ quanh đồn chưa hoàn tất, th́ bị một lực lượng đặc công Việt Cộng lặn qua hồ sen bao quanh đồn, xâm nhập vào một đêm tối trời không trăng sao, để đánh đột kích cả 3 đồn một lượt. Đồn chính của Ban Chỉ Huy (BCH) Đại đội ở ngay ngă ba không có tường thành v́ được bao bọc chung quanh bởi một hồ sen rất rộng, bị một nhóm Việt Cộng đột nhập lần ṃ t́m đến các pḥng ngủ để ám hại Đại đội trưởng và các Hạ sĩ quan tham mưu người Pháp, bị phát giác giao tranh cận chiến với lính pḥng vệ, không thành công chúng phải rút lui để lại 3 xác chết. Hai đồn kia, nhờ chung quanh có tường xây như ṿng thành lô cốt, chúng không xâm nhập được vào trong, nên nấp bên ngoài chân tường ném lựu đạn vào gây cho 1 chết và 3 bị thương. Ngay sáng hôm sau, Đại đội mở cuộc hành quân lục soát các làng kế cận quanh đồn, nhờ dân chúng chỉ điểm bắt được 5 cán bộ Việt Cộng và du kích c̣n đang luẩn quất trong vùng. Sau trận này, nhiều bạn bè được thăng cấp hoặc ân thường huy chương, Tôi được đặc cách thăng lên Binh Nhất và 3 ngày phép về Hà Nội chơi, v́ Tôi từ khước không nhận sự ân thưởng Anh dũng Bội tinh với ngôi sao đồng (Croix de Guerre avec Étoile de Bronze) của quân đội Pháp, theo ư kiến của Đại đội trưởng là Thiếu Úy Boulanger thuộc Vệ binh Pháp (Garde Républicaine). Khoảng một tháng sau, Đại đội được di chuyển sang vùng Trèm Vẽ, bên bờ sông Hồng Hà phiá Tây Bắc thành phố Hà Nội, hướng đi thị xă Sơn Tây. Làng Trèm rất giầu, toàn nhà ngói, đường ngơ trong làng rộng răi lát gạch rất sạch sẽ, và có một xóm Vạn (nhà ở bằng thuyền trên sông Hồng) ở phiá bên tay phải đ́nh Trèm. Những sự kiện trên đă xẩy ra liên tục trong ṿng có 5 tháng. Sau Tết Mậu Tư năm 1948, đang làm thư kư văn pḥng Đại đội kiêm thông dịch viên, kiêm tổng đài viên điện thoại giữa BCH Đại đội đóng ngay bên cạnh Đ́nh Trèm và các Trung đội đóng đồn cách xa BCH Đại đội từ 2 đến 3 cây số, Đại Tá Tư lệnh Vệ binh Bắc Kỳ đến thanh tra Đại đội, và trước khi ra về đă yêu cầu Thiếu úy Boulanger Đại đội trưởng kư ngay Sự vụ lệnh và cho Tôi lên xe đi theo phái đoàn về Hà Nội tức th́ để nhập học khoá Peleton-1 lấy bằng cấp Hạ Sĩ Vệ binh Bắc kỳ (Caporal Garde Tonkinoise) trong thời gian 3 tháng tại Trại Ngọc Hà. Suốt thời gian theo học, trong mọi kỳ thi sát hạnh cuối tuần và kỳ thi măn khoá, Tôi đều được xếp hạng nhất đứng đầu toàn Khoá, nên trong buổi lễ măn khoá đă được Đại Úy Giám đốc khóa học đề nghị Đại Tá Tư lệnh Vệ binh Bắc Kỳ đặc cách gắn cho Tôi cấp bậc Hạ Sĩ Nhất (Caporal Chef) thay v́ Hạ Sĩ (Caporal) như các bạn trúng tuyển trong cùng khoá học. Không có sẵn cấp hiệu HSN mới, nên Đại Úy Giám đốc đă lấy cấp hiệu HSN cũ của một khoá sinh tốt nghiệp khóa Peleton-2 vừa được thăng cấp Trung Sĩ để gắn cho Tôi. Theo quy chế Hạ sĩ quan Quân đội Pháp, với cấp bậc Hạ Sĩ Nhất, Tôi được phép vào giải trí trong các Câu lạc bộ dành cho Hạ Sĩ Quan (sous officier=non comission officer), trong khi đó th́ Hạ Sĩ bị coi là thuộc hàng binh sĩ (homme de troupe=GI chữ viết tắt biểu thị cho chữ enlisted man của Hoa Kỳ) không được phép vào các nơi này. Ngay sau lễ măn khoá, xe vận chuyển của Đại Đội chờ sẵn để đưa Tôi về đơn vị, trên đă có một số bạn lính khác của Đại đội cùng đi. Một điều làm Tôi rất ngạc nhiên là xe đưa chúng tôi băng qua cầu Long Biên (Pont Doumer) sang Gia Lâm rồi tiếp tục trên Quốc lộ số 5 đi xuống hướng Hải Dương, chứ không chạy qua Đền Quan Thánh c̣n gọi là Đền Trấn Quốc bên đầu Hồ Tây để về vùng Trèm Vẽ cách thành phố Hà Nội khoảng 10 cây số về hướng Tây Bắc như thường lệ. Tôi lên tiếng hỏi trưởng xa Trung sĩ Paul (Vệ binh Pháp gọi là Maréchal des Logis chứ không gọi là Sergent như trong Bộ binh), mới biết là Đại đội đă di chuyển xuống Quảng Yên, một tỉnh thuộc miền duyên hải ở ven bờ biển Vịnh Bắc Kỳ. Xe chạy suốt ngày ngang qua địa phận các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An, và tới thành phố cảng Hải Pḥng vào đúng lúc trời hoàng hôn, đèn điện đủ mầu sắc bật sáng trưng các cửa tiệm dọc 2 bên đường phố, đầy người và xe cộ qua lại như mắc cửi, thật là vui mắt. V́ phà Bến Đ̣ Bính đóng không hoạt động từ 5 giờ chiều, và xe quân đội không được phép chạy ban đêm trong vùng Núi Đèo, nên chúng tôi phải ghé ngủ trong trụ sở tiếp chuyển tạm của Đại đội trong một biệt thự rộng răi sang trọng, nằm trong vùng Lạch Tray gần đường Đồn Đất dẫn xuống phi trường Cát Bi, đến ngày hôm sau mới di chuyển qua thị xă Quảng Yên. Sáng hôm sau, xe đưa chúng tôi băng qua các phố cảng Hải Pḥng rất nhộn nhịp, đến Bến Đ̣ Bính đáp phà qua sông Hải Pḥng rộng cả mấy trăm mét để sang vùng Núi Đèo phiá bên kia sông. Xe tiếp tục băng đồi và đồng ruộng cả 2 tiếng đồng hồ th́ đến bên bờ khúc Cửa Bạch Đằng đổ vào Vịnh Bắc Kỳ. Nơi này gọi là Bến Đ̣ Rừng, xe phải xuống phà băng ngang mặt sông rộng cả cây số, sóng lớn gió lùa giữ dội như đi trên biển cả vậy. Qua sông c̣n phải chạy chừng hơn 5 cây số đường đá trải nhựa, dọc theo bờ Bắc con sông Tranh mới tới thị xă Quảng Yên. Nhờ con sông Tranh đổ vào Cửa Bạch Đằng và có thể băng ngang để vào sông Hải Pḥng, nên người ta dùng phương tiện ca-nô để vận chuyển người và hàng hoá thường xuyên hàng ngày giữa thành phố cảng Hải Pḥng và thị xă Quảng Yên. Thời gian di chuyển bằng đường thủy giữa 2 thành phố này mất khoảng 2 giờ đồng hồ. Đi từ sông Tranh vượt qua Cửa Bạch Đằng để vào sông Hải Pḥng. Mỗi ngày có 2 chuyến sáng chiều đi từ Quảng Yên sang Hải Pḥng và 2 chuyến từ Hải Pḥng về. (Theo Sử Việt ghi chép th́ chính tại khúc Cửa Bạch Đằng này, ngày xưa danh tướng Ngô Quyền nước Đại Việt đă biết lợi dụng nước thủy triều lên xuống để đóng cừ to nhọn dưới ḷng sông, đánh thủy chiến với Hải thuyền quân Tầu sang xâm lăng nước ta. Chiến thuyền của quân Tầu to nặng, chiến thuyền của ta nhỏ nhẹ, nên Ngô quyền đă lợi dụng lúc nước thủy triều dâng cao, đưa chiến thuyền của ta gây chiến đánh cầm chừng nghiêng ngửa với địch, đợi đến giờ thủy triều bắt đầu rút xuống th́ giả bộ thua, quay thuyền bỏ chạy cho chiến thuyền quân Tầu rượt theo thật sâu vào phiá trong khu vực có đóng cừ. Lúc đó mới quay lại tiếp tục cuộc hải chiến, cầm cự cho đến lúc thủy triều xuống thấp th́ chiến thuyền của Tầu to nặng nên bị các cọc cừ đâm thủng đáy, nước tràn vào nhận ch́m thuyền bể tan, quân Tầu chết đuối. Trận thắng lớn lao này đă khiến cho quân Tầu khiếp đảm, một thời gian dài không dám mơ tưởng xâm lăng nước Việt nữa, nhờ thế dân ta đă có được sự yên b́nh thịnh trị để kiến thiết quốc gia. Từ ngày di chuyển về Quảng Yên, Đại đội của Tôi đă được cải danh thành Đại đội 4 Vệ binh Biên pḥng miền Đông Bắc Kỳ (4ème Compagnie de la Garde Frontalière de l’Est Tonkinois). Các văn pḥng làm việc của BCH Đại đội và các pḥng ngủ của Đại đội trưởng cũng như nhân viên, đều ở chung trong cùng một biệt thự ngay trong thị xă, xen lẫn giữa các nhà dân chúng. Các Trung đội trực thuộc đóng đồn tại 3 nơi cách xa thị xă khoàng từ 2 đến 5 cây số. Một Trung đội đóng trên bờ sông Tranh phía bên kia sông thuộc phạm vi đất làng Hà Nam Phong Cốc, cách thị xă khoảng 2 cây số. Một Trung đội đóng trong làng Yên Tŕ, cách thị xă khoảng hơn 1 cây số, về phiá Tây Bắc của dẫy đồi trên đó có trại lính rất lớn gồm những dẫy nhà gạch 2 tầng xây kiên cố từ thời Pháp thuộc, đang bỏ hoang v́ hư hại do bom thờ́ chiến tranh Nhật-Mỹ vào giữa năm 1945 gây ra. Một Trung đội tăng cường đóng đồn ở khoảng Ngă ba rẽ vào Uông Bí, cách thị xă khoảng 5 cây số, trên Quốc lộ 10 nối liền thị xă Quảng Yên và Hongay. Các phố chợ nhà ở và các công sở của thị xă được xây dựng ṿng quanh chân đồi ở các phiá Đông, Nam và Tây, ra sát tới bờ sông Tranh. Vào khoảng cuối năm 1952, thành lính trên đồi này được tu sửa để làm Trung tâm huấn luyện nhiều đợt hàng ngàn tân binh, và trang bị thành lập các Tiểu đoàn Khinh Binh cho Đệ Tam Quân Khu Quân đội Quốc gia Việt Nam. Một tháng sau khi Tôi trở về Đại đội, th́ Thiếu Úy Boulanger được thăng lên cấp Trung Úy, và nhận được lệnh ra Hongay thành lập Bộ Chỉ huy Liên đoàn Tự trị Vệ Binh Biên pḥng miền Đông Bắc Kỳ (Groupe Autonome de la Garde Frontalière de l’Est Tonkinois) để chỉ huy một số Đại đội Vệ Binh đang trấn giữ các vị trí an ninh ṿng bên Vịnh Hạ Long, tại Hongay, Cẩm Phả, Băi Cháy, và Quảng Yên. Tôi là một trong những người được ông đem theo để thành lập Bộ Tham mưu Liên đoàn, đóng trong một biệt thự to rộng ba tầng lầu nguyên thuộc sở Quan Thuế Pháp ngày xưa trên một đỉnh núi tại thị xă Hongay nh́n ra Vịnh Hạ Long. Làm việc tại Bộ Tham mưu mới này, Tôi thường xuyên phải đi theo làm thông dịch viên cho Liên đoàn trưởng trong những dịp thanh tra các Đại đội bằng thuyền buồm có động cơ, ngoài công việc hàng ngày là thư kư đánh máy (nhưng có nhiều văn thư thuộc loại Mật và Tối Mật được giao cho các Trung sĩ người Pháp đánh máy chứ không phải Tôi), nhật tu các hồ sơ quân số các Đại đội, và phụ trách việc tổng kết t́nh h́nh quân sự hàng đêm do các Đại đội gửi về tŕnh lên Liên đoàn trưởng y như Hạ sĩ quan thường vụ của Liên đoàn vậy. Ngoài ra Trung Úy Boulanger c̣n đưa cho Tôi những cuốn cẩm nang huấn luyện chỉ dẫn các trách vụ của Hạ sĩ quan thuộc Vệ Binh Pháp để t́m học. Nhờ vậy, Tôi mới thấy rằng quân đội cũng là một ngành nghề chuyên nghiệp quan trọng trong xă hội, làm Tôi thích thú, khác hẳn với mục đích ban đầu của Tôi là nhập ngũ để có cơ hội thoát khỏi thị xă Lạng Sơn miền thượng du, xuống Hà Nội phục vụ cho hết hạn kỳ t́nh nguyện 2 năm th́ giải ngũ để trở về đời sống dân sự, tiếp tục học các ngành nghề khác có lợi ích hơn cho xă hội và cuộc sống sau này của bản thân. Tại Hongay, các văn pḥng làm việc của Bộ Chỉ Huy Liên đoàn và nơi cư ngụ của Liên đoàn trưởng và các nhân viên thuộc Ban tham mưu và lính pḥng vệ BCH Liên đoàn, cũng đều ở trong cùng một biệt thự, thành ra tất cả cấp chỉ huy và nhân viên thuộc quyền đều thấy mặt nhau thường xuyên suốt ngày đêm. Hai tháng trôi qua, từ Hà Nội, một ông Đại Úy Vệ binh Pháp tên Fauvel mới ở Pháp sang, đến nhận trách nhiệm làm Liên đoàn trưởng thay thế Trung Úy Boulanger trở về làm Đại đội trưởng Đại đội 4 tại thị xă Quảng Yên như cũ. Tôi cảm thấy rất buồn v́ phải ở lại không được đi theo Trung Úy Boulanger, một vị chỉ huy trẻ trung vui tính lúc nào cũng tỏ ra rất nhân hậu phóng khoáng dân chủ, nên toàn thể nhân viên người Pháp cũng như Việt rất quư mến. Chắc là đă được Trung Úy Boulanger giới thiệu sao đó, nên Đại Úy Fauvel cư xử với Tôi cũng rất lịch thiệp y như cư xử với các Hạ sĩ quan người Pháp vậy. Ông này tuổi cỡ trên dưới 40, già hơn Trung Úy Boulanger cả chục tuổi, tính t́nh rất điềm đạm, tốt bạn và rất cởi mở b́nh dân, coi Tôi như con. Những lúc rảnh sau bữa cơm tối, ông thường hỏi truyện Tôi về Đạo Cao Đài, v́ ông đang nghiên cứu về Đạo này. Tôi thú nhận là có nghe nói tại tỉnh Tây Ninh gần thành phố Saigon, là nơi có Thánh Thất lớn của Đạo Cao Đài, và h́nh như Đạo này thờ cả Chúa Cứu Thế , Phật Thích Ca Mâu Ni, cùng nhiều Vị Thánh hiền danh nhân khác như Victor Hugo, Trần Hưng Đạo, Khổng Phu Tử…, và đặc biệt dùng h́nh ảnh tượng chưng cho Đạo bằng h́nh MỘT CON MẮT nằm trong h́nh tam giác cân, chớ không phải là h́nh CHỮ VẠN của Đạo Phật, hay THẬP TỰ GIÁ của Thiên Chuá Giáo, và Tôi cũng không biết rơ về nguồn gốc và Tôn chỉ của Đạo này ra sao. Đại Úy Fauvel đă đưa cho Tôi mượn cuốn Le Caodaisme để tham khảo t́m hiểu. Tôi làm việc dưới quyền Đại Úy Fauvel chưa được trọn tháng, th́ một buổi tối sau bữa cơm, ông gọi Tôi vào văn pḥng đưa cho một tờ Sự vụ lệnh (Ordre de mission) mà ông đă kư và do ai đánh máy chứ không phải Tôi, để sáng sớm mai lên đường có xe đưa đi Hà Nội. Tôi ngạc nhiên hỏi để làm ǵ, th́ ông ấy cười nói là: “Đại Tá Tư lệnh Lực lượng Vệ Binh Bắc Kỳ, gửi điện văn ra lệnh phải cho anh tŕnh diện Bộ Tư lệnh tại trại Ngọc Hà ở Hà Nội gấp, để đưa anh đi Huế nhập học khoá đào tạo Sĩ quan Việt Nam, theo quyết định của Bộ Quốc Pḥng Chính phủ Quốc gia Việt Nam.” Tôi sửng sốt và lo lắng nói: “Úi chà! học làm sĩ quan à, liệu Tôi đủ khả năng theo học không Đại Úy?” Ông ta cười vỗ vai Tôi nói: “Tôi mừng cho anh, tương lai của anh sáng sủa lắm, chịu khó cố gắng. Tôi tin rằng anh sẽ đạt được kết quả tốt.” Sáng hôm sau, xe đưa Tôi và một số nhân viên đi công tác tại Hà Nội rời Hongay, qua phà Băi Cháy (Tôi nhớ h́nh như Pháp gọi là Watchay) để đi theo Quốc lộ 10 về qua Quảng Yên, Núi Đèo sang Hải Pḥng đi Hà Nội. Nhưng khi xe tới thị xă Quảng Yên th́ trời đă xế chiều, nên phải ghé BCH Đại đội 4, nay đă di vào làng Yên Tŕ, để nghỉ qua đêm. Tôi cảm thấy rất thích thú có được dịp gặp lại Trung Úy Boulanger trước khi lên đường. Thầy tṛ cũ gặp nhau, tay bắt mặt mừng, và khi được Tôi tŕnh bầy lư do sự ra đi của Tôi, th́ thấy Trung Úy Boulanger không tỏ vẻ ngạc nhiên ǵ cả. Ông chậm răi chúc Tôi đi đường b́nh an may mắn và kết luận: “Tôi đă biết trước về sự việc này sẽ xẩy đến với anh, nhưng không ngờ lại nhanh như vậy. Khi nào tới nơi, nhớ biên thư về đây, Tôi sẽ gửi tiếp những tài liệu cần thiết khác giúp anh học thêm ngoài những ǵ nhà trường sẽ chỉ dạy.” Lúc đó Tôi mới hiểu ra rằng chính Trung Úy Boulanger là ân nhân đă đề nghị cho Tôi theo học khoá đào tạo sĩ quan này từ khi ông đang c̣n làm Liên đoàn trưởng, và do đó ông đă tạo môi trường khích lệ Tôi phải t́m học những điều cần am hiểu kỹ càng về quân đội trước khi đi học Khoá sĩ quan, mà Tôi không hề biết. Sáng hôm sau, chúng tôi rời Quảng Yên tiếp tục cuộc hành tŕnh, măi đến chiều tối xe mới tới Hậu Cứ của BCH Liên đoàn Vệ binh Biên pḥng miền Đông Bắc Kỳ, đóng trong khu gia binh gần vận động trường Ngọc Hà. Hôm đó là ngày Thứ Tư trong tuần, đến sáng Thứ Bẩy mới là ngày phải tŕnh diện Bộ Tư lệnh Vệ binh Bắc Kỳ để làm thủ tục. Lợi dụng cơ hội được hai ngày nghỉ xả hơi, Tôi đi thăm khu Văn Miếu, Đền Trấn Quốc bên cạnh Hồ Tây, Đền Ngọc Sơn giữa Hồ Hoàn Kiếm, và Chùa Một Cột, để cầu xin quư Vị Linh Thần Tiền Nhân của ḍng giống Tiên Rồng phù hộ cho Tôi gặp nhiều may mắn trong tương lai sự nghiệp của ḿnh. Sáng Thứ Bẩy, xe Hậu Cứ đưa Tôi (mang theo quân trang mới) đến tŕnh diện tại Trại Ngọc Hà, nơi hồi đầu năm Tôi theo học Khoá Peleton-1. Đến nơi, thấy khoảng hơn chục anh em cũng trạc tuổi hoặc hơn Tôi vài bốn tuổi, đă có mặt ở đó từ trước. Chỉ có 5 người quen là Trung sĩ (TS) Nguyễn Khắc Thăng, TS Đàm Quang Yêu, TS Nguyễn Bá Liêm và TS Lê văn Nhật. Hồi Tôi là Binh Nhất học Peleton-1 để ra Hạ sĩ, th́ các anh ấy đă là Hạ sĩ vừa tốt nghiệp Peleton-1 được lưu giữ ở lại học tiếp Peleton-2 để ra Trung sĩ. C̣n những người kia, biết được tên là nhờ xem tờ Sụ Vụ Lệnh do anh Thăng làm trưởng toán cầm giữ, đó là Binh Nh́ (B2) Bùi Đ́nh Đạm, B2 Nguyễn văn Thản, Hạ sĩ (HS) Đàm Quang Quảng, HS Đàm Quang Đột, HS Phạm văn Khái, HS Đỗ văn Tâm, HS Phan Huy Chương, HS Phạm Ngần, và Nguyễn văn Thành mang cấp bậc Hạ sĩ Nhất như Tôi, nhưng lớn hơn chúng tôi cả chục tuổi lận (sau này đang học mới được hơn tháng th́ anh ấy rời trường không học tiếp, không biết v́ lư do ǵ). Như vậy, tổng cộng nhóm chúng tôi gồm cả thầy 14 người, chia ra: 4 Trung sĩ, 2 Hạ sĩ Nhất, 6 Hạ sĩ, và 2 Binh Nh́. Đến khoảng 9 giờ, tât cả chúng tôi được một Thượng sĩ Pháp đến mời lên xe để di chuyển qua cầu Long Biên sang phi trường Gia Lâm. Chúng tôi biết ngay là đi bằng máy bay Hàng không dân sự, v́ nếu đi máy bay quân sự th́ phải tới phi trường Bạch Mai ngay gần Ngă Tư Vọng. Vào tới phi trường Gia Lâm, mọi người được hướng dẫn vào làm thủ tục ghi danh, cân hành lư đi máy bay của hăng SITA, loại máy bay hai cánh quạt, cửa cho hành khách lên xuống được mở ra ở phía đầu phi cơ, ngay phiá bên dưới pḥng lái của phi hành đoàn. Đi chung phi cơ với chúng tôi là khoảng 20 hành khách dân sự. Làm xong thủ tục, chúng tôi được dẫn vào pḥng đợi giờ lên phi cơ, th́ Đại Tá Tư lệnh Vệ Binh Bắc Kỳ và Đại úy Fauvel Liên đoàn trưởng Vệ Binh Biên pḥng miền Đông Bắc Kỳ bước vào thăm hỏi bắt tay chúng tôi. Họ chúc chúng tôi đi đường b́nh an, giữ ǵn sức khoẻ cho tốt, và nhất là chăm chỉ học hành đạt kết quả tốt, để sau này về chỉ huy các đơn vị Vệ Binh. Sau khoảng hơn một giờ bay cao tít trên các tầng mây, máy bay bắt đầu hạ cao độ lượn ṿng đáp xuống phi trường Phú Bài gần Huế. Đây là một phi trường dùng chung cho cả máy bay quân sự và dân sự, nằm dài trên dải đất giữa Biển Đông và dẫy Trường Sơn trùng điệp cao vút rậm rạp cây rừng. Trung úy An thuộc Bộ chỉ huy Lực lượng Việt Binh Đoàn (do Đại úy Nguyễn Ngọc Lễ chỉ huy, về sau các đơn vị Việt Binh Đoàn được cải biến thành các Tiều đoàn Bộ binh Quân đội Quốc gia Việt Nam, đến thời Đệ Nhất Cộng Hoà ông Lễ đă được Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cất nhắc thăng cho lên đến cấp Trung Tướng) đợi đón chúng tôi và hướng dẫn về Trường. Trung Úy An là sĩ quan phụ trách về hành chánh và tiếp vận của Lực lượng Việt Binh Đoàn. Xe chở chúng tôi rời phi trường chạy trên quốc lộ song hành với đường xe lửa xuyên Việt, được khoảng mấy chục cây số th́ qua gần bên chân núi Ngự B́nh (nơi có Trường huấn luyện Hạ sĩ quan cho Lực lượng Việt Binh Đoàn, có ga xe lửa An Cựu, có doanh trại của đơn vị Thiếp giáp Pháp), qua chợ An Cựu, qua thêm một quăng đồng trống th́ bắt đầu vào Khu Pháp (quartier francais) bên tả ngạn sông Hương của Thị xă Huế. Xe đến đầu cầu Tràng Tiền rẽ phải theo con đường Lê Lợi đi về phía Đập Đá trên đường đi Phú Vang chớ không qua cầu, được chừng mấy trăm thước th́ đến Trường. Trường là một biệt thự rộng ngang 400 mét và sâu khoảng 200 mét, nằm bên phiá trái đường sát bên bờ sông Hương, đối diện với chợ Đông Ba phía bên kia sông. Suốt mặt tiền Trường sát ngay bên lề phố là một dẫy tường gạch cao 2 mét, ở khoảng giữa có một cổng rộng chừng 8 mét, phiá trên gắn bảng hiệu h́nh ṿng cung sơn mầu xanh lá cây, trên kẻ chữ mầu vàng “ECOLE DES OFFICIERS VIETNAMIENS”. Hông bên trái Trường hướng Tây sát với các nhà dân, được ngăn bằng một hàng rào kẽm gai cao 2 mét đan ô vuông dầy 20 phân, từ lề đường phố thẳng tuốt xuống tận bờ sông Hương, và có một cổng phụ cho xe hơi tiếp vận ra vào Trường. Hông bên phải hướng Đông có một dẫy tường đá dầy 40 phân, cao hơn 1 mét để ngăn cách với biệt thự kế bên cũng rất rộng đang bỏ trống không người ở. Sau này vào năm 1951, khi đào tạo xong 2 khoá đầu tiên: Khoá 1 (Bảo Đại, đến thời Đệ Nhất Cộng Hoà đổi tên là Phan Bội Châu) và Khoá 2 (Quang Trung) th́ Trường di chuyển vào Đà Lạt, cải danh thành Trường Vơ Vị Liên Quân Đà Lạt (EMIAD=École Militaire Inter Armes DaLat), đến thời Đệ Nhất Cộng Hoà Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cho xây cất cơ sở Trường mới gần Hồ Than Thở và cải danh thành Truờng Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam. Tính từ cuối năm 1948 cho đến 30-4-1975 Trường đă đào tạo cả thẩy được 31 Khoá cung cấp nhiều ngàn Thiếu Úy cho Quân đội. H́nh như, sau khi Trường Sĩ Quan Việt Nam bên bờ sông Hương rời về Đà lạt, cơ sở cũ này được phá đi cùng với biệt thự bên cạnh để xây cất Trường Vơ bị Địa Phương (École Militaire Régionale) thuộc Quân Khu 2, làm nơi đào tạo các Chuẩn Úy (Aspirant) đáp ứng cho nhu cầu bành trướng của Quân đội. Mấy năm sau, Trường Vơ bị Địa phương giải tán, cơ sở này được giao cho Quân Vụ Thị Trấn Huế quản trị dùng làm Câu Lạc Bộ và nhà văng lai cho Sĩ quan độc thân. Sau trận Việt Cộng tấn công chiếm Huế vào dịp Tết Mậu Thân 1968, Tôi được Tổng Tham mưu trưởng Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị dẫn đoàn Tổng thanh tra Quân đội ra quan sát duyệt xét t́nh trạng Quân Y Viện nằm trong thành Mang Cá kế bên Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh (lúc đó do Đại Tá Ngô Quang Trưởng làm Tư lệnh), nên đă có dịp cư trú trong Câu lạc bộ Sĩ quan này bên cạnh bờ sông Hương, ngay trên địa điểm Trường cũ của Tôi. Bước qua ngưỡng cổng chính của Trường vào trong, ngay bên phiá trái là một sân tập họp thật rộng, có dựng một cột cao treo cờ Quốc gia Việt Nam (nền vàng 3 sọc đỏ). Tiếp đến là một ngôi nhà ngói khoảng 400 mét vuông, dùng làm trụ sở của Ban Giám Đốc Trường gồm văn pḥng Trung Tá Chaix Chỉ huy trưởng, văn pḥng Đại Úy Joly Giám đốc Huấn luyện, các văn pḥng của các sĩ quan Huấn luyện viên kiêm Trung đội trưởng Khoá sinh, và các Hạ sĩ quan phụ tá (moniteur). Phiá bên phải, sau cổng vào là Trạm kiểm soát gồm văn pḥng Sĩ quan trực nhật, Pḥng Y tế, và nơi ngủ của các lính canh pḥng doanh trại. Kế đến là một dẫy nhà dài khoảng 50 mét, rộng 8 mét, dùng làm pḥng ăn tập thể cho khoá sinh, đồng thời cũng dùng làm Giảng Đường lớn khi phải tập trung toàn Khoá. Ngay sau lưng Trạm kiểm soát và Nhà Ăn tập thể, có 3 dẫy nhà khác nhỏ và ngắn hơn, dùng làm pḥng học và sinh hoạt riêng cho từng Trung đội Khoá sinh. Tất cả các dẫy nhà đều lợp mái bằng gốc dạ rất dầy, tường chung quanh là liếp nứa đan. Mỗi nhà chỉ có 2 cửa ra vào tại 2 đầu nhà, dọc hai bên nhà là 2 dẫy cửa sổ rộng có cánh liếp nâng lên hạ xuống được để thông thoáng gió và cho ánh sáng lọt vào nhà những khi không bật đèn. Bên trong Nhà Ăn, ngoài lối đi rộng hơn 1 mét ở chính giữa, suốt chiều dài của nhà có kê 2 dẫy bàn dài bề ngang 1 mét với những dẫy ghế dài không lưng tựa dọc 2 bên để làm bàn ăn, và bàn viết khi cả khoá tập trung nghe các giảng viên ngoài đến thuyết tŕnh. Đến giờ ăn, các Trung đội tập họp ngoài sân rồi lần lượt theo nhau vào kiếm chỗ ngồi ăn 4 người một mâm. Cơm và thức ăn đă được nhân viên nhà bếp (do nhà thầu tư nhân đảm trách) đă bầy sẵn từng mâm có lồng bàn đậy cản ruồi trên các bàn. Thức ăn hàng bữa gồm 3 món (xào, mặn, và canh), nấu theo khẩu vị người Trung, và thường là hơi ít không đủ no. Bữa điểm tâm nào cũng là xôi đậu (ăn xường xượng như có lẫn gạo tẻ) chấm muối mè có bỏ thêm chút đường cát trắng. Đa số anh em thường phải ăn quà thêm, bún ḅ, cháo huyết, bánh ḿ cặp thịt, mua của các gia đ́nh tư nhân ở sát hàng rào bên hông Trường, hoặc bánh xèo “Mụ Béo” ngay bên kia đường trước cổng Trường, bán cho ăn chịu ghi sổ cuối tháng lănh lương mới trả. Bên trong Nhà Học riêng của từng Trung đội Khoá sinh được trang trí y như trong một lớp dành cho các học tṛ Trung học vậy. Suốt bề dài căn nhà, kê 2 dẫy bàn học tṛ, loại bàn liền ghế cho 2 người ngồi chung. Nơi đầu pḥng có một bảng đen lớn và một bàn viết và ghế dành riêng cho Huấn luyện viên đến sinh hoạt với khoá sinh. Phiá trong cùng của khu đất, song song dọc bờ sông Hương, có 2 dẫy nhà dài nối tiếp nhau dùng làm Nhà Ngủ cho Khoá sinh. Nhà xây tường gạch, mái lợp ngói, bề cao từ nền đến nóc khoảng 7 mét, không có lớp trần che cản sức nóng từ nóc nhà phả xuống, nên mùa Hè rất nóng và ngược lại mùa Đông rất lạnh. Dẫy phía bên trái được ngăn đôi, một nửa dùng làm kho và pḥng ngủ của Thượng Sĩ Nhất Lục Sĩ Mẫn, Hạ sĩ quan phụ trách Thường Vụ (service général) của Trường, c̣n nửa kia dành làm pḥng ngủ chung cho Khoá sinh thuộc Trung đội 1 (người từ miền Nam ra). Dẫy bên phải, nửa bên trái dành cho Khoá sinh thuộc Trung đội 2 (người miền Trung), và nửa bên phải dành cho Khoá sinh thuộc Trung đội 3 là chúng tôi từ miền Bắc vào. Dọc theo chiều dài Nhà Ngủ, kê 2 dẫy giường cá nhân bằng gỗ, có cọc khung gỗ để giăng mùng chống muỗi riêng cho mỗi giường. Giường được kê từng cặp sát nhau, một đầu sát tường. Giữa mỗi cặp giường để chừa một khoảng cách 1 mét để hai người ngồi đối diện không dụng đầu gối chân của nhau. Mỗi giường có một chiếu bằng cói, và một nệm nằm nhồi cỏ khô và bông g̣n, có thể gập đôi lại được. Ban ngày, mùng phải tháo ra khỏi khung gập lại xếp ngăn nắp cùng với gối và mền, để phiá đầu giường sát tường, rồi gập đôi nệm đè lên sao cho thật vuông vắn đẹp mắt. Vali và túi đựng quần áo và tư trang riêng phải để gọn gàng dưới gầm giường phía sát tường. Quần áo cá nhân cần giặt ủi, phải tập trung đưa nhà thầu nhận giao hàng ngày, hoặc tự mang ra các tiểm giặt ủi tư nhân ngay 2 bên đường phố cạnh Trường. Tại một góc tường bên gần cửa ra vào nơi đầu nhà, có một giá gỗ để gác súng của Trung đội Khoá sinh. Mỗi Khoá sinh được cấp một khầu súng trường Garant riêng, để ǵn giữ lau chùi và xử dụng trong việc tập luyện thao tác cơ bản, duyệt binh, tác chiến, và tập bắn. Loại súng này hơi dài và nặng đối với những người có h́nh vóc nhỏ thó, nhưng bắn lại đầm không giật hậu mạnh như các loại Mousqueton và Mas 36, nên trong các kỳ thi bắn dễ đạt được điểm trúng bia rất cao. Từ đầu Nhà Ngủ của chúng tôi ra đến bờ sông Hương có một con đường đất rộng khoảng 5 mét. Cuối đường là một sàn gỗ dài rộng khoảng 25 mét vuông, cao hơn mặt nước sông chừng 30 phân, dùng làm Cầu Bến Tắm Giặt cho khoá sinh. Bên phải con đường xuống Cầu Bến Tắm là Nhà Bếp. Đặc biệt nước sông Hương trong vắt có thể nh́n suốt tận đáy, ban đêm nhiều thuyển nhỏ đốt đuốc soi sáng nơi đầu thuyền, bơi dọc ven sông để người ngồi trên dùng cây chĩa đôi bằng sắt đâm xuống nước để bắt cá. Chúng tôi đến Trường đúng vào trưa ngày Thứ Bẩy nghỉ, tất cả Khoá sinh nhập Trường trước chúng tôi đều đi dạo phố hoặc về thăm gia đ́nh, nên Trường vắng tanh. Tuy nhiên nhà thầu đă được thông báo trước, nên đă chuẩn bị sẵn sàng cơm bữa cho chúng tôi dùng không phải ra phố. Vừa ổn định chỗ nằm xong, anh Tôn Thất Tương (khoá sinh người miền Trung) đang thi hành trách vụ Sĩ quan Trực Nhật ghé vào thăm làm quen với chúng tôi. Anh Tương tự giới thiệu ḿnh là người thuộc Hoàng Tộc, nên có nhà ở ngay bên cạnh Viện Bảo Tàng của Triều đ́nh nhà Nguyễn trong Cung Nội. Anh rủ chúng tôi muốn đi xem, sáng sớm hôm sau là Chủ Nhật, anh ấy sẽ đến đón và dẫn đi coi. Các anh Liêm, Yêu, Nhật, Thản, Đột, Tâm và Tôi nhận lời nhờ anh Tương hướng dẫn. Sáng hôm sau, anh Tương đến dẫn chúng tôi ra khỏi Trường, qua cầu Tràng Tiền, đổ xuống khoảng giữa đường Trần Hưng Đạo, rẽ trái đến Cửa Thượng Tứ để vào Thành Nội. Trước nhất, anh Tương dẫn chúng tôi vào giới thiệu với bà xă, sau đó đi thăm Viện Bảo Tàng (nơi lưu giữ chiếc ngai vàng để Vua ngồi, áo Cẩm Bào, Vương miện, và nhiều đồ quư khác bằng ngọc thạch hoặc vàng). Tiếp đó là Lầu Kiến Chung gần cửa Hoà B́nh (nơi Vua ngồi kư các Chiếu Chỉ, Sắc lệnh), rồi đến Điện Thái Hoà (nơi họp Đại Triều), sân trưng bầy Cửu Đỉnh (chín chiếc lư hương thật to cao hơn đầu người đúc bằng đồng), các Khẩu Thần Công, Kỳ Đài, Ngọ Môn Quan (chỉ mở để đón tiếp Sứ Thần các nước tới yết kiến Vua), Hồ Tĩnh Tâm gần thành Măng Cá. Thăm Thành Nội xong, chúng tôi trở ra phiá Cửa Thượng Tứ, rẽ phải đi dọc theo con đường Nguyễn Hoàng, đến khoảng trước Ngọ Môn Quan băng qua đường để xem Phú Văn Lâu sát bên bờ sông Hương và Bến Trương Bạc. Tít xa, tận cùng đường Nguyễn Hoàng là cầu Bạch Hổ bằng sắt bắc ngang sông Hương, và Tháp Chùa Thiên Mụ. Quay trở lại đầu cầu Tràng Tiên đi hết con đường Trần Hưng Đạo là Chợ Đông Ba, và Cầu Gia Hội (bên kia cầu có một nhà hàng cơm Tầu rất được khách sành ăn hâm mộ). Phiá sau và bên hông Chợ Đông Ba là bờ sông dầy đặc thuyền làm nhà ở, nhiều chiếc trong số này cho thuê để khách làng chơi ngày đêm xuống ăn nhậu mua vui nghe các ca nhạc sĩ cổ nhạc Ḥ Huế… Nh́n qua bên kia bờ sông, thấy 2 dẫy Nhà Ngủ của Khoá sinh chúng tôi và Nhà Bếp nằm dài tiếp nối nhau suốt bề ngang khu đất Trường, và chiếc Cầu Bến Tắm. Nh́n xuôi sang phiá trái thêm khoảng nữa là Đập Đá, và ngoài xa xa thấy Cồn Hến nổi lên bập bềnh cản ḍng chẩy của sông Hương. Sáng Thứ Hai, tất cả mọi người tập họp ngồi chặt Nhà Ăn để làm thủ tục Khai giảng Khoá học. Lúc đó được coi là giây phút đầu tiên anh em toàn khoá thấy mặt nhau đầy đủ. Anh em Trung đội 3 chúng tôi có sĩ số ít nhất (chỉ có 14 người so với 2 Trung đội kia là 21 hoặc 22), số tuổi trung b́nh cũng trẻ nhất, và cấp bậc cũng nhỏ hơn các anh trong các Trung đội 1 và 2 toàn là Trung sĩ Nhất, Thượng sĩ và Thượng sĩ Nhất thâm niên. Có điều đặc biệt đáng chú ư là, quân phục của anh em không đồng nhất, v́ được tập trung từ nhiều loại đơn vị có nguồn gốc khác nhau trên toàn quốc. Trước khi buổi lễ chính thức bắt đầu, Đại Úy Joly Giám đốc Huấn luyện giới thiệu các Sĩ quan Huấn luyện viên kiêm Trung đội trưởng Khoá sinh, và các Hạ sĩ quan phụ tá (moniteur) của từng Trung đội. Trung Úy Scuanec và HSQ moniteur (không nhớ tên) phụ trách Trung đôi 1 gồm toàn người từ miền Nam ra. Trung Úy Peledieu và Adjudant Chef DO phụ trách Trung đội 2 gồm anh em thuộc miền Trung. Và người phụ trách Trung đội 3 chúng tôi là Trung Úy Besson và Sergent Kervenic (cả Trung Úy Besson và Trung sĩ Kervenic đều c̣n rất trẻ, tính t́nh rất hiền lành và tốt bạn, không như Thượng sĩ Nhất DO lúc nào cũng tỏ ra quan trọng và nghiêm khắc hết mức). Buổi lễ khai mạc khoá rất đơn giản, không có khách bên ngoài tham dự. Chỉ có một ḿnh Trung Tá Chaix Chỉ huy trưởng vào ra mắt chào mừng chúng tôi, và nhắn nhủ mấy điểm chính yếu sau: 1.- V́ phần lớn đă là Hạ Sĩ Quan thâm niên có nhiều kinh nghiệm trong các hoạt động quân đội, nên một phần Chương tŕnh của Khoá học được cắt bỏ bớt, do đó thời gian Khoá học sẽ ngắn hơn dự liệu khoảng 6 tháng. 2.- Kể từ ngày nhập Trường, ai chưa là Hạ sĩ Quan sẽ được thăng cấp Trung sĩ và lănh lương hàng tháng theo cấp bậc này, những người khác có cấp bậc cao hơn tiếp tục lănh lương theo cấp bậc hiện tại của ḿnh. 3.- Mọi người phải cố gắng học hành để đạt kết quả tốt, nhằm cung ứng nhu cầu Sĩ quan cho các đơn vị thuộc Quân đội Quốc gia Việt Nam sẽ bắt đầu thành lập vào năm 1949. Các Sĩ quan Huấn luyện viên toàn là những người tốt nghiệp từ Trường Vơ Bị Saint Cyr của Lục quân Pháp, sẽ giúp đỡ hướng dẫn các bạn học hành được dễ dàng, nếu có điều ǵ cảm thấy chưa thông hiểu rơ ràng cặn kẽ th́ đừng ngại ngùng tham vấn quư vị ấy giúp đỡ bổ túc cho. 4.- Nhà trường sẽ cung cấp ngay cho mọi người có đồng phục mới, để cho được đồng nhất, và cũng kể từ hôm nay không ai mang cấp bậc cũ của ḿnh nữa. Mọi người sẽ mang trên cầu vai áo huy hiệu Sinh Viên Sĩ Quan (kư hiệu Alpha bằng đồng mầu vàng gắn trên coulissant dạ (nỉ) mầu đen), đội calot nỉ đen, trên đỉnh mầu vàng và 2 bên cạnh viền chỉ kim tuyến. Như vậy mọi người sẽ nhận biết rơ ràng các bạn đang là Sinh viên của Trường đào tạo Sĩ quan Việt Nam, do đó các bạn phải giữ ǵn phong thái tư cách cho thật đàng hoàng, đừng làm ǵ tổn hại đến thanh danh cá nhân và Nhà Trường. Đồng phục làm việc thường của chúng tôi là đồ short vải kaki vàng. Quần ống ngắn tới đầu gối, áo sơmi ngắn tay cổ bẻ, giầy da thấp cồ mầu nâu xậm, và tất (vớ) len dài tới dưới đầu gối cùng mầu với quần áo. Đồng phục dạo phố cũng bằng kaki, quần dài, áo sơmi dài tay với 2 túi ngực có nắp, cổ thắt cà vạt nỉ mỏng mầu ô-liu. Vào mùa Đông dùng quần áo dạ mầu ô-liu xậm (áo blouson). Mũ calô nỉ đen, đỉnh vàng, 2 bên viền kim tuyến, được dùng chung cho tất cả các loại đồng phục. Quần áo lănh về có người mặc không vừa phải thuê sửa lại. Những bạn dư giả tiền thích mặc quần áo đẹp, th́ đến các tiệm may ngoài phố đặt cắt may bằng những hàng vải kaki đẹp đắt tiền để chưng diện lúc ra đường cho được vừa ư. Có điều làm chúng tôi rất hănh diện là, từ ngày chúng tôi mặc đồng phục mang cầu vai Alpha ra đường, mọi Hạ sĩ quan và Binh sĩ gặp chúng tôi, họ đều chào kính chúng tôi đúng theo cung cách chào kính Sĩ quan vậy. Một tuần lễ sau ngày khai giảng khoá học, có thêm 6 khoá sinh đến tŕnh diện. Ban Giám đốc bổ sung vào Trung đội 3 chúng tôi. Các bạn ấy là Nguyễn Hữu Có, Cao Hoàng Phiên (người miền Nam), Tôn Thất Đính, Lê Huy Luyện (người miền Trung), và Trần Thượng Phương, Khoái (Tôi không nhớ Họ, người miền Bắc). Anh Phương nguyên là Thượng sĩ Lính Khố Xanh (Garde Indigène) thời Pháp thuộc, tuổi đời cao hơn chúng tôi khoảng hai chục, là thân phụ của Trần Đ́nh Thọ sau này cũng theo học Trường Vơ bị Đà Lạt, và trước 30-4-1975 Trần Đ́nh Thọ đă được thăng lên đến Chuẩn Tướng làm Trưởng Pḥng 3 Bộ Tổng Tham Mưu. Thế là tổng số Khoá sinh tăng lên 64 người. Nhưng ngày măn khoá chỉ có 63 người, v́ anh Thành già thuộc Trung đội chúng tôi bỏ học nửa chừng. Các môn học về tổ chức quân đội, lịch sử quân đội, lănh đạo chỉ huy, kỹ thuật tác chiến, lệnh hành quân, chức năng tổng quát quân vụ, xử dụng Liên binh, thể dục quân sự (EPM=Éducation Phisique Militaire), các trận Đại chiến Thế giới… đều do các Huấn luyện viên cơ hữu của Trường đảm trách giảng dạy. C̣n các môn chuyên nghiệp khác như trách vụ các Pḥng tham mưu, Hành chánh Tài chánh, Quân Nhu, Quân Cụ, Truyền Tin, Pháo binh, Công binh, Thông vận binh, Thiết giáp, Quân cảnh, Quân bưu, Hải quân, Không quân… đều do các Sĩ quan chỉ huy thuộc các ngành liên hệ được Ban Giám đốc trường mời đến thuyết giảng và khảo hạch. Chương tŕnh học của chúng tôi gồm toàn các môn thuộc lănh vực quân sự, không có chút nào thuộc lănh vực bổ túc văn hoá tổng quát. Thời biểu học hàng ngày thường là buổi sáng học ngoài đồng, buổi chiều trong chu vi Nhà Trường. Băi tập thường xuyên hàng ngày là sân vận động Huế và các vùng phụ cận như: Xóm Mới, khu quán Cơm Âm Phủ, Chợ Cống. Thời gian học thực hành tác chiến trong thành phố th́ vào Thành Nội, tại vùng quanh sân bay, Hồ Tĩnh Tâm và khu thành Măng Cá. Khi học các chương tŕnh hành quân băng đồng, lục soát làng xóm, bảo vệ xa lộ và thiết lộ, th́ xuống vùng quanh chân núi Ngự B́nh từ Ga An Cựu xuống tới phi trường Phú Bài. Băi tập luyện bắn và thi bắn các loại súng, nằm sát ngay bên Trung tâm huấn luyện Hạ sĩ quan Việt Binh Đoàn tại chân núi Ngự B́nh. Ngày 21-1-1949 là Tết Nguyên Đán năm Kỷ Sửu, Trường đóng cửa 1 tuần lễ, các bạn người miền Trung về nhà xum họp ăn Tết với gia đ́nh, các bạn người Nam và chúng tôi ở lại Trường ăn Tết với nhau. Trong thời gian rảnh rỗi này, mỗi người tùy theo túí tiền và sở thích, đi xem Chiếu bóng, Hát Bộ miền Trung, thưởng thức các món ăn tại các nhà hàng cơm Tây, cơm Tầu, cơm miền Trung, thuê thuyền thả trôi giữa ḍng Hương giang ăn nhậu nghe ca hát, hoặc đi các Chùa, Nhà Thờ cầu nguyện và ngắm người ta ăn diện quần áo mới, chứ không dạo phố v́ các tiệm buôn bán và Chợ đều đóng cửa ăn Tết. Nhân dịp đầu Xuân, Tôi đă cảm hứng mấy vần thơ kỷ niệm sau đây:
XUÂN NHẬP CUỘC Mưa Xuân bàng bạc phủ ḍng Hương, Gió thoảng êm êm vuốt mái trường. Vạn xác pháo tan hoà tiếng chúc, Sáu ba (63) hiền họp kết t́nh thương. Bên nhau thề quyết nung rèn chí, Tốt nghiệp chung lưng giữ mối giềng. Học hiệu Liên quân mừng đón Tết, Tương lai hứa hẹn rạng như gương./.
Vào giai đoạn chót của Khoá học trước khi măn khoá, chúng tôi được đem đi “Thử Lửa” (Baptem au feu) bằng 2 đợt. Vào cuối tháng 4-1949, cả khoá tập thiết kế và thực hiện cuộc hành quân cấp Đại đội, đánh chiếm “làng cùi” (không người ở) trong vùng núi Bạch Mă, có Thiết vận xa trang bị Đại Liên 50, Súng Cối 81 ly tháp tùng, Pháo binh 105 tại Phi trường Phú Bài, và phi cơ khu trục từ Đà Nẵng ra, bắn đạn thật yểm trợ tại chiến trường theo yêu cầu. Qua đầu tháng 5-1949, cả khoá lại được đưa đi quan sát mặt trận do Bộ chỉ huy Khu quân sự Pháp tại Huế khai triển cuộc hành quân đánh chiếm Chiến khu Lương Miêu của Việt Cộng. Chúng tôi được chia ra thành nhiều toán, ngồi trên các xe lội nước (amphibie) xuất phát từ cầu Bạch Hổ lội ngược ḍng sông Hương lên phía thượng nguồn đến tận khu vực xa hơn Lăng Gia Long. Đến khu vực hành quân, chúng tôi rời xe lội nước lên bờ thăm Bộ chỉ huy hành quân đóng trong các lều vải trên sườn đồi kế cận bờ sông, để nghe thuyết tŕnh về t́nh h́nh diễn tiến của mặt trận. Sau đó, băng rừng đi thăm các đơn vị đang giáp chiến, đến chiều tối mới lên tầu chuyển vận trên sông trở về Trường. Để chuẩn bị cho lễ măn khoá, Ban Giám đốc trường đưa nhà thầu may quân phục vào đo cắt may cho chúng tôi mỗi người một bộ Đại Lễ bằng kaki (quần dài, áo bốn túi), một cặp cầu vai nỉ đen trên có gắn kư hiệu Alpha vàng phiá đầu vai, cờ Việt Nam ở chính giữa, và nút mạ vàng khắc con rồng nổi ở đầu cầu vai nơi sát cổ áo. Một nhà mát mái lợp dạ, ba bề vách lửng bằng cót cao hơn 1 mét, được dựng lên sát tường chiếm hết phần ba sân tập họp bên cột cờ, để làm khán đài kê ghế dành cho quan khách đến dự lễ. Giữa tháng 5-1949, Lễ Măn Khoá được tổ chức đưới sự chủ toạ của Quốc Trưởng Bảo Đại, với khoảng 100 quan khách Việt Pháp tham dự (trong đó có một số thân nhân của các bạn người miền Trung). Chương tŕnh diễn tiến như sau: Nghi thức quân cách đón chào Chủ toạ, Lễ thượng Quốc Kỳ Việt Nam (không có cờ Pháp), Khoá sinh đồng ca bản Quốc Ca Việt Nam (Tiếng gọi Công dân), Nhạc Tưởng niệm Tử Sĩ (ban quân nhạc Việt Binh Đoàn hoà tấu), Trung Tá Chaix Chỉ huy trưởng Trường đọc Diễn văn phúc tŕnh tổng lược kết quả diễn tiến chưong tŕnh huấn luyện và trỉnh diện Khoá sinh, Thủ Khoa là anh Nguyễn Hữu Có bước ra đứng trước toàn khoá đang xếp 2 hàng ngang trước khán đài, hô to: “À genous les hommes!” (Quỳ xuống các người!). Mọi người cùng quỳ đầu gối phải xuống đất, chắp 2 tay lên đầu gối trái chờ lệnh, và anh Có cũng quỳ xuống tại chỗ. Trung Tá Chaix đến gần ghế ngồi của Chủ tọa (nói ǵ và Chủ tọa nói ǵ, ở xa không nghe được) sau đó quay ra nói lớn bằng tiếng Pháp, đại ư: “Hoàng Thượng chiếu chỉ đặt tên cho khoá là KHOÁ BẢO ĐẠI”, rồi hướng dẫn Chủ tọa ra sân gắn cầu vai Alpha lên 2 bên vai áo cho Thủ Khoa Có. Trong khi đó th́ 2 hàng Khoá sinh quay mặt đối diện nhau và người nọ gắn cầu vai Alpha lên vai áo cho người kia. Thủ tục gắn cầu vai Alpha xong th́ Chủ tọa trở về đứng trước ghế Danh dự của ḿnh, Thủ Khoa Có đọc lời tuyên thệ bằng tiếng Pháp, đại ư: “Chúng tôi xin thề, Trung thành với Tổ quốc Việt Nam, Quyết hy sinh để bảo vệ nền Độc lập Thống nhất của đất nước và dân tộc Việt Nam trường tồn cường thịnh, Luôn luôn nêu gương bảo vệ Danh dự của một cấp chỉ huy”. Toàn thể Khoá sinh cùng đưa thẳng tay phải ra trước mặt và đồng thanh đáp lời: “Je le jure!” (Tôi xin thề!). Chủ tọa lên tiếng chấp nhận lời thề và đưa tay ra dấu cho mọi người đứng lên. Thủ Khoa Có đứng lên hô lớn: “Debout les Officiers!” (Đứng lên các Sĩ quan!). Mọi người đứng thẳng lên giữa những tràng pháo tay mừng vang dạy ṛn ră của toàn thể Quan Khách. Tiếp ngay lúc đó, Trung Tá Chaix Chỉ huy trưởng Trường lại mời Chủ tọa ra trao cho Thủ Khoa Có cây kiếm và chiếc cung cùng với bao mang 4 mũi tên, rồi hướng dẫn Chủ tọa trở về ghế ngồi. Thủ Khoa Có đứng nghiêm rút kiếm ra khỏi vỏ làm động tác chào kính xong tra kiếm trở lại vỏ, rồi cầm cây cung lần lượt quay sang bốn hướng bắn 4 mũi tên đi, để biểu tượng cho ư chí “tang bồng hồ thỉ” của người Chiến sĩ quyết tâm đi khắp bốn phương trời để thi hành nhiệm vụ của ḿnh. Buổi lễ Măn Khoá được kết thúc bằng 2 nhạc khúc “Chiến sĩ anh hùng” và “Bạch Đằng Giang” do anh em Trung đội 3 chúng tôi hợp ca 3 giọng với sự đệm đàn của anh Tôn Thất Đính, và 3 hoạt cảnh diễn tả câu truyện lịch sử “Trận Đống Đa” do quân Quang Trung chiến thắng quân Tầu vào dịp Tết Nguyên Đán tại Thành Thăng Long, do anh em các Trung đội 1 và 2 phối hợp thực hiện. Thế là trang đầu tiên của cuốn nhật kư đời binh nghiệp đă được mở ra cho toàn thể Sinh viên Sĩ quan Khoá 1 (Bảo Đại) Trường Sĩ quan Việt Nam. Nhưng có một điều thắc mắc lớn khiến mọi người phải suy nghĩ, mừng lo lẫn lộn ngay sau khi dự Lễ Măn Khoá là, ai được được chấm đậu lên Thiếu Úy, ai không? ngoại trừ anh Nguyễn Hữu Có Thủ Khoa, v́ Nhà Trường không tuyên bố kết quả xếp hạng ra Trường. Mọi người rời Trường với kư hiệu Alpha không phải là cấp bậc được quy định trong quân đội lúc bấy giờ, tiếp tục lănh lương theo cấp bậc cũ của ḿnh, và Sự vụ lệnh rời Trường trở về đơn vị cũ ghi là Élève Officier X… Phải đợi đến 2 tuần lễ sau hết phép măn khoá tŕnh diện đơn vị, mới có thể biết ḿnh được thăng cấp Thiếu Úy hay không. Cá nhân Tôi, sáng 1-6-1949 đến tŕnh diện Bộ Tư lệnh Vệ Binh Bắc Kỳ, th́ nhận được Sự vụ lệnh đến tŕnh diện Tiểu đoàn 2 Việt Nam mới thành lập, doanh trại đóng tại Thành Lính Khố Xanh (Garde Indigène) của Pháp cũ trên đường Đồng Khánh (sau này chính quyền Việt Cộng đổi là đường Hàng Bài) đối diện với rạp chiếu bóng Majestic. Đến nơi Tôi gặp các anh Nguyễn Khắc Thăng, Bùi Đ́nh Đạm, Lê văn Nhật, Đàm Quang Yêu, và Trần Thượng Phương cũng được bổ nhiệm về Tiểu đoàn này. Thiếu Tá Vũ văn Thụ Tiểu đoàn trưởng (về sau có thời gian được thăng đến cấp Đại Tá Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu Miền Bắc của Quân đội Quốc gia Việt Nam tại Hà Nội, État Major Nord Vietnam) tiếp chúng tôi trong văn pḥng, với sự hiện diện của các Đại đội trưởng: Đại Uư Phạm văn Cảm (ĐĐ1), Đại Úy Nguyễn văn Yến (ĐĐ3), và Trung Uư Phạm Ngọc Thuyên (ĐĐ Chỉ huy). Các Vị này đều lớn tuổi cỡ trên 40, nguyên gốc thuộc các đơn vị trong Binh đoàn thuộc địa của Pháp tại Đông Dương từ trước 1945, khi chuyển sang phục vụ trong Quân đội Quốc gia Việt Nam được đương nhiên thăng lên một cấp bậc cao hơn cũ. Thiếu Tá Thụ cho người trịnh trọng đọc Sắc lệnh do Quốc Trưởng Bảo Đại kư, thăng cấp Thiếu Úy cho chúng tôi kể từ ngày 1 tháng 6 năm 1949, rồi ông đích thân gắn cấp hiệu mới (một vạch vàng như của quân đội Pháp) lên cầu vai áo cho chúng tôi. Sau tiệc rượu champagne khao lon rất đơn giản nhưng ấm cúng thích thú được tố chức ngay trong văn pḥng Tiểu đoàn trưởng, mỗi người chúng tôi nhận một Sự vụ lệnh đi đáo nhậm đơn vị mới của ḿnh. Thiếu Úy Bùi Đ́nh Đạm về ĐĐ1, Thiếu Úy Đàm Quang Yêu về ĐĐ3, các Thiếu Úy Trần Thượng Phương và Lê văn Nhật về ĐĐ Chỉ huy, cả 3 Đại đội này đều đồn trú ngay trong doanh trại Tiểu đoàn. C̣n Thiếu Úy Nguyễn Khắc Thăng và Tôi (Thiếu Úy Nguyễn-Huy Hùng) về ĐĐ2 đang đồn trú tại Trại Lạch Tray (trại lính Khố Xanh của Pháp cũ) trong thành phố cảng Hải Pḥng, do Đại Úy Nguyễn văn Vĩnh (cũng thuộc gốc Binh đoàn thuộc địa Pháp trước 1945) chỉ huy. Do đó, ngày hôm sau, anh Thăng và Tôi phải đáp xe hoả rời Hà Nội xuống Hải Pḥng đáo nhậm đơn vị. Đến đầu tháng 10-1949, anh Nguyễn Khắc Thăng được lệnh tŕnh diện Bộ Quốc Pḥng tại Saigon để làm thủ tục xuất ngoại du học bổ túc chuyên nghiệp sĩ quan tại Pháp. Thế là Đại đội chỉ c̣n 2 Sĩ quan, Đại Úy Vĩnh Đại đội trưởng và Tôi Trung đội trưởng Súng Nặng kiêm Đại đội phó. Sau khi tới Pháp, anh Thăng biên thơ về thông báo cho Tôi biết là anh đang theo học Khoá Bổ túc Thực hành Bộ Binh (École d’Application de l’Infantery) cùng với các Thiếu Úy Pháp tốt nghiệp Trường Vơ bị Saint Cyr, và khoảng hơn mười bạn cùng tốt nghiệp Khoá 1 của chúng tôi là: các Thiếu Úy Nguyễn văn Thiệu (sau này là Tổng Thống nền Đệ Nhị Cộng hoà tại miền Nam Việt Nam), Đặng văn Quang, Nguyễn Hữu Có, Trần văn Trung, Nguyễn văn Chuân, Tôn Thất Xứng, Tôn Thất Đính (về sau các anh này cũng đă được thăng lên cấp Tướng) cùng mấy người khác nữa, lâu ngày quá tôi quên mất tên. Vào năm 1953, anh Nguyễn Khắc Thăng bị thương cụt một chân tại miền Bắc, được du học Pháp lần thứ 2, và sau khi tốt nghiệp Khóa Chỉ huy Tham mưu (École Supérieure de Guerre) tại Paris về, anh Thăng được bổ nhiệm làm Huấn luyện viên tại Trường Vơ bị Liên quân Đà Lạt, ít lâu sau qua đời v́ tai nạn xe hơi. Sau mấy tháng tổ chức huấn luyện đơn vị hoàn tất, Đại đội 2 của chúng tôi nhận được lệnh rời Hải Pḥng di chuyển về Hà Nội vào ngày 18-10-1949 để nhập cùng Tiểu đoàn khởi sự đi hành quân liên tiếp tại các vùng Phù Lưu Đ́nh Bảng, Hoà B́nh, Đông Triều Phả Lại, Kẻ Sặt Hải dương, Hưng Yên, Thái B́nh, Vân Đ́nh Sơn Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Yên… (Tôi không bao giờ quên cái ngày 18 tháng 10 năm 1949 này, v́ là ngày tổ chức đám cưới của Vợ Chồng tôi. Nhưng Tôi không được Đại Úy Nguyễn văn Vĩnh cho nghỉ phép để tham dự, mà lại nhận được lệnh viết phải thay mặt Đại đội trưởng chỉ huy Đại đội di chuyển bằng Tầu hoả rời Hải Pḥng lên Hà Nội. C̣n Đại Úy Vĩnh Đại đội trưởng th́ đă dùng xe hơi cỡ nhỏ hiệu Traction Légère cơ hữu dành cho Đại đội trưởng để cùng người vợ kế c̣n rất trẻ, với 1 Trung đội tháp tùng hộ tống đi đường bộ lên Hà Nội từ ngày hôm trước.) Sau kỳ hành quân tại Phù Lưu Đ́nh Bảng về dưỡng quân tại Hà Nội, một tin thật là buồn đă đến với Tiểu đoàn, Đại Úy Nguyễn văn Vĩnh Đại đội trưởng của Tôi bị chết “bất đắc kỳ tử v́ Thượng mă phong”. Các Sĩ quan trong Tiểu đoàn phải thay phiên nhau từng cặp đứng hầu canh quan tài suốt ngày đêm cho đến khi đem đi mai táng. Trung Úy Vương văn Chừ (cũng thuộc gốc Binh đoàn thuộc địa của Pháp trước 1945) được đưa về chám chỗ làm Đại đội trưởng, và Đại đội cũng được tăng cường thêm Thiếu Úy Nguyễn Bá Liêm (cùng Khoá 1 với Tôi) từ bên Vệ Binh Bắc Kỳ chuyển sang. Sau này anh Liêm đă hy sinh v́ thương tích trong trận Việt Cộng phục kích tấn công đơn vị mở đường từ thị xă Thái B́nh đến Bến đ̣ Tân Đệ (nơi Tôi đang đóng quân) vào sáng ngày 1 tháng 5 năm 1950 (ngày kỷ niệm Quốc tế Lao động). Đến đầu tháng 10-1950, khi Tiểu đoàn đang đóng quân tại vùng Bắc Ninh-Vĩnh Yên, th́ Thiếu Úy Bùi Đ́nh Đạm và Tôi được Bộ Quốc Pḥng tại Saigon gọi tŕnh diện làm thủ tục du học bổ túc chuyên nghiệp sĩ quan tại Pháp. Cùng xuất ngoại kỳ này với chúng tôi có mấy bạn cùng Khoá 1 là Thiếu Úy Trần Ngọc Thức (miền Nam, sau này có thời gian làm Chỉ huy trưởng Binh chủng Công Binh), Thiếu Úy Nguyễn Khương (người Trung, sau này có thời gian làm Chỉ huy trưởng Viễn Thông của Binh chủng Truyền Tin). Anh Thức học Sĩ quan Công Binh tại Angier, anh Đạm (vào thời Đệ Nhất Cộng Hoà đă được chỉ định làm Tư Lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh tại Mỹ Tho, và sau cuộc đảo chính lật đổ Tổng Thống Diệm ngày 1-11-1963 đă được Hội đồng Tướng lănh đảo chính thăng lên cấp Tướng) học Sĩ quan Pháo Binh tại Idar thuộc Pháp ở bên Đức. Nhưng v́ vùng Idar lạnh quá chịu không nổi, nên anh Đạm đă xin chuyển trường về học khoá Sĩ quan Hành Chánh Quân Nhu tại Mont Pellier. C̣n anh Khương và Tôi theo học Sĩ quan Truyền Tin ở Trường Truyền Tin (École d’Application des Transmissions) tại Montargis, cách Thủ đô ánh sáng Paris khoảng hơn 1 giờ xe hoả về hướng Nam. Chúng tôi học chung với các Thiếu Úy Pháp vừa tốt nghiệp Khoá Général Frère tại Trường Vơ bị Saint Cyr ra. Theo quy chế quân đội Pháp, các Thiếu Úy vừa tốt nghiệp Trường Vơ bị Saint Cyr ra đều phải theo học tiếp một khoá bổ túc chuyên nghiệp các Ngành Bộ binh, Truyền Tin, Công binh, Pháo binh, Thiết giáp, Hành Chánh, Quân nhu, Quân Cụ, Quân vận, Nhẩy Dù,… (École d’Application de l’Infantery, d’Application des Transmissions, d’Application du Génie,…) trước khi được chính thức bổ nhiệm vào các đơn vị trong quân đội để phục vụ. Trong thời gian du học tại Pháp, Tôi có rất nhiều dịp về nghỉ cuối tuần tại Paris để giải trí vui hưởng những ǵ thị vị nhất của đại chúng xă hội Pháp tại thủ đô Ánh Sáng, và đi thăm tất cả các danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Thủ đô Ánh sáng này. Trong các dịp Lễ Phục Sinh, Giáng sinh và đầu năm Dương lịch nghỉ dài ngày, Tôi đi thăm anh Thức tại Trường Công Binh Angier, đi thăm các Trung Úy Lâm văn Phát, Thiếu Úy Vĩnh Lộc tại Trường Thiết Giáp Saumur, thăm Đại Úy Joly (nguyên là Giám đốc Huấn luyện Trường chúng tôi tại Huế) đang làm Huấn luyện viên Quân sử tại Trường Vơ bị Saint Cyr, Coetquidam ở trong vùng Bretagne miền Tây nước Pháp, thăm Camp Sisconne Trung tâm đào tạo Nhẩy Dù của quân đội Pháp lúc đó đang tổ chức trang bị tập dượt cho Tiểu đoàn Nhẩy Dù sẽ đưa sang tham chiến tại Triều Tiên, thăm các chiến địa và các Nghiă trang Đồng Minh tử trận trong Thế Giới Đại chiến 2 tại vùng Côtes du Nord bên bờ biển Manche giữa Pháp và Anh quốc, thăm Mont Saint Michel nơi giam giữ các tù tử tội thời Trung Cổ của Pháp, thăm Trận địa Chiến lũy Verdun thởi Đệ Nhất Thế chiến và Chiến lũy Margino thời Đệ Nhị Thế Chiến tại vùng Alzace Loraine miền Đông nước Pháp chống quân Đức xâm lăng, thăm thành phố Cannes nơi có lâu đài của Hoàng đế Bảo Đại, thăm lâu đài Tiểu vương quốc Monaco bên bờ biển Méditerrannée, đặc biệt Tiểu vương quốc này là nơi có cơ sở cờ bạc nổi danh Thế giới dành riêng cho các Vua Chúa và giai cấp thượng lưu tỷ phú… đến giải trí. Ngày 1 tháng 6 năm 1951, Tôi được Nhà Trường chuyển đạt cho Sắc lệnh của Chính phủ Quốc gia Việt Nam thăng cấp Trung Úy cho Tôi, đúng theo Quy Chế dành cho sĩ quan Hiện dịch tốt nghiệp Trường Vơ bị Quốc gia quy định là đúng 2 năm sau ngày tốt nghiệp, các Thiếu Úy chưa được đặc cách thăng cấp theo đề nghị của đơn vị trưởng, sẽ được đương nhiên thăng cấp Trung Úy không cần dựa theo đề nghị của ai. Đến cuối tháng măn khoá học hồi hương về Saigon vào đầu tháng 7, Tôi được Trung Tá Nguyễn văn Vận (sau này là Thiếu Tướng Tư lệnh Quân Khu 3 tại Hà Nội) Đổng lư Văn Pḥng tŕnh Thủ Tướng Chính phủ Trần văn Hữu kiêm Bộ trưởng Quốc pḥng kư lệnh bổ nhiệm vào Nha Đổng Lư Văn Pḥng Bộ Quốc Pḥng, để thành lập Ban Mật Mă hoạt động liên lạc bảo vệ cơ mật các điện văn trao đổi với Vơ pḥng Quốc Trưởng Bảo Đại, các Bộ Tham Mưu Miền, và các Tiều đoàn Việt Nam trên toàn quốc. Mốc thời gian đầu tháng 7 năm 1951 này được coi là mốc thời gian kỷ niệm trùng hợp thích thú nhất đối với Tôi. Vào đầu tháng 7 năm 1947 tức là 4 năm về trước, Tôi t́nh nguyện gia nhập Vệ binh Bắc Kỳ chỉ với mục đích sống đời lính tạm thời cho qua cơn biến loạn nhiễu nhương của xă hội lúc bấy giờ, nhưng không ngờ thời thế đă chuyển xoay biến đổi cuộc đời của Tôi thành hoàn toàn khác hẳn. Thế mới biết lời các Cụ xưa dạy “Mưu sự tại Nhân, thành sự tại Thiên” quả thật là đúng không sai. Và cũng kể từ đầu tháng 7 năm 1951, đoạn đường Binh nghiệp kế theo của Tôi được ghi chép bằng những trang Hồi kư rất thân thương “DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN”, “HƯỚNG ĐẠO QUÂN ĐỘI”, “HỒI ỨC TÙ CẢI TẠO VIỆT NAM”, và “NGÀY QUÂN LỰC VIỆT NAM CÔNG HOÀ 19 THÁNG 6”. Tất cả đều được lưu trữ trong trang Home page: http://www.geocities.com/colonelnguyenhuyhung/hp.html hoặc địa chỉ rút gọn là :
Hemet ngày 5 tháng 7 năm 2007, Nam California, Hoa Kỳ KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG (K1 Trường Vơ bị Quốc gia VN)
|